Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính 03.2012.TTLT.VKSNDTC.TANDTC.doc

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO -
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
03/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2012
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính
về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính
Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Luật tố tụng hành chính về
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, bảo đảm tốt mối quan
hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn thi hành một
số điểm như sau:
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố
tụng hành chính (sau đây viết tắt là Luật TTHC) về thủ tục tiến hành một số
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính.
Điều 2. Chuyển hồ sơ vụ án hành chính
1. Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát
tham gia phiên toà, phiên họp theo quy định của Luật TTHC, trừ trường hợp
Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm. Việc chuyển hồ sơ vụ án được thực hiện như sau:
a) Toà án cấp sơ thẩm gửi hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét
xử cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra
xét xử. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm
sát phải trả lại hồ sơ cho Toà án theo quy định tại Điều 124 Luật TTHC để mở
phiên toà theo quy định tại khoản 3 Điều 117 Luật TTHC.
b) Toà án cấp phúc thẩm gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay
sau khi Toà án thụ lý vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ
vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Toà án theo quy định tại Điều 200
Luật TTHC để mở phiên toà theo quy định tại khoản 3 Điều 191 Luật TTHC.
c) Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Toà án có
thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm gửi hồ sơ vụ án cùng với quyết định kháng
nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Chánh án Tòa án ra quyết định
kháng nghị. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
theo quy định tại khoản 2 Điều 216 và Điều 238 Luật TTHCđể mở phiên toà
theo quy định tại Điều 221 hoặc Điều 238 Luật TTHC.
d) Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp xét kháng cáo quá hạn,
xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí và phiên họp phúc thẩm đối với quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Toà án
cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm gửi đơn kháng
cáo quá hạn, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá
hạn (nếu có) hoặc hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp sau khi Tòa án nhận
được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu kèm theo hoặc sau khi Toà án thụ lý để
giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ, tài
liệu, chứng cứ cho Toà án để mở phiên họp theo quy định tại Điều 178 hoặc
Điều 207 Luật TTHC.
2. Việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm được thực hiện như sau:
Sau khi nhận được bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật mà Viện kiểm sát xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem
xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu
Toà án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát, Toà án chuyển hồ sơ
vụ án cho Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu.
Chậm nhất là ngay sau khi hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm quy định tại
Điều 183 Luật TTHC, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án đã xét
xử sơ thẩm.
3. Khi Tòa án,Viện kiểm sát xét thấy cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ án
để báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm thì việc chuyển hồ sơ vụ án được thực hiện như sau:
a) Toà án cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh có văn bản yêu cầu Toà án cấp
huyện đã ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật chuyển hồ sơ vụ án đó cho
Toà án cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có văn bản yêu cầu Toà án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ
án đó cho Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu
chuyển hồ sơ, Toà án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án, Viện
kiểm sát có văn bản yêu cầu.
b) Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị
tái thẩm thì Viện kiểm sát chuyển ngay hồ sơ vụ án cùng với quyết định kháng
nghị cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại
khoản 3 Điều 216 hoặc Điều 238 Luật TTHC để mở phiên toà theo quy định tại
Điều 221 hoặc Điều 238 Luật TTHC; đồng thời thông báo cho Tòa án đã chuyển
hồ sơ cho Viện kiểm sát biết.
4. Trường hợp Toà án, Viện kiểm sát cùng có yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án
để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì việc chuyển
hồ sơđược thực hiện như sau:
a) Trường hợp cùng nhận được văn bản yêu cầu của Tòa án và Viện kiểm
sát hoặc trường hợp đã nhận được văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát trước
nhưng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, hồ sơ
chưa được chuyển cho Viện kiểm sát mà lại nhận được yêu cầu của Tòa án thì
Toà án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ cho Tòa án có yêu cầu và thông báo
bằng văn bản cho Viện kiểm sát có yêu cầu biết.
b) Trường hợp Tòa án hoặc Viện kiểm sát là cơ quan nhận hồ sơ trước thì
trong thời hạn 03 tháng (đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì
thời hạn không quá 06 tháng) kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, nếu Tòa án,
Viện kiểm sát không kháng nghị thì việc chuyển hồ sơ được thực hiện như sau:
b.1) Trường hợp Tòa án là cơ quan nhận hồ sơ trước nhưng trong thời hạn
được hướng dẫn tại điểm b khoản này mà Tòa án không kháng nghị, nếu Viện
kiểm sát vẫn tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện
kiểm sát đã có yêu cầu và thông báo ngay cho Tòa án đã chuyển hồ sơ cho mình
biết; nếu Viện kiểm sát đã có yêu cầu không tiếp tục yêu cầu chuyển hồ sơ thì
Tòa án trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
Trong thời hạn được hướng dẫn tại điểm b khoản này mà Viện kiểm sát có
yêu cầu đã nhận được hồ sơ không kháng nghị thì Viện kiểm sát chuyển hồ sơ
vụ án cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
b.2) Trường hợp Viện kiểm sát là cơ quan nhận hồ sơ trước nhưng trong
thời hạn được hướng dẫn tại điểm b khoản này mà Viện kiểm sát không kháng
nghị, nếu Toà án vẫn tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển
hồ sơ cho Tòa án đã có yêu cầu và thông báo ngay cho Tòa án đã chuyển hồ sơ
cho mình biết; nếu Tòa án đã có yêu cầu không tiếp tục yêu cầu chuyển hồ sơ thì
Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
Trong thời hạn được hướng dẫn tại điểm b khoản này mà Tòa án có yêu
cầu đã nhận được hồ sơ không kháng nghị thì Tòa án chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
c) Trường hợp thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
còn lại không quá 06 tháng hoặc trường hợp người có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã ra quyết định hoãn thi hành bản án,
quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật hoặc có yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự hoãn thi hành án đối với phần dân sự trong bản án, quyết định của Toà án
về vụ án hành chính hoặc trường hợp để phục vụ hoạt động giám sát của cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền thì Tòa án và Viện kiểm sát phối hợp trong
việc chuyển hồ sơ vụ án để bảo đảm việc xem xét, giải quyết.
5. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp nếu hồ sơ vụ án đã được chuyển cho
Viện kiểm sát mà có chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Tòa
án hoặc do Tòa án thu thập bổ sung thì Tòa án chuyển cho Viện kiểm sát bản
sao chứng cứ đó.Việc chuyển bản sao chứng cứ cho Viện kiểm sát trong trường
hợp này phải bảo đảm thời gian để Viện kiểm sát nghiên cứu, tham gia phiên
tòa, phiên họp.
6. Việc chuyển hồ sơ vụ án có thể được thực hiện theo cách thức chuyển
bằng đường bưu chính hoặc chuyển trực tiếp.
Tất cả tài liệu có trong hồ sơ vụ án (bao gồm tài liệu cũ và tài liệu mới bổ
sung, nếu có) đều phải được đánh số thứ tự và có bản kê danh mục các tài liệu.
Trước khi chuyển hồ sơ vụ án từ Toà án sang Viện kiểm sát hoặc ngược lại, cơ
quan chuyển hồ sơ phải kiểm tra đầy đủ tài liệu trong hồ sơ vụ án đó.
Trường hợp gửi hồ sơ theo đường bưu chính thì người trực tiếp nhận hồ sơ
đầu tiên của Viện kiểm sát hoặc Toà án phải kiểm tra niêm phong; nếu niêm
phong không còn nguyên vẹn thì phải lập biên bản ngay xác nhận tình trạng hồ
sơ, có xác nhận của nhân viên bưu chính và báo cáo lãnh đạo đơn vị trực tiếp
phụ trách, đồng thời thông báo ngay cho cơ quan gửi hồ sơ để phối hợp giải
quyết. Trường hợp niêm phong còn nguyên vẹn, nhưng qua kiểm tra phát hiện
tài liệu có trong hồ sơ bị thiếu so với bản kê danh mục các tài liệu thì phải báo
cáo lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách để lập biên bản ngay và thông báo cho cơ
quan chuyển hồ sơ biết để phối hợp giải quyết. Ngày nhận hồ sơ là ngày cơ quan
nhận hồ sơ tiếp nhận hồ sơ tại trụ sở của mình.
Trường hợp hồ sơ vụ án được chuyển trực tiếp thì thủ tục giao nhận hồ sơ
do Tòa án chuyển cho Viện kiểm sát được thực hiện tại trụ sở Viện kiểm sát; thủ
tục giao nhận hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển trả cho Tòa án được thực hiện tại
trụ sở Tòa án. Người nhận hồ sơ vụ án phải đối chiếu bản kê danh mục tài liệu
với tài liệu đã được đánh số thứ tự trong hồ sơ. Việc giao nhận phải được lập
biên bản, ghi rõ thời gian, địa điểm giao nhận hồ sơ, tình trạng hồ sơ,có chữ ký
và họ tên của những người tiến hành giao nhận hồ sơ.
Điều 3. Thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp; thông
báo thay đổi việc phân công Kiểm sát viên
1. Việc thông báo Kiểm sát viên tham gia phiên toà, phiên họp được thực
hiện như sau:
a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông
báo của Tòa án cấp sơ thẩm về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 114 Luật
TTHC, Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trường hợp vụ án phức tạp, phiên toà có thể phải kéo dài nhiều ngày và xét thấy
cần thiết thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thể phân công Kiểm sát viên dự
khuyết. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày phân công Kiểm sát
viên,Viện kiểm sát phải gửi cho Tòa án văn bản phân công Kiểm sát viên, Kiểm
sát viên dự khuyết (nếu có) tham gia phiên toà. Văn bản phân công Kiểm sát
viên phải nêu rõ họ tên của Kiểm sát viên và Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)
được Viện trưởng phân công tham gia phiên toà.
b) Sau khi Viện kiểm sát cùng cấp nhận được thông báo của Toà án cấp sơ
thẩm về việc đã chuyển hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm
theo cho Toà án cấp phúc thẩm theo khoản 1 Điều 180 Luật TTHC, Viện kiểm
sát phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp việc Toà án đã chuyển hồ
sơ cho Toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ do Tòa án cấp phúc thẩm chuyển đến, Viện kiểm sát phải gửi cho
Tòa án văn bản phân công Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)
tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm. Văn bản phân công Kiểm sát viên phải
nêu rõ họ tên của Kiểm sát viên và Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có) được Viện
trưởng phân công tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm.
2. Thông báo thay đổi việc phân côngKiểm sát viên tham gia phiên toà,
phiên họp được thực hiện như sau:
a) Sau khi thông báo cho Toà án biết việc phân công Kiểm sát viên, Kiểm
sát viên dự khuyết (nếu có) tham gia phiên toà, phiên họp, nếu thay đổi việc
phân công Kiểm sát viên đó thì Viện kiểm sát gửi cho Tòa án văn bản thông báo
về việc phân công Kiểm sát viên khác thay thế. Trong văn bản thông báo ghi
đầy đủ họ tên của Kiểm sát viên thay thế.
b) Trước khi mở phiên toà, phiên họp, nếu Toà án nhận được đơn yêu cầu
thay đổi Kiểm sát viên thì Toà án chuyển ngay đơn yêu cầu đó cho Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 1
Điều 46 Luật TTHC. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, Viện kiểm sát phải thông báo cho Toà án
biết việc thay đổi hay không thay đổi Kiểm sát viên. Trường hợp thay đổi Kiểm
sát viên thì việc thông báo được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2
Điều này. Trường hợp không thay đổi Kiểm sát viên thì Viện kiểm sát thông báo
bằng văn bản, nêu rõ lý do không thay đổi.
Trường hợp Viện kiểm sát nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên
trước khi mở phiên toà, phiên họp nhưng tính đến ngày mở phiên toà, phiên họp
theo ấn định của Toà án, thời gian còn lại không quá 07 ngày làm việc mà Viện
kiểm sát chưa phân công được Kiểm sát viên khác thay thế thì Viện kiểm sát
thông báo cho Toà án. Việc thay đổi và thông báo về việc thay đổi Kiểm sát viên
được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều này.
c) Nếu tại phiên toà, phiên họp Hội đồng xét xử ra quyết định thay đổi
Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Luật TTHC thì Toà án gửi
ngay quyết định thay đổi Kiểm sát viên cùng với quyết định hoãn phiên tòa,
phiên họp cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định tại
khoản 2 Điều 46 Luật TTHC.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày hoãn phiên tòa, phiên họp,
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định phân công Kiểm sát viên
khác thay thế và thông báo cho Toà án biết. Việc thông báo được thực hiện theo
hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều này.
Điều 4. Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Viện kiểm sát xét thấy cần xác
minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án có căn cứ
và đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu
thập chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 78 Luật TTHC. Toà án thực hiện
các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 78
Luật TTHC.
2. Trước khi mở phiên tòa, Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác
minh, thu thập chứng cứ đến Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Văn
bản yêu cầu phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh,
thu thập chứng cứ đó. Tòa án gửi cho Viện kiểm sát bản sao tài liệu, chứng cứ
mà Tòa án thu thập được trước khi mở phiên tòa. Nếu tại phiên tòa, Tòa án mới
nhận được tài liệu, chứng cứ đó thì Tòa án công bố tài liệu, chứng cứ theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 153 Luật TTHC.
Trường hợp việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm
sát là không thể thực hiện được hoặc Toà án xét thấy không cần thiết thì chậm
nhất là đến ngày hết thời hạn mở phiên tòa sơ thẩm theo quyết định đưa vụ án ra
xét xử đượcquy định tại khoản 3 Điều 117 Luật TTHC, hết thời hạn mở phiên
tòa phúc thẩm theo quyết định đưa vụ án ra xét xử được quy định tại khoản 3
Điều 191 Luật TTHC, Tòa án thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết.
Văn bản thông báo nêu rõ lý do không thể thực hiện được việc xác minh, thu
thập chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc lý do Tòa án xét thấy không
cần thiết.
3. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ
phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập
chứng cứ đó. Nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên
thì Kiểm sát viên tiếp tục tham gia phiên tòa. Trường hợp Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên thì phải hoãn phiên
toà, trừ các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và h khoản 4 Điều 78
Luật TTHC mà các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cung cấp được
chứng cứ tại phiên toà và việc xem xét, thẩm định tại chỗ có thể tiến hành được.
Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên tại phiên tòa và
việc Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát
viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
4. Trường hợp đã hoãn phiên toà, nhưng việc xác minh, thu thập chứng cứ
theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được hoặc Hội đồng xét
xử xét thấy không cần thiết thì Hội đồng xét xử thông báo cho Kiểm sát viên
bằng văn bản trước ngày Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Thông báo nêu rõ lý do
không thể thực hiện được việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của
Kiểm sát viên hoặc lý do Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết.
Điều 5. Viện kiểm sát tiến hành thu thập chứng cứ
1. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức
cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 3 Điều 78 Luật
TTHC trong các trường hợp sau:
a) Viện kiểm sát thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm thực hiện
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm;
b) Sau khi đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm,
Viện kiểm sát có quyền thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo vệ quan điểm
kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm.
2. Viện kiểm sát yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ
cung cấp cho mình hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 87
Luật TTHC. Yêu cầu phải bằng văn bản, nêu rõ hồ sơ, tài liệu, vật chứng cần
cung cấp.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ,
kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ
theo yêu cầu của Viện kiểm sát thì phải gửi cho Viện kiểm sát văn bản nêu rõ lý
do.
3. Chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện
kiểm sát theo yêu cầu của Viện kiểm sát được chuyển cho Toà án để đưa vào hồ
sơ vụ án và được bảo quản tại Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật
TTHC. Thủ tục giao nhận chứng cứ được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 5
Điều 2 của Thông tư liên tịch này.
Điều 6. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung biên bản phiên tòa, phiên họp
Sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên có quyền kiểm tra biên
bản phiên tòa, phiên họp. Nếu thấy cần thiết, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu
ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản. Yêu cầu của Kiểm sát viên được thực
hiện ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận vào những nội dung sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 4 Điều 140 Luật TTHC.
Chương II
THỦ TỤC GỬI VĂN BẢN TỐ TỤNG GIỮA TÒA ÁN
VÀ VIỆN KIỂM SÁT
Điều 7. Gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu
nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Việc gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát cùng cấp theo
quy định tại khoản 2 Điều 109 Luật TTHC phải được thực hiện theo từng vụ án.
2. Trường hợp có khiếu nại của đương sự hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát
về việc trả lại đơn khởi kiện thì quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của
Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 110 Luật
TTHC được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp; Quyết định giải quyết khiếu
nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quy định tại khoản 3 Điều
110 Luật TTHC được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã
kiến nghị.
Điều 8. Gửi quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc chuyển
hồ sơ vụ án
Trường hợp có khiếu nại của đương sự hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát
đối với quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền quy định tại
khoản 1 Điều 32 Luật TTHC thì quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của
Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án được gửi ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp.
Điều 9. Gửi văn bản thông báo về việc không ra quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Văn bản thông báo của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 3, khoản 4
Điều 67 và Điều 68 Luật TTHC được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 10. Gửi văn bản thông báo về việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung,
rút kháng cáo của đương sự
1. Tòa án cấp sơ thẩm gửi ngay văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp về việc kháng cáo của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 180 Luật
TTHC. Việc gửi văn bản thông báo về việc kháng cáo cho Viện kiểm sát cùng
cấp phải được thực hiện theo từng vụ án. Trường hợp trong một vụ án có nhiều
đương sự kháng cáo thì Tòa án có thể thông báo trong một văn bản về việc
kháng cáo của các đương sự trong vụ án đó.
2. Trước khi mở phiên tòa mà đương sự thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo thì
Tòa án cấp phúc thẩm gửi ngay văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp
về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự theo quy định tại khoản 3
Điều 188 Luật TTHC. Trường hợp trong một vụ án có nhiều đương sự thay đổi,
bổ sung, rút kháng cáo thì Tòa án có thể thông báo trong một văn bản về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của các đương sự trong vụ án đó.
Điều 11. Gửi văn bản thông báo, quyết định về việc xem xét kháng cáo
quá hạn
1. Tòa án cấp phúc thẩm gửi văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp
về thời gian mở phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn quy định tại khoản 2 Điều
178 Luật TTHC. Trường hợp hoãn phiên họp thì thông báo thời gian mở lại
phiên họp sau khi hoãn.
2. Viện kiểm sát gửi ngay cho Tòa án cấp phúc thẩm văn bản thông báo
việc phân công Kiểm sát viên tham gia phiên họp, văn bản thông báo thay đổi
việc phân công Kiểm sát viên (nếu có). Nội dung văn bản thông báo thực hiện
theo hướng dẫn tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch này.
3. Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp quyết định chấp
nhận kháng cáo quá hạn, quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn quy
định tại khoản 2 Điều 178 Luật TTHC trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định.
Điều 12. Gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm,quyết định
tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm
sát cùng cấp ngay sau khi Tòa án ra quyết định.
2. Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát
đã giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm vụ án hành chính quy định tại khoản 1 Điều 191 Luật TTHC
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Điều 13. Gửi văn bản thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm, văn bản thông báo về thời gian mở phiên tòa giám đốc
thẩm, tái thẩm
1. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm gửi ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp văn bản thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm của Chánh án Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 217, Điều 238 Luật
TTHC.
Văn bản thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
của Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 Điều 217, Điều 238 Luật
TTHC được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm gửi văn bản thông báo
cho Viện kiểm sát về thời gian mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm; trường
hợp hoãn phiên tòa thì thông báo thời gian mở lại phiên tòa giám đốc thẩm, tái
thẩm sau khi hoãn.
Chương III
VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA PHIÊN TÒA, PHIÊN HỌP
Điều 14. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
1.Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp
xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về những vấn đề sau:
a) Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án;
b) Phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia
tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án, không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án.
2.Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký
của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phải được gửi cho Toà án trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên toà để lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều 15. Viện kiểm sát tham gia phiên họp xét kháng cáo quá hạn
1. Kiểm sát viên được phân công có nhiệm vụ tham gia phiên họp xét
kháng cáo quá hạn. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét kháng
cáo quá hạn phải hoãn phiên họp.
2. Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật
tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm kể từ khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét kháng cáo quá hạn ra quyết định; phát
biểu quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn,
phân tích làm rõ quan điểm của Viện kiểm sát.
Điều 16. Trình bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên
họp phúc thẩm
1. Trường hợp chỉ có kháng nghị của Viện kiểm sát thì việc trình bày, phát
biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp được thực hiện như sau:
a) Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng
nghị; có quyền xuất trình bổ sung hồ sơ, tài liệu, vật chứng; phân tích để làm rõ
quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm;
c) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án,
quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị.
2. Trường hợp chỉ có kháng cáo của đương sự thì việc phát biểu của Kiểm
sát viên tại phiên tòa, phiên họp được thực hiện như sau:
a) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng
cáo;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về các nội dung hướng dẫn tại điểm b
khoản 1 Điều này;
c) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án,
quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.
3. Trường hợp vừa có kháng cáo của đương sự, vừa có kháng nghị của
Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến theo trình tự sau:
a) Phát biểu về kháng cáo của đương sự theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2
Điều này;
b) Trình bày kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng dẫn tại điểm a
khoản 1 Điều này;
c) Phát biểu ý kiến về các nội dung hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều
này;
d) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án,
quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị.
4. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ
ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp vàphải được gửi cho Toà án
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên toà, phiên họp để lưu
vào hồ sơ vụ án.
Điều 17. Trình bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa giám đốc
thẩm, tái thẩm
1. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị thì việc trình bày,
phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa được thực hiện như sau:
a) Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng
nghị; có quyền xuất trình bổ sung hồ sơ, tài liệu, vật chứng; phân tích để làm rõ
quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật hoặc những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
b) Phát biểu quan điểmcủa Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị thì việc trình bày, phát biểu
của Kiểm sát viên tại phiên tòa được thực hiện như sau:
a) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng
nghị, nêu rõ lý do nhất trí hoặc không nhất trí với quan điểm kháng nghị của
Chánh án Tòa án;
b) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát theo hướng dẫn tại điểm b khoản
1 Điều này.
3. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ
ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phải được gửi cho Toà án trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên toà để lưu vào hồ sơ vụ án.
Chương IV
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 18. Quyền yêu cầu của Viện kiểm sát đối với Toà án
1. Viện kiểm sát yêu cầu Toà án cùng cấp và Toà án cấp dưới ra văn bản
giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XVII Luật TTHC khi
thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo về việc Toà án, người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong thời hạn quy định;
b) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc Toà án, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời
hạn quy định.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Viện
kiểm sát theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, Tòa án được
yêu cầu phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát
đã yêu cầu biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm thời gian thì Toà án
phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và trả lời cho Viện kiểm
sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Viện kiểm sát yêu cầu Toà án cùng cấp kiểm tra việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của Toà án cấp mình và Toà án cấp dưới khi thuộc một trong những
trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
b) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo về việc Toà án, người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong khi giải quyết;
c) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc Toà án, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong khi giải quyết.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát
theo hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này, Tòa án được yêu cầu
phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát đã yêu
cầu biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm thời gian thì Toà án phải có
văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và trả lời cho Viện kiểm sát
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Điều 19. Quyền kiến nghị của Viện kiểm sát đối với Toà án
1. Trường hợp có căn cứ xác định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà
án, người có thẩm quyền không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với
Toà án cùng cấp và Toà án cấp dưới khắc phục vi phạm pháp luật.
2. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu theo hướng dẫn tại Điều 18 của
Thông tư liên tịch này hoặc có kiến nghị theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này
mà Toà án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của
Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Toà án cấp trên.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị theo hướng dẫn
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án phải xem xét và trả lời bằng văn bản
cho Viện kiểm sát đã kiến nghị biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm
thời gian thì Tòa án có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và trả lời
cho Viện kiểm sát trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 20. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 9 năm
2012.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét