Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014
Trừ số thập phân
Trường tiểu học a xuân hồng
Toán 5
Người trình bày: Bùi Thị Hồng Ninh
Bài: Trừ hai số thập phân
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
*Đặt tính rồi tính:
19,36 + 4,8 372 - 138
Kiểm tra bài cũ:
19,36
4,8
+
372
138
-
234
6
4
2
,
1
6
,
,
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
a)Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m, trong đó đoạn thẳng
AB dài 1,84m. Hỏi đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
=? (m)
4,29 m = 429cm
429
184
-
245(cm)
4,29 1,84 -
1,84m =184cm
245cm = 2,45m
4,29 - 1,84 = 2,45(m)
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
a)Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m, trong đó đoạn thẳng
AB dài 1,84m. Hỏi đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
=? (m)4,29 1,84 -4,29 1,84
-
Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên .
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy
của số bị trừ và số trừ .
Viết số 4,29 rồi viết số 1,84 dưới số 4,29 sao cho
các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau .
,
,
542
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
a)Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m, trong đó đoạn thẳng
AB dài 1,84m. Hỏi đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
=? (m)4,29 1,84 -
429
184
245
-
4,29
1,84
,
-
2,45
,
,
Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên .
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy
của số bị trừ và số trừ .
Viết số 4,29 rồi viết số 1,84 dưới số 4,29 sao cho
các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau .
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
b)Ví dụ 2: =? 45,8
19,26
-
45,8
19,26
26,54
-
Coi 45,8 là 45,80 rồi trừ như trừ các số tự nhiên
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy
của số bị trừ và số trừ .
0
45,8
19,26
-
26,54
a)Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC dài 4,29m, trong đó đoạn thẳng AB dài
1,84m. Hỏi đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét?
=? (m)4,29
1,84
-
4,29
1,84
-
2,45
Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên .
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị
trừ và số trừ .
Viết số 4,29 rồi viết số 1,84 dưới số 4,29 sao cho các chữ số
cùng hàng thẳng cột với nhau .
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
a)Ví dụ 1:
=? (m)4,29 1,84 -
4,29
1,84
2,45
-
Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên .
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ .
Viết số 4,29 rồi viết số 1,84 dưới số 4,29 sao cho các chữ số cùng hàng thẳng cột
với nhau .
b)Ví dụ 2: =?
45,8
19,26
-
45,8
19,26
26,54
-
Coi 45,8 là 45,80 rồi trừ như trừ các số tự nhiên
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ
.
Muốn trừ một số thập phân cho một số thập phân ta làm như sau:
-
Viết số trừ dưới số bị trừ sao cho các chữ số ở cùng một hàng đặt thẳng cột với nhau.
-
Trừ như trừ các số tự nhiên.
-
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ .
Chú ý: Nếu số chữ số ở phần thập phân của số bị trừ ít hơn số chữ số ở phần thập
phân của số trừ, thì ta có thể viết thêm một số thích hợp chữ số 0 vào bên phải phần
thập phân của số bị trừ, rồi trừ như trừ các số tự nhiên.
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
Luyện tập
Bài 1: Tính
a) 68,4
25,7
b) 46,8
9,34
c)
50,81
19,256
42,7
-
-
-
37,46
31,554
0
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
Luyện tập
Bài 2: Đặt tính rồi tính
a) 72,1
30,4
b) 5,12
0,68
c) 69
7,85
41,7
-
-
-
4,44
61,15
a) 72,1 - 30,4
b) 5,12 - 0,68
c) 69 - 7,85
,00
Bài 1: Tính
a) 68,4
25,7
b) 46,8
9,34
c)
50,81
19,256
42,7
-
-
-
37,46
31,554
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
Luyện tập
Bài 3: Một thùng đựng 28,75 kg đường. Người ta lấy từ thùng
đó ra 10,5kg đường, sau đó lại lấy ra 8kg đường nữa. Hỏi
trong thùng còn bao nhiêu ki-lô-gam đường?
Bài giải
Số ki-lô-gam đường còn lại sau khi lấy lần thứ
nhất là:
28,75 10,5 = 18,25 (kg)
Số ki-lô-gam đường còn lại trong thùng là:
18,25 8 = 10,25 (kg)
Đáp số: 10,25 kg
Bài giải
Số ki-lô-gam đường lấyra tất cả là:
10,5 + 8 = 18,5 (kg)
Số ki-lô-gam đường còn lại trong thùng là:
28,75 18,5 = 10,25 (kg)
Đáp số: 10,25 kg
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
Bài 4:
Điền chữ Đ vào phép tính đúng, chữ S vào phép tính sai.
42,65
3,256
1,009
-
42,65
3,256
39,406
-
42,65
3,256
39 394
-
42,65
3,256
39,394
-
Đ
S
S
S
Thứ bảy ngày 01 tháng 11 năm 2008
Toán
Trừ hai số thập phân
a)Ví dụ 1:
=? (m)4,29 1,84 -
4,29
1,84
2,45
-
Thực hiện phép trừ như trừ các số tự nhiên .
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ .
Viết số 4,29 rồi viết số 1,84 dưới số 4,29 sao cho các chữ số cùng hàng thẳng cột
với nhau .
b)Ví dụ 2: =?
45,8
19,26
-
45,8
19,26
26,54
-
Coi 45,8 là 45,80 rồi trừ như trừ các số tự nhiên
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ
.
Muốn trừ một số thập phân cho một số thập phân ta làm như sau:
-
Viết số trừ dưới số bị trừ sao cho các chữ số ở cùng một hàng đặt thẳng cột với nhau.
-
Trừ như trừ các số tự nhiên.
-
Viết dấu phẩy ở hiệu thẳng cột với các dấu phẩy của số bị trừ và số trừ .
Chú ý: Nếu số chữ số ở phần thập phân của số bị trừ ít hơn số chữ số ở phần thập
phân của số trừ, thì ta có thể viết thêm một số thích hợp chữ số 0 vào bên phải phần
thập phân của số bị trừ, rồi trừ như trừ các số tự nhiên.
Toán rời rạc - Chương 5
Chứng minh: Ta chứng minh bằng quy nạp theo k mệnh đề sau:
W
k
[i,j] là chiều dài đường đi ngắn nhất trong những đường đi nối đỉnh v
i
với đỉnh
v
j
đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, , v
k
}.
Trước hết mệnh đề hiển nhiên đúng với k=0.
Giả sử mệnh đề đúng với k-1.
Xét W
k
[i,j]. Có hai trường hợp:
1) Trong các đường đi chiều dài ngắn nhất nối v
i
với v
j
và đi qua các đỉnh trung gian trong
{v
1
, v
2
, , v
k
}, có một đường đi γ sao cho v
k
∉ γ. Khi đó γ cũng là đường đi ngắn nhất nối
v
i
với v
j
đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, , v
k-1
}, nên theo giả thiết quy nạp,
W
k-1
[i,j] = chiều dài γ ≤ W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j].
Do đó theo định nghĩa của W
k
thì W
k
[i,j]=W
k-1
[i,j].
2) Mọi đường đi chiều dài ngắn nhất nối v
i
với v
j
và đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
,
v
2
, , v
k
}, đều chứa v
k
. Gọi γ = v
i
v
k
v
j
là một đường đi ngắn nhất như thế thì v
1
v
k
và v
k
v
j
cũng là những đường đi ngắn nhất đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, ,
v
k-1
} và
W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j] = chiều dài(v
1
v
k
) + chiều dài(v
k
v
j
)
= chiều dài γ < W
k-1
[i,j].
Do đó theo định nghĩa của W
k
thì ta có:
W
k
[i,j] = W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j] .
Thí dụ 2: Xét đồ thị G sau:
Áp dụng thuật toán Floyd, ta tìm được (các ô trống là ∞)
W = W
0
=
1
22
4
3
14
27
71
v
1
v
2
v
3
v
4
v
5
v
6
4
7
2
2
4
1
1
2
3
W
1
=
1
4292
4
3
14
27
, W
2
=
251
104292
584
3
14
82117
W
3
=
8251
5104292
11584
3
714
1482117
, W
4
=
8251
594282
11584
3
714
1372106
W
5
=
726414
594282
1059747
3
615393
1272969
, W* = W
6
=
726414
574262
1059747
359747
615373
1272969
.
Thuật toán Floyd có thể áp dụng cho đồ thị vô hướng cũng như đồ thị có hướng.
Ta chỉ cần thay mỗi cạnh vô hướng (u,v) bằng một cặp cạnh có hướng (u,v) và (v,u) với
m(u,v)=m(v,u). Tuy nhiên, trong trường hợp này, các phần tử trên đường chéo của ma
trận W cần đặt bằng 0.
Đồ thị có hướng G là liên thông mạnh khi và chỉ khi mọi phần tử nằm trên đường
chéo trong ma trận trọng số ngắn nhất W* đều hữu hạn.
72
5.2. BÀI TOÁN LUỒNG CỰC ĐẠI.
5.2.1. Luồng vận tải:
5.2.1.1. Định nghĩa: Mạng vận tải là một đồ thị có hướng, không có khuyên và có
trọng số G=(V,E) với V={v
0
, v
1
, , v
n
} thoả mãn:
1) Mỗi cung e ∈ E có trọng số m(e) là một số nguyên không âm và được gọi là khả năng
thông qua của cung e.
2) Có một và chỉ một đỉnh v
0
không có cung đi vào, tức là deg
t
(v
0
)=0. Đỉnh v
0
được gọi là
lối vào hay đỉnh phát của mạng.
3) Có một và chỉ một đỉnh v
n
không có cung đi ra, tức là deg
o
(v
n
)=0. Đỉnh v
n
được gọi là
lối ra hay đỉnh thu của mạng.
5.2.1.2. Định nghĩa: Để định lượng khai thác, tức là xác định lượng vật chất chuyển
qua mạng vận tải G=(V,E), người ta đưa ra khái niệm luồng vận tải và nó được định
nghĩa như sau.
Hàm ϕ xác định trên tập cung E và nhận giá trị nguyên được gọi là luồng vận tải
của mạng vận tải G nếu ϕ thoả mãn:
1) ϕ(e) ≥ 0, ∀e ∈ E.
2)
∑
−
Γ∈
)(
)(
ve
e
ϕ
=
∑
+
Γ∈
)(
)(
ve
e
ϕ
, ∀v ∈V, v≠v
0
, v≠v
n
. Ở đây,
−
Γ
(v)={e∈E | e có đỉnh cuối là
v},
+
Γ
(v)={e∈E | e có đỉnh đầu là v}.
3) ϕ(e) ≤ m(e), ∀e ∈ E.
Ta xem ϕ(e) như là lượng hàng chuyển trên cung e=(u,v) từ đỉnh u đến đỉnh v và
không vượt quá khả năng thông qua của cung này. Ngoài ra, từ điều kiện 2) ta thấy rằng
nếu v không phải là lối vào v
0
hay lối ra v
n
, thì lượng hàng chuyển tới v bằng lượng hàng
chuyển khỏi v.
Từ quan hệ 2) suy ra:
4)
∑
+
Γ∈
)(
0
)(
ve
e
ϕ
=
∑
−
Γ∈
)(
)(
n
ve
e
ϕ
=:
n
v
ϕ
.
Đại lượng
n
v
ϕ
(ta còn ký hiệu là
n
ϕ
) được gọi là luồng qua mạng, hay cường độ
luồng tại điểm v
n
hay giá trị của luồng ϕ. Bài toán đặt ra ở đây là tìm ϕ để
n
v
ϕ
đạt giá trị
lớn nhất, tức là tìm giá trị lớn nhất của luồng.
5.2.1.3. Định nghĩa: Cho mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V. Ký hiệu
−
Γ
(A)={(u,v)∈E | v∈A, u∉A},
+
Γ
(A)={(u,v)∈E | u∈A, v∉A}.
Đối với tập cung M tuỳ ý, đại lượng ϕ(M)=
∑
∈
Me
e)(
ϕ
được gọi là luồng của tập
cung M.
Từ điều kiện 2) dễ dàng suy ra hệ quả sau.
5.2.1.4. Hệ quả: Cho ϕ là luồng của mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V \{v
0
,v
n
}. Khi đó:
ϕ(
−
Γ
(A))=ϕ(
+
Γ
(A)).
5.2.2. Bài toán luồng cực đại:
73
Cho mạng vận tải G=(V,E). Hãy tìm luồng ϕ để đạt
n
v
ϕ
max trên mạng G.
Nguyên lý của các thuật toán giải bài toán tìm luồng cực đại là như sau.
5.2.2.1. Định nghĩa: Cho A ⊂ V là tập con tuỳ ý không chứa lối vào v
0
và chứa lối ra
v
n
. Tập
−
Γ
(A) được gọi là một thiết diện của mạng vận tải G.
Đại lượng m(
−
Γ
(A))=
∑
−
Γ∈
)(
)(
Ae
em
được gọi là khả năng thông qua của thiết diện
−
Γ
(A).
Từ định nghĩa thiết diện và khả năng thông qua của nó ta nhận thấy rằng: mỗi đơn
vị hàng hoá được chuyển từ v
0
đến v
n
ít nhất cũng phải một lần qua một cung nào đó của
thiết diện
−
Γ
(A). Vì vậy, dù luồng ϕ và thiết diện
−
Γ
(A) như thế nào đi nữa cũng vẫn
thoả mãn quan hệ:
ϕ
n
≤ m(
−
Γ
(A)).
Do đó, nếu đối với luồng ϕ và thiết diện W mà có:
ϕ
n
= m(W)
thì chắc chắn rằng luồng ϕ đạt giá trị lớn nhất và thiết diện W có khả năng thông qua nhỏ
nhất.
5.2.2.2. Định nghĩa: Cung e trong mạng vận tải G với luồng vận tải ϕ được goi là cung
bão hoà nếu ϕ(e)=m(e).
Luồng ϕ của mạng vận tải G được gọi là luồng đầy nếu mỗi đường đi từ v
0
đến v
n
đều chứa ít nhất một cung bão hoà.
Từ định nghĩa trên ta thấy rằng, nếu luồng ϕ trong mạng vận tải G chưa đầy thì
nhất định tìm được đường đi α từ lối vào v
0
đến lối ra v
n
không chứa cung bão hoà. Khi
đó ta nâng luồng ϕ thành ϕ’ như sau:
∉
∈+
=
.)(
,1)(
)('
αϕ
αϕ
ϕ
ekhie
ekhie
e
Khi đó ϕ’ cũng là một luồng, mà giá trị của nó là:
ϕ’
n
= ϕ
n
+1 > ϕ
n
.
Như vậy, đối với mỗi luồng không đầy ta có thể nâng giá trị của nó và nâng cho
tới khi nhận được một luồng đầy.
Tuy vậy, thực tế cho thấy rằng có thể có một luồng đầy, nhưng vẫn chưa đạt tới
giá trị cực đại. Bởi vậy, cần phải dùng thuật toán Ford-Fulkerson để tìm giá trị cực đại
của luồng.
5.2.2.3. Thuật toán Ford-Fulkerson:
Để tìm luồng cực đại của mạng vận tải G, ta xuất phát từ luồng tuỳ ý ϕ của G, rồi
nâng luồng lên đầy, sau đó áp dụng thuật toán Ford-Fulkerson hoặc ta có thể áp dụng
thuật toán Ford-Fulkerson trực tiếp đối với luồng ϕ.
74
Thuật toán gồm 3 bước:
Bước 1 (đánh dấu ở đỉnh của mạng): Lối vào v
0
được đánh dấu bằng 0.
1) Nếu đỉnh v
i
đã được đánh dấu thì ta dùng chỉ số +i để đánh dấu cho mọi đỉnh y chưa
được đánh dấu mà (v
i
,y)∈E và cung này chưa bão hoà (ϕ(v
i
,y)<m(v
i
,y)).
2) Nếu đỉnh v
i
đã được đánh dấu thì ta dùng chỉ số −i để đánh dấu cho mọi đỉnh z chưa
được đánh dấu mà (z,v
i
)∈E và luồng của cung này dương (ϕ(z,v
i
)>0).
Nếu với phương pháp này ta đánh dấu được tới lối ra v
n
thì trong G tồn tại giữa v
0
và v
n
một xích α, mọi đỉnh đều khác nhau và được đánh dấu theo chỉ số của đỉnh liền
trước nó (chỉ sai khác nhau về dấu). Khi đó chắc chắn ta nâng được giá trị của luồng.
Bước 2 (nâng giá trị của luồng): Để nâng giá trị của luồng ϕ, ta đặt:
ϕ’(e) = ϕ(e), nếu e∉α,
ϕ’(e) = ϕ(e)+1, nếu e∈α được định hướng theo chiều của xích α đi từ v
o
đến v
n
,
ϕ’(e) = ϕ(e)−1, nếu e∈α được định hướng ngược với chiều của xích α đi từ v
o
đến v
n
.
ϕ’ thoả mãn các điều kiện về luồng, nên ϕ’ là một luồng và ta có:
ϕ’
n
= ϕ
n
+1.
Như vậy, ta đã nâng được luồng lên một đơn vị.
Sau đó lặp lại một vòng mới. Vì khả năng thông qua của các cung đều hữu hạn,
nên quá trình phải dừng lại sau một số hữu hạn bước.
Bước 3: Nếu với luồng ϕ
0
bằng phương pháp trên ta không thể nâng giá trị của luồng lên
nữa, nghĩa là ta không thể đánh dấu được đỉnh v
n
, thì ta nói rằng quá trình nâng luồng kết
thúc và ϕ
0
đã đạt giá trị cực đại, đồng thời gọi ϕ
0
là luồng kết thúc.
Khi mạng vận tải G=(V,E) đạt tới luồng ϕ
0
, thì bước tiếp theo ta không thể đánh
dấu được tới lối ra v
n
. Trên cơ sở hiện trạng được đánh dấu tại bước này, ta sẽ chứng
minh rằng luồng ϕ
0
đã đạt được giá trị cực đại.
5.2.2.4. Bổ đề: Cho luồng ϕ của mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V, chứa lối ra v
n
và
không chứa lối vào v
0
. Khi đó:
))(())(( AA
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
.
Chứng minh: Đặt A
1
=A \{v
n
}. Theo Hệ quả 5.2.1.4, ta có:
75
y v
j
z
v
n
v
i
v
0
0
e
+i
-j
))(())((
11
AA
+−
Γ=Γ
ϕϕ
(1).
Đặt C
1
={(a,v
n
)∈E | a∉A}. Khi đó
∪Γ=Γ
−−
)()(
1
AA
C
1
và
∩Γ
−
)(
1
A
C
1
= ∅, nên
ϕϕϕ
+Γ=Γ
−−
))(())((
1
AA
(C
1
) (2).
Đặt C
2
={(b,v
n
)∈E | b∈A
1
}. Khi đó C
2
={(b,v
n
)∈E | b∈A},
∪Γ=Γ
++
)()(
1
AA
C
2
và
∩Γ
+
)( A
C
2
= ∅, nên
ϕϕϕ
−Γ=Γ
++
))(())((
1
AA
(C
2
) (3).
Ngoài ra,
)(
n
v
−
Γ
= C
1
∪C
2
và C
1
∩C
2
= ∅, nên
n
v
ϕ
=
))((
n
v
−
Γ
ϕ
=
ϕ
(C
1
)+
ϕ
(C
2
) (4).
Từ (1), (2), (3) và (4), ta có:
))(())(( AA
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
.
5.2.2.5. Định lý (Ford-Fulkerson): Trong mạng vận tải G=(V,E), giá trị lớn nhất của
luồng bằng khả năng thông qua nhỏ nhất của thiết diện, nghĩa là
))((minmax
,,
0
Am
AvAvVA
v
n
n
−
∈∉⊂
Γ=
ϕ
ϕ
.
Chứng minh: Giả sử trong mạng vận tải G, ϕ
0
là luồng cuối cùng, mà sau đó bằng
phương pháp đánh dấu của thuật toán Ford-Fulkerson không đạt tới lối ra v
n
. Trên cơ sở
hiện trạng được đánh dấu lần cuối cùng này, ta dùng B để ký hiệu tập gồm các đỉnh của G
không được đánh dấu. Khi đó v
0
∉B, v
n
∈B. Do đó
−
Γ
(B) là một thiết diện của mạng vận
tải G và theo Bổ đề 5.2.2.4, ta có:
))(())((
000
BB
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
(1).
Đối với mỗi cung e=(u,v)∈
−
Γ
(B) thì u∉B và v∈B, tức là u được đánh dấu và v
không được đánh dấu, nên theo nguyên tắc đánh dấu thứ nhất, e đã là cung bão hoà:
ϕ
0
(e) = m(e).
Do đó,
))(()()())((
)()(
00
BmemeB
BeBe
−
Γ∈Γ∈
−
Γ===Γ
∑∑
−−
ϕϕ
(2).
Đối với mỗi cung e=(s,t)∈
+
Γ
(B) thì s∈B và t∉B, tức là s không được đánh dấu
và t được đánh dấu, nên theo nguyên tắc đánh dấu thứ hai:
ϕ
0
(e) = 0.
Do đó,
0)())((
)(
00
==Γ
∑
+
Γ∈
+
Be
eB
ϕϕ
(3).
Từ (1), (2) và (3) ta suy ra:
))((
0
Bm
n
v
−
Γ=
ϕ
.
Vì vậy,
0
n
v
ϕ
là giá trị lớn nhất của luồng đạt được, còn m(
−
Γ
(B)) là giá trị nhỏ
nhất trong các khả năng thông qua của các thiết diện thuộc mạng vận tải G.
Thí dụ 3: Cho mạng vận tải như hình dưới đây với khả năng thông qua được đặt trong
khuyên tròn, luồng được ghi trên các cung. Tìm luồng cực đại của mạng này.
Luồng ϕ có đường đi (v
0
,v
4
), (v
4
,v
6
), (v
6
,v
8
) gồm các cung chưa bão hoà nên nó
chưa đầy. Do đó có thể nâng luồng của các cung này lên một đơn vị, để được ϕ
1
.
76
Do mỗi đường xuất phát từ v
0
đến v
8
đều chứa ít nhất một cung bão hoà, nên luồng
ϕ
1
là luồng đầy. Song nó chưa phải là luồng cực đại.
Áp dụng thuật toán Ford-Fulkerson để nâng luồng ϕ
1
.
Xét xích α=(v
0
, v
4
, v
6
, v
3
, v
7
, v
8
). Quá trình đánh dấu từ v
0
đến v
8
để có thể nâng
luồng ϕ
1
lên một đơn vị bằng cách biến đổi luồng tại các cung thuộc xích α được đánh
dấu. Sau đó ta có luồng ϕ
2
.
77
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
2
2
3
4
5
6
5
6
8
5
5
8
6
12
9
11
6
ϕ
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
2
3
3
4
5
6
5
7
8
5
5
8
6
12
9
12
6
ϕ
1
0
+0
+4
−6
+3
+7
v
0
v
4
v
6
v
3
v
7
v
8
7+1
3+1
3−1
2+1
6+1
+3
−6
+7
0
+0
+4
xích α
Xét xích β=(v
0
, v
1
, v
5
, v
2
, v
6
, v
3
, v
7
, v
8
). Quá trình đánh dấu từ v
0
đến v
8
để có thể
nâng luồng ϕ
2
lên một đơn vị bằng cách biến đổi luồng tại các cung thuộc xích β được
đánh dấu. Sau đó ta có luồng ϕ
3
.
78
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
3
4
2
4
5
6
5
8
8
5
5
8
6
12
9
12
7
ϕ
2
0
+0 +1
−5
+2
+7
−6
+3
v
0
v
1
v
2
v
6
v
3
v
8
7+1
3+1
2+1
+3
+7
0
+0
v
5
v
7
+1
−5
+2
3−1
−6
2−1
3+1
7+1
xích β
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
4
4
4
8
4
4
4
4
4
4
4
2
3
4
4
1
4
5
6
5
8
8
5
5
8
6
12
9
12
8
ϕ
3
Tiếp theo ta chỉ có thể đánh dấu được đỉnh v
0
nên quá trình nâng luồng kết thúc và
ta được giá trị của luồng cực đại là:
3
8
v
ϕ
= 6+12+8 = 26.
Mặt khác, thiết diện nhỏ nhất
−
Γ
(B) với B={v
1
, v
2
, , v
8
} là
−
Γ
(B)={(v
0
,v
1
), (v
0
,v
2
), (v
0
,v
3
), (v
0
,v
4
)}.
5.3. BÀI TOÁN DU LỊCH.
5.3.1. Giới thiệu bài toán:
Một người xuất phát từ một thành phố nào đó muốn tới thăm n−1 thành phố khác,
mỗi thành phố đúng một lần, rồi quay về thành phố ban đầu. Hỏi nên đi theo trình tự nào
để độ dài tổng cộng các đoạn đường đi qua là ngắn nhất (khoảng cách giữa hai thành phố
có thể hiểu là cự ly thông thường hoặc thời gian cần đi hoặc chi phí của hành trình, và
xem như cho trước).
Xét đồ thị đầy đủ G=(V,E), với V={1, 2, , n}, có trọng số với trọng số m
ij
= m(i,j)
có thể khác m
ji
= m(j,i). Như vậy, ta có thể xem G như là một đồ thị có hướng đầy đủ
“mạnh” theo nghĩa với mọi i, j=1, 2, , n, i≠j, luôn có (i,j), (j,i)∈E. Bài toán trở thành tìm
chu trình Hamilton có độ dài ngắn nhất trong G.
Bài toán nổi tiếng này đã có lời giải bằng cách sử dụng phương pháp “nhánh và
cận”.
5.3.2. Phương pháp nhánh và cận: Giả sử trong một tập hữu hạn các phương án của
bài toán, ta phải chọn ra được một phương án tối ưu theo một tiêu chuẩn nào đó (thí dụ
làm cho hàm mục tiêu đạt giá trị nhỏ nhất). Ta sẽ tìm cách phân chia tập phương án đang
xét thành hai tập con không giao nhau. Với mỗi tập này, ta sẽ tính “cận dưới” (chặn dưới
đủ tốt) của các giá trị hàm mục tiêu ứng với các phương án trong đó. Mang so sánh hai
cận dưới vừa tính được, ta có thể phán đoán xem tập con nào có nhiều triển vọng chứa
phương án tối ưu và tiếp tục phân chia tập con đó thành hai tập con khác không giao
nhau, lại tính các cận dưới tương ứng Lặp lại quá trình này thì sau một số hữu hạn
bước, cuối cùng sẽ được một phương án tốt, nói chung là tối ưu. Nếu không thì lặp lại quá
trình phân chia để kiểm tra và sau một vài bước, ta sẽ được phương án tối ưu.
Người ta thường mô tả quá trình phân chia đó bằng một “cây có gốc” mà gốc sẽ
tượng trưng cho tập toàn bộ các phương án, còn các đỉnh ở phía dưới lần lượt tượng trưng
cho các tập con trong quá trình “phân nhánh nhị phân”. Vì vậy, phương pháp này mang
tên nhánh và cận.
5.3.3. Cơ sở lý luận của phép toán: Nếu không xác định thành phố xuất phát thì có
n! hành trình, mỗi hành trình ứng với một hoán vị nào đó của tập {1, 2, , n}. Còn nếu
cho trước thành phố xuất phát thì có tất cả là (n−1)! hành trình.
Giả sử h=(π(1), π(2), , π(n), π(1)) (π là một hoán vị) là một hành trình qua các
thành phố π(1), , π(n) theo thứ tự đó rồi quay về π(1) thì hàm mục tiêu
79
v
0
f(h) =
∑
∈
−
=+++
hji
ijnnn
mmmm
),(
)1()()()1()2()1(
ππππππ
,
sẽ biểu thị tổng độ dài đã đi theo hành trình h, trong đó (i,j) ký hiệu một chặng đường của
hành trình, tức là một cặp thành phố kề nhau theo hành trình h.
5.3.4. Ma trận rút gọn: Quá trình tính toán sẽ được thực hiện trên các ma trận suy từ
ma trận trọng số M=(m
ij
) ban đầu bằng những phép biến đổi rút gọn để các số liệu được
đơn giản.
Phép trừ phần tử nhỏ nhất của mỗi dòng (t.ư. cột) vào tất cả các phần tử của dòng
(t.ư. cột) đó được gọi là phép rút gọn dòng (t.ư. cột). Phần tử nhỏ nhất đó được gọi là
hằng số rút gọn dòng (t.ư. cột) đang xét. Ma trận với các phần tử không âm và có ít nhất
một phần tử bằng 0 trên mỗi dòng và mỗi cột được gọi là ma trận rút gọn của ma trận ban
đầu.
Thí dụ 4:
M =
5109
726
534
→
054
504
201
→
M’ =
053
503
200
,
tất nhiên có thể rút gọn cách khác
M =
5109
726
534
→
M’’ =
085
202
010
.
5.3.5. Mệnh đề: Phương án tối ưu xét trên ma trận trọng số ban đầu cũng là phương án
tối ưu của bài toán xét trên ma trận rút gọn và đảo lại.
Chứng minh: Có thể xem việc đi tìm chu trình Hamilton của người du lịch như là một
bài toán vận tải đặc biệt dưới dạng bảng. Như vậy thì trong bảng (ma trận trọng số hoặc
ma trận rút gọn) ta phải có đúng n ô chọn, mỗi ô chọn tượng trưng cho một cặp thành phố
trên hành trình cần tìm, trên mỗi dòng và mỗi cột có đúng một ô chọn. Mỗi hành trình h
80
3
2
5
1
0
0
4 2
0
0
0
5
W
k
[i,j] là chiều dài đường đi ngắn nhất trong những đường đi nối đỉnh v
i
với đỉnh
v
j
đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, , v
k
}.
Trước hết mệnh đề hiển nhiên đúng với k=0.
Giả sử mệnh đề đúng với k-1.
Xét W
k
[i,j]. Có hai trường hợp:
1) Trong các đường đi chiều dài ngắn nhất nối v
i
với v
j
và đi qua các đỉnh trung gian trong
{v
1
, v
2
, , v
k
}, có một đường đi γ sao cho v
k
∉ γ. Khi đó γ cũng là đường đi ngắn nhất nối
v
i
với v
j
đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, , v
k-1
}, nên theo giả thiết quy nạp,
W
k-1
[i,j] = chiều dài γ ≤ W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j].
Do đó theo định nghĩa của W
k
thì W
k
[i,j]=W
k-1
[i,j].
2) Mọi đường đi chiều dài ngắn nhất nối v
i
với v
j
và đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
,
v
2
, , v
k
}, đều chứa v
k
. Gọi γ = v
i
v
k
v
j
là một đường đi ngắn nhất như thế thì v
1
v
k
và v
k
v
j
cũng là những đường đi ngắn nhất đi qua các đỉnh trung gian trong {v
1
, v
2
, ,
v
k-1
} và
W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j] = chiều dài(v
1
v
k
) + chiều dài(v
k
v
j
)
= chiều dài γ < W
k-1
[i,j].
Do đó theo định nghĩa của W
k
thì ta có:
W
k
[i,j] = W
k-1
[i,k]+W
k-1
[k,j] .
Thí dụ 2: Xét đồ thị G sau:
Áp dụng thuật toán Floyd, ta tìm được (các ô trống là ∞)
W = W
0
=
1
22
4
3
14
27
71
v
1
v
2
v
3
v
4
v
5
v
6
4
7
2
2
4
1
1
2
3
W
1
=
1
4292
4
3
14
27
, W
2
=
251
104292
584
3
14
82117
W
3
=
8251
5104292
11584
3
714
1482117
, W
4
=
8251
594282
11584
3
714
1372106
W
5
=
726414
594282
1059747
3
615393
1272969
, W* = W
6
=
726414
574262
1059747
359747
615373
1272969
.
Thuật toán Floyd có thể áp dụng cho đồ thị vô hướng cũng như đồ thị có hướng.
Ta chỉ cần thay mỗi cạnh vô hướng (u,v) bằng một cặp cạnh có hướng (u,v) và (v,u) với
m(u,v)=m(v,u). Tuy nhiên, trong trường hợp này, các phần tử trên đường chéo của ma
trận W cần đặt bằng 0.
Đồ thị có hướng G là liên thông mạnh khi và chỉ khi mọi phần tử nằm trên đường
chéo trong ma trận trọng số ngắn nhất W* đều hữu hạn.
72
5.2. BÀI TOÁN LUỒNG CỰC ĐẠI.
5.2.1. Luồng vận tải:
5.2.1.1. Định nghĩa: Mạng vận tải là một đồ thị có hướng, không có khuyên và có
trọng số G=(V,E) với V={v
0
, v
1
, , v
n
} thoả mãn:
1) Mỗi cung e ∈ E có trọng số m(e) là một số nguyên không âm và được gọi là khả năng
thông qua của cung e.
2) Có một và chỉ một đỉnh v
0
không có cung đi vào, tức là deg
t
(v
0
)=0. Đỉnh v
0
được gọi là
lối vào hay đỉnh phát của mạng.
3) Có một và chỉ một đỉnh v
n
không có cung đi ra, tức là deg
o
(v
n
)=0. Đỉnh v
n
được gọi là
lối ra hay đỉnh thu của mạng.
5.2.1.2. Định nghĩa: Để định lượng khai thác, tức là xác định lượng vật chất chuyển
qua mạng vận tải G=(V,E), người ta đưa ra khái niệm luồng vận tải và nó được định
nghĩa như sau.
Hàm ϕ xác định trên tập cung E và nhận giá trị nguyên được gọi là luồng vận tải
của mạng vận tải G nếu ϕ thoả mãn:
1) ϕ(e) ≥ 0, ∀e ∈ E.
2)
∑
−
Γ∈
)(
)(
ve
e
ϕ
=
∑
+
Γ∈
)(
)(
ve
e
ϕ
, ∀v ∈V, v≠v
0
, v≠v
n
. Ở đây,
−
Γ
(v)={e∈E | e có đỉnh cuối là
v},
+
Γ
(v)={e∈E | e có đỉnh đầu là v}.
3) ϕ(e) ≤ m(e), ∀e ∈ E.
Ta xem ϕ(e) như là lượng hàng chuyển trên cung e=(u,v) từ đỉnh u đến đỉnh v và
không vượt quá khả năng thông qua của cung này. Ngoài ra, từ điều kiện 2) ta thấy rằng
nếu v không phải là lối vào v
0
hay lối ra v
n
, thì lượng hàng chuyển tới v bằng lượng hàng
chuyển khỏi v.
Từ quan hệ 2) suy ra:
4)
∑
+
Γ∈
)(
0
)(
ve
e
ϕ
=
∑
−
Γ∈
)(
)(
n
ve
e
ϕ
=:
n
v
ϕ
.
Đại lượng
n
v
ϕ
(ta còn ký hiệu là
n
ϕ
) được gọi là luồng qua mạng, hay cường độ
luồng tại điểm v
n
hay giá trị của luồng ϕ. Bài toán đặt ra ở đây là tìm ϕ để
n
v
ϕ
đạt giá trị
lớn nhất, tức là tìm giá trị lớn nhất của luồng.
5.2.1.3. Định nghĩa: Cho mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V. Ký hiệu
−
Γ
(A)={(u,v)∈E | v∈A, u∉A},
+
Γ
(A)={(u,v)∈E | u∈A, v∉A}.
Đối với tập cung M tuỳ ý, đại lượng ϕ(M)=
∑
∈
Me
e)(
ϕ
được gọi là luồng của tập
cung M.
Từ điều kiện 2) dễ dàng suy ra hệ quả sau.
5.2.1.4. Hệ quả: Cho ϕ là luồng của mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V \{v
0
,v
n
}. Khi đó:
ϕ(
−
Γ
(A))=ϕ(
+
Γ
(A)).
5.2.2. Bài toán luồng cực đại:
73
Cho mạng vận tải G=(V,E). Hãy tìm luồng ϕ để đạt
n
v
ϕ
max trên mạng G.
Nguyên lý của các thuật toán giải bài toán tìm luồng cực đại là như sau.
5.2.2.1. Định nghĩa: Cho A ⊂ V là tập con tuỳ ý không chứa lối vào v
0
và chứa lối ra
v
n
. Tập
−
Γ
(A) được gọi là một thiết diện của mạng vận tải G.
Đại lượng m(
−
Γ
(A))=
∑
−
Γ∈
)(
)(
Ae
em
được gọi là khả năng thông qua của thiết diện
−
Γ
(A).
Từ định nghĩa thiết diện và khả năng thông qua của nó ta nhận thấy rằng: mỗi đơn
vị hàng hoá được chuyển từ v
0
đến v
n
ít nhất cũng phải một lần qua một cung nào đó của
thiết diện
−
Γ
(A). Vì vậy, dù luồng ϕ và thiết diện
−
Γ
(A) như thế nào đi nữa cũng vẫn
thoả mãn quan hệ:
ϕ
n
≤ m(
−
Γ
(A)).
Do đó, nếu đối với luồng ϕ và thiết diện W mà có:
ϕ
n
= m(W)
thì chắc chắn rằng luồng ϕ đạt giá trị lớn nhất và thiết diện W có khả năng thông qua nhỏ
nhất.
5.2.2.2. Định nghĩa: Cung e trong mạng vận tải G với luồng vận tải ϕ được goi là cung
bão hoà nếu ϕ(e)=m(e).
Luồng ϕ của mạng vận tải G được gọi là luồng đầy nếu mỗi đường đi từ v
0
đến v
n
đều chứa ít nhất một cung bão hoà.
Từ định nghĩa trên ta thấy rằng, nếu luồng ϕ trong mạng vận tải G chưa đầy thì
nhất định tìm được đường đi α từ lối vào v
0
đến lối ra v
n
không chứa cung bão hoà. Khi
đó ta nâng luồng ϕ thành ϕ’ như sau:
∉
∈+
=
.)(
,1)(
)('
αϕ
αϕ
ϕ
ekhie
ekhie
e
Khi đó ϕ’ cũng là một luồng, mà giá trị của nó là:
ϕ’
n
= ϕ
n
+1 > ϕ
n
.
Như vậy, đối với mỗi luồng không đầy ta có thể nâng giá trị của nó và nâng cho
tới khi nhận được một luồng đầy.
Tuy vậy, thực tế cho thấy rằng có thể có một luồng đầy, nhưng vẫn chưa đạt tới
giá trị cực đại. Bởi vậy, cần phải dùng thuật toán Ford-Fulkerson để tìm giá trị cực đại
của luồng.
5.2.2.3. Thuật toán Ford-Fulkerson:
Để tìm luồng cực đại của mạng vận tải G, ta xuất phát từ luồng tuỳ ý ϕ của G, rồi
nâng luồng lên đầy, sau đó áp dụng thuật toán Ford-Fulkerson hoặc ta có thể áp dụng
thuật toán Ford-Fulkerson trực tiếp đối với luồng ϕ.
74
Thuật toán gồm 3 bước:
Bước 1 (đánh dấu ở đỉnh của mạng): Lối vào v
0
được đánh dấu bằng 0.
1) Nếu đỉnh v
i
đã được đánh dấu thì ta dùng chỉ số +i để đánh dấu cho mọi đỉnh y chưa
được đánh dấu mà (v
i
,y)∈E và cung này chưa bão hoà (ϕ(v
i
,y)<m(v
i
,y)).
2) Nếu đỉnh v
i
đã được đánh dấu thì ta dùng chỉ số −i để đánh dấu cho mọi đỉnh z chưa
được đánh dấu mà (z,v
i
)∈E và luồng của cung này dương (ϕ(z,v
i
)>0).
Nếu với phương pháp này ta đánh dấu được tới lối ra v
n
thì trong G tồn tại giữa v
0
và v
n
một xích α, mọi đỉnh đều khác nhau và được đánh dấu theo chỉ số của đỉnh liền
trước nó (chỉ sai khác nhau về dấu). Khi đó chắc chắn ta nâng được giá trị của luồng.
Bước 2 (nâng giá trị của luồng): Để nâng giá trị của luồng ϕ, ta đặt:
ϕ’(e) = ϕ(e), nếu e∉α,
ϕ’(e) = ϕ(e)+1, nếu e∈α được định hướng theo chiều của xích α đi từ v
o
đến v
n
,
ϕ’(e) = ϕ(e)−1, nếu e∈α được định hướng ngược với chiều của xích α đi từ v
o
đến v
n
.
ϕ’ thoả mãn các điều kiện về luồng, nên ϕ’ là một luồng và ta có:
ϕ’
n
= ϕ
n
+1.
Như vậy, ta đã nâng được luồng lên một đơn vị.
Sau đó lặp lại một vòng mới. Vì khả năng thông qua của các cung đều hữu hạn,
nên quá trình phải dừng lại sau một số hữu hạn bước.
Bước 3: Nếu với luồng ϕ
0
bằng phương pháp trên ta không thể nâng giá trị của luồng lên
nữa, nghĩa là ta không thể đánh dấu được đỉnh v
n
, thì ta nói rằng quá trình nâng luồng kết
thúc và ϕ
0
đã đạt giá trị cực đại, đồng thời gọi ϕ
0
là luồng kết thúc.
Khi mạng vận tải G=(V,E) đạt tới luồng ϕ
0
, thì bước tiếp theo ta không thể đánh
dấu được tới lối ra v
n
. Trên cơ sở hiện trạng được đánh dấu tại bước này, ta sẽ chứng
minh rằng luồng ϕ
0
đã đạt được giá trị cực đại.
5.2.2.4. Bổ đề: Cho luồng ϕ của mạng vận tải G=(V,E) và A ⊂ V, chứa lối ra v
n
và
không chứa lối vào v
0
. Khi đó:
))(())(( AA
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
.
Chứng minh: Đặt A
1
=A \{v
n
}. Theo Hệ quả 5.2.1.4, ta có:
75
y v
j
z
v
n
v
i
v
0
0
e
+i
-j
))(())((
11
AA
+−
Γ=Γ
ϕϕ
(1).
Đặt C
1
={(a,v
n
)∈E | a∉A}. Khi đó
∪Γ=Γ
−−
)()(
1
AA
C
1
và
∩Γ
−
)(
1
A
C
1
= ∅, nên
ϕϕϕ
+Γ=Γ
−−
))(())((
1
AA
(C
1
) (2).
Đặt C
2
={(b,v
n
)∈E | b∈A
1
}. Khi đó C
2
={(b,v
n
)∈E | b∈A},
∪Γ=Γ
++
)()(
1
AA
C
2
và
∩Γ
+
)( A
C
2
= ∅, nên
ϕϕϕ
−Γ=Γ
++
))(())((
1
AA
(C
2
) (3).
Ngoài ra,
)(
n
v
−
Γ
= C
1
∪C
2
và C
1
∩C
2
= ∅, nên
n
v
ϕ
=
))((
n
v
−
Γ
ϕ
=
ϕ
(C
1
)+
ϕ
(C
2
) (4).
Từ (1), (2), (3) và (4), ta có:
))(())(( AA
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
.
5.2.2.5. Định lý (Ford-Fulkerson): Trong mạng vận tải G=(V,E), giá trị lớn nhất của
luồng bằng khả năng thông qua nhỏ nhất của thiết diện, nghĩa là
))((minmax
,,
0
Am
AvAvVA
v
n
n
−
∈∉⊂
Γ=
ϕ
ϕ
.
Chứng minh: Giả sử trong mạng vận tải G, ϕ
0
là luồng cuối cùng, mà sau đó bằng
phương pháp đánh dấu của thuật toán Ford-Fulkerson không đạt tới lối ra v
n
. Trên cơ sở
hiện trạng được đánh dấu lần cuối cùng này, ta dùng B để ký hiệu tập gồm các đỉnh của G
không được đánh dấu. Khi đó v
0
∉B, v
n
∈B. Do đó
−
Γ
(B) là một thiết diện của mạng vận
tải G và theo Bổ đề 5.2.2.4, ta có:
))(())((
000
BB
n
v
+−
Γ−Γ=
ϕϕϕ
(1).
Đối với mỗi cung e=(u,v)∈
−
Γ
(B) thì u∉B và v∈B, tức là u được đánh dấu và v
không được đánh dấu, nên theo nguyên tắc đánh dấu thứ nhất, e đã là cung bão hoà:
ϕ
0
(e) = m(e).
Do đó,
))(()()())((
)()(
00
BmemeB
BeBe
−
Γ∈Γ∈
−
Γ===Γ
∑∑
−−
ϕϕ
(2).
Đối với mỗi cung e=(s,t)∈
+
Γ
(B) thì s∈B và t∉B, tức là s không được đánh dấu
và t được đánh dấu, nên theo nguyên tắc đánh dấu thứ hai:
ϕ
0
(e) = 0.
Do đó,
0)())((
)(
00
==Γ
∑
+
Γ∈
+
Be
eB
ϕϕ
(3).
Từ (1), (2) và (3) ta suy ra:
))((
0
Bm
n
v
−
Γ=
ϕ
.
Vì vậy,
0
n
v
ϕ
là giá trị lớn nhất của luồng đạt được, còn m(
−
Γ
(B)) là giá trị nhỏ
nhất trong các khả năng thông qua của các thiết diện thuộc mạng vận tải G.
Thí dụ 3: Cho mạng vận tải như hình dưới đây với khả năng thông qua được đặt trong
khuyên tròn, luồng được ghi trên các cung. Tìm luồng cực đại của mạng này.
Luồng ϕ có đường đi (v
0
,v
4
), (v
4
,v
6
), (v
6
,v
8
) gồm các cung chưa bão hoà nên nó
chưa đầy. Do đó có thể nâng luồng của các cung này lên một đơn vị, để được ϕ
1
.
76
Do mỗi đường xuất phát từ v
0
đến v
8
đều chứa ít nhất một cung bão hoà, nên luồng
ϕ
1
là luồng đầy. Song nó chưa phải là luồng cực đại.
Áp dụng thuật toán Ford-Fulkerson để nâng luồng ϕ
1
.
Xét xích α=(v
0
, v
4
, v
6
, v
3
, v
7
, v
8
). Quá trình đánh dấu từ v
0
đến v
8
để có thể nâng
luồng ϕ
1
lên một đơn vị bằng cách biến đổi luồng tại các cung thuộc xích α được đánh
dấu. Sau đó ta có luồng ϕ
2
.
77
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
2
2
3
4
5
6
5
6
8
5
5
8
6
12
9
11
6
ϕ
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
2
3
3
4
5
6
5
7
8
5
5
8
6
12
9
12
6
ϕ
1
0
+0
+4
−6
+3
+7
v
0
v
4
v
6
v
3
v
7
v
8
7+1
3+1
3−1
2+1
6+1
+3
−6
+7
0
+0
+4
xích α
Xét xích β=(v
0
, v
1
, v
5
, v
2
, v
6
, v
3
, v
7
, v
8
). Quá trình đánh dấu từ v
0
đến v
8
để có thể
nâng luồng ϕ
2
lên một đơn vị bằng cách biến đổi luồng tại các cung thuộc xích β được
đánh dấu. Sau đó ta có luồng ϕ
3
.
78
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
3
4
4
7
4
4
4
4
4
4
4
3
2
3
4
2
4
5
6
5
8
8
5
5
8
6
12
9
12
7
ϕ
2
0
+0 +1
−5
+2
+7
−6
+3
v
0
v
1
v
2
v
6
v
3
v
8
7+1
3+1
2+1
+3
+7
0
+0
v
5
v
7
+1
−5
+2
3−1
−6
2−1
3+1
7+1
xích β
v
1
v
5
v
2
v
3
v
4
v
6
v
7
v
0
v
8
4
4
4
8
4
4
4
4
4
4
4
2
3
4
4
1
4
5
6
5
8
8
5
5
8
6
12
9
12
8
ϕ
3
Tiếp theo ta chỉ có thể đánh dấu được đỉnh v
0
nên quá trình nâng luồng kết thúc và
ta được giá trị của luồng cực đại là:
3
8
v
ϕ
= 6+12+8 = 26.
Mặt khác, thiết diện nhỏ nhất
−
Γ
(B) với B={v
1
, v
2
, , v
8
} là
−
Γ
(B)={(v
0
,v
1
), (v
0
,v
2
), (v
0
,v
3
), (v
0
,v
4
)}.
5.3. BÀI TOÁN DU LỊCH.
5.3.1. Giới thiệu bài toán:
Một người xuất phát từ một thành phố nào đó muốn tới thăm n−1 thành phố khác,
mỗi thành phố đúng một lần, rồi quay về thành phố ban đầu. Hỏi nên đi theo trình tự nào
để độ dài tổng cộng các đoạn đường đi qua là ngắn nhất (khoảng cách giữa hai thành phố
có thể hiểu là cự ly thông thường hoặc thời gian cần đi hoặc chi phí của hành trình, và
xem như cho trước).
Xét đồ thị đầy đủ G=(V,E), với V={1, 2, , n}, có trọng số với trọng số m
ij
= m(i,j)
có thể khác m
ji
= m(j,i). Như vậy, ta có thể xem G như là một đồ thị có hướng đầy đủ
“mạnh” theo nghĩa với mọi i, j=1, 2, , n, i≠j, luôn có (i,j), (j,i)∈E. Bài toán trở thành tìm
chu trình Hamilton có độ dài ngắn nhất trong G.
Bài toán nổi tiếng này đã có lời giải bằng cách sử dụng phương pháp “nhánh và
cận”.
5.3.2. Phương pháp nhánh và cận: Giả sử trong một tập hữu hạn các phương án của
bài toán, ta phải chọn ra được một phương án tối ưu theo một tiêu chuẩn nào đó (thí dụ
làm cho hàm mục tiêu đạt giá trị nhỏ nhất). Ta sẽ tìm cách phân chia tập phương án đang
xét thành hai tập con không giao nhau. Với mỗi tập này, ta sẽ tính “cận dưới” (chặn dưới
đủ tốt) của các giá trị hàm mục tiêu ứng với các phương án trong đó. Mang so sánh hai
cận dưới vừa tính được, ta có thể phán đoán xem tập con nào có nhiều triển vọng chứa
phương án tối ưu và tiếp tục phân chia tập con đó thành hai tập con khác không giao
nhau, lại tính các cận dưới tương ứng Lặp lại quá trình này thì sau một số hữu hạn
bước, cuối cùng sẽ được một phương án tốt, nói chung là tối ưu. Nếu không thì lặp lại quá
trình phân chia để kiểm tra và sau một vài bước, ta sẽ được phương án tối ưu.
Người ta thường mô tả quá trình phân chia đó bằng một “cây có gốc” mà gốc sẽ
tượng trưng cho tập toàn bộ các phương án, còn các đỉnh ở phía dưới lần lượt tượng trưng
cho các tập con trong quá trình “phân nhánh nhị phân”. Vì vậy, phương pháp này mang
tên nhánh và cận.
5.3.3. Cơ sở lý luận của phép toán: Nếu không xác định thành phố xuất phát thì có
n! hành trình, mỗi hành trình ứng với một hoán vị nào đó của tập {1, 2, , n}. Còn nếu
cho trước thành phố xuất phát thì có tất cả là (n−1)! hành trình.
Giả sử h=(π(1), π(2), , π(n), π(1)) (π là một hoán vị) là một hành trình qua các
thành phố π(1), , π(n) theo thứ tự đó rồi quay về π(1) thì hàm mục tiêu
79
v
0
f(h) =
∑
∈
−
=+++
hji
ijnnn
mmmm
),(
)1()()()1()2()1(
ππππππ
,
sẽ biểu thị tổng độ dài đã đi theo hành trình h, trong đó (i,j) ký hiệu một chặng đường của
hành trình, tức là một cặp thành phố kề nhau theo hành trình h.
5.3.4. Ma trận rút gọn: Quá trình tính toán sẽ được thực hiện trên các ma trận suy từ
ma trận trọng số M=(m
ij
) ban đầu bằng những phép biến đổi rút gọn để các số liệu được
đơn giản.
Phép trừ phần tử nhỏ nhất của mỗi dòng (t.ư. cột) vào tất cả các phần tử của dòng
(t.ư. cột) đó được gọi là phép rút gọn dòng (t.ư. cột). Phần tử nhỏ nhất đó được gọi là
hằng số rút gọn dòng (t.ư. cột) đang xét. Ma trận với các phần tử không âm và có ít nhất
một phần tử bằng 0 trên mỗi dòng và mỗi cột được gọi là ma trận rút gọn của ma trận ban
đầu.
Thí dụ 4:
M =
5109
726
534
→
054
504
201
→
M’ =
053
503
200
,
tất nhiên có thể rút gọn cách khác
M =
5109
726
534
→
M’’ =
085
202
010
.
5.3.5. Mệnh đề: Phương án tối ưu xét trên ma trận trọng số ban đầu cũng là phương án
tối ưu của bài toán xét trên ma trận rút gọn và đảo lại.
Chứng minh: Có thể xem việc đi tìm chu trình Hamilton của người du lịch như là một
bài toán vận tải đặc biệt dưới dạng bảng. Như vậy thì trong bảng (ma trận trọng số hoặc
ma trận rút gọn) ta phải có đúng n ô chọn, mỗi ô chọn tượng trưng cho một cặp thành phố
trên hành trình cần tìm, trên mỗi dòng và mỗi cột có đúng một ô chọn. Mỗi hành trình h
80
3
2
5
1
0
0
4 2
0
0
0
5
Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014
Giai_he_phuong_trinh_bang_phuong_phap_the
KIM TRA BI C
* Thế nào là hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn?
* Cho ví dụ ? Nghiệm và số nghiệm của hệ phương trình bậc
nhất hai ẩn?
1. Qui tắc thế:
Qui tắc thế dùng để biến đổi một hệ phương trình thành hệ
phương trình tương đương. Gồm hai bước như sau:
(I)
Bước 1: Từ một phương trình của
hệ đã cho (coi là phương trình thứ
nhất), ta biểu diễn một ẩn theo ẩn
kia rồi thế vào phương trình thứ hai
để được một phương trình mới (chỉ
còn một ẩn).
Bước 2: Dùng phương trình mới
ấy để thay thế cho phương trình thứ
hai trong hệ ( phương trình thứ nhất
cũng thường được thay thế bởi hệ
thức biểu diễn một ẩn theo ẩn kia
có được ở bước 1).
Ví dụ 1: Xét hệ phương trình:
x - 3y = 2
-2x + 5y = 1
Từ phương trình (1) , biểu diễn x theo y,
ta có x = 3y + 2 (*). Lấy kết quả này thế
vào chỗ của x trong phương trình (2) thì
được: -2(3y + 2) + 5y = 1
Dùng phương trình vừa có, thay thế cho
phương trình (2) của hệ và dùng (*) thay
thế cho phương trình (1) , ta có được hệ
phương trình
x = 3y + 2
-2(3y +2) + 5y = 1
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
(1)
(2)
Sau khi đã áp dụng qui tắc thế, ta thấy ngay có thể giải hệ đã
cho như sau:
x - 3y = 2
-2x + 5y = 1
x = 3y + 2
-2(3y +2) + 5y = 1
x = 3y + 2
y = -5
x = -13
y = -5
Vậy hệ phương trình đã cho có
nghiệm duy nhất (x ; y) = (-13 ; -5)
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
1. Qui tắc thế:
Giải hệ phương trình bằng
phương pháp thế.
Cách giải hệ phương trình này gọi là:
Ví dụ 2: Giải hệ phương trình:
2. áp dụng:
2x - y = 3
x + 2y = 4
y = 2x - 3
x + 2(2x - 3) = 4
y = 2x - 3
5x 6 = 4
x = 2
y = 1
Vậy hệ (I) có nghiệm duy nhất (x ; y) = (2 ; 1)
y = 2x - 3
x = 2
2x - y = 3
x + 2y = 4
(I)
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
1. Qui tắc thế:
Giải
Giải: Ta biểu diễn y theo x từ phương trình thứ hai của hệ:
4x - 5y = 3
3x - y = 16
y = 3x - 16
4x - 5(3x - 16) = 3
y = 3x - 16
-11x + 80 = 3
x = 5
y = 7
Vậy hệ (II) có nghiệm duy nhất (x ; y) = (7; 5)
y = 3x - 16
x = 7
4x - 5y = 3
3x - y = 16
(II)
Giải hệ phương trình sau bằng phương pháp thế ( biểu diễn y
theo x từ phương trình thứ hai của hệ)
?1
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
2. áp dụng:
1. Qui tắc thế:
Chú ý:
Trường hợp hệ vô nghiệm hoặc vô số nghiệm?
Giải:
Hệ (III) có các nghiệm (x ; y) tính bởi công thức:
x R
y = 2x +3
Ví dụ 3: Giải hệ phương trình:
4x - 2y = -6
-2x + y = 3
(III)
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
2. áp dụng:
1. Qui tắc thế:
4x - 2y = -6
-2x + y = 3
4x 2(2x 3) = -6
y = 2x - 3
4x 4x 6 = - 6
y = 2x - 3
0x = 0 (*)
y = 2x - 3
Phương trình(*) này
nghiệm đúng với mọi x
R. Vậy hệ đã cho có vô số
nghiệm. Tập nghiệm của hệ
đã cho cũng là tập nghiệm
của phương trình bậc nhất
hai ẩn y = 2x + 3.
Bằng minh hoạ hình học, hãy giải
thích tại sao hệ (III) có vô số
nghiệm.
Tập nghiệm của hai phương trình
trong hệ được biểu diễn bởi hai đư
ờng thẳng trùng nhau
Vậy: Hệ phương trình có vô số nghiệm.
?2
4x - 2y = -6
-2x + y = 3
(III)
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
2. áp dụng:
1. Qui tắc thế:
Chú ý:
3
2
-
2
x
+
y
=
3
0
4
x
-
2
y
=
-
6
Bằng minh hoạ hình học, và phương
pháp thế hãy giải thích tại sao hệ (IV)
vô nghiệm.
Tập nghiệm của hai phương trình
trong hệ được biểu diễn bởi hai
đường thẳng song song nhau.
Vậy: Hệ phương trình vô nghiệm.
?3
4x + y = 2
8x + 2y = 1
(IV)
(d
2
)
(d
1
)
(d
1
) // (d
2
)
y
x
1
2
O
2
1
1
2
1
(d1): y = - 4x + 2
(d2): y = - 4x +
1
2
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
2. áp dụng:
1. Qui tắc thế:
Chú ý:
Tóm tắt cách giải hệ phương trình bằng phư
ơng pháp thế:
1) Dùng qui tắc thế biến đổi hệ phương trình đã cho để
được một hệ phương trình mới, trong đó có một phương
trình một ẩn.
2) Giải phương trình một ẩn vừa có, rồi suy ra nghiệm
của hệ đã cho.
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
Bài tập 12/SGK-Trg 15:
c)
x + 3 = -2
5x - 4y = 11
a)
x - y = 3
3x - 4y = 2
b)
7x - 3y = 5
4x + y = 2
Giải các hệ phương trình sau bằng phương pháp thế
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
Bài tập 13, 14 /SGK-Trg 15 :
Giải các hệ phương trình sau bằng phương pháp thế:
Hướng dẫn về nhà
a)
3x - 2y = 11
4x - 5y = 3
Hướng dẫn:
Ta rút ẩn có hệ số nhỏ nhất theo ẩn kia từ một trong hai phương
trình của hệ . Chú ý ở BT14 có chứa dấu căn.
- Học kỹ qui tắc thế . Cách giải hệ phương trình bằng phương pháp thế
b)
5x - 8y = 3
x
2
-
y
2
= 1
Tiết 34 - Đ3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
Tiết 22_Hình vuông
Kiểm tra bài cũ :
Kiểm tra bài cũ :
Bài 1:
Bài 1:
Cho hình chữ nhật
Cho hình chữ nhật
ABCD có AC
ABCD có AC
⊥
⊥
BD
BD
CMR: AB=BC=CD=DA
CMR: AB=BC=CD=DA
HCN ABCD
HCN ABCD
AC
AC
⊥
⊥
BD
BD
AB=BC=CD=DA
AB=BC=CD=DA
gt
gt
kl
kl
A
A
B
B
C
C
D
D
O
O
A
A
B
B
C
C
D
D
O
O
Bài 2:
Bài 2:
Cho hình thoi
Cho hình thoi
ABCD có AC = BD
ABCD có AC = BD
CMR: A=B=C=D=90
CMR: A=B=C=D=90
0
0
hình thoi
hình thoi
ABCD
ABCD
AC = BD
AC = BD
A=B=C=D=90
A=B=C=D=90
0
0
gt
gt
kl
kl
Bài 1:
Cho hình chữ nhật
ABCD có AC ⊥ BD
CMR: AB=BC=CD=DA
A
HCN ABCD
AC ⊥ BD
AB=BC=CD=DA
gt
kl
B
CD
O
CM:
CM:
V
V
ì ABCD là HCN => O là trung điểm của BD
ì ABCD là HCN => O là trung điểm của BD
Mà AC
Mà AC
⊥
⊥
BD =
BD =
{O} =>
{O} =>
AO
AO
⊥
⊥
BD
BD
=> AO là đường trung trực của
=> AO là đường trung trực của
∆
∆
ABD
ABD
⇒
AB=AD
AB=AD
⇒
mặt khác, AB=CD; AD=BC
mặt khác, AB=CD; AD=BC
=> AB=BC=CD=DA
=> AB=BC=CD=DA
Bài 2:
Bài 2:
Cho hình thoi
Cho hình thoi
ABCD có AC = BD
ABCD có AC = BD
CMR: A=B=C=D=90
CMR: A=B=C=D=90
0
0
A
A
B
B
C
C
D
D
O
O
hình thoi
hình thoi
ABCD
ABCD
AC = BD
AC = BD
A=B=C=D=90
A=B=C=D=90
0
0
gt
gt
kl
kl
CM:
CM:
∆
∆
ABD =
ABD =
∆
∆
BAC (c.c.c)
BAC (c.c.c)
=> A = B
=> A = B
Mà A + B = 180
Mà A + B = 180
0
0
=> A = B = 90
=> A = B = 90
0
0
Mặt khác
Mặt khác
A = C ; B = D
A = C ; B = D
=> A = B = C = D = 90
=> A = B = C = D = 90
0
0
1, Định nghĩa : Hình vuông là tứ giác có 4 góc vuông
1, Định nghĩa : Hình vuông là tứ giác có 4 góc vuông
và 4 cạnh bằng nhau .
và 4 cạnh bằng nhau .
A B
C
D
Tiết 22: Hình vuông
Tiết 22: Hình vuông
Em hãy cho biết các góc và các cạnh của tứ giác
Em hãy cho biết các góc và các cạnh của tứ giác
ABCD trên hình vẽ có gì đặc biệt ?
ABCD trên hình vẽ có gì đặc biệt ?
- Hình vuông là hình chữ nhật có các cạnh bằng nhau.
- Hình vuông là hình chữ nhật có các cạnh bằng nhau.
- Hình vuông là hình thoi có 4 góc vuông ?
- Hình vuông là hình thoi có 4 góc vuông ?
* Hình vuông vừa là hình chữ nhật, vừa là hình thoi
* Hình vuông vừa là hình chữ nhật, vừa là hình thoi
Tiết 22: Hình vuông
Tiết 22: Hình vuông
1, Định nghĩa:
1, Định nghĩa:
axit HCl cuc hay
Hiđro
Hiđro
v
v
Clo
Clo
1+
17+
l
Hiđroclorua, axit clohiđric và
Hiđroclorua, axit clohiđric và
muối clorua
muối clorua
I. Hiđroclorua
I. Hiđroclorua
2. Tính chất
2. Tính chất
- Khí không màu, mùi xốc, nặng
- Khí không màu, mùi xốc, nặng
hơn không khí
hơn không khí
-
-
Tan
Tan
nhiều
nhiều
trong
trong
nước
nước
tạo
tạo
thành
thành
dung
dung
dịch
dịch
axit
axit
clohiđric
clohiđric
nên làm
nên làm
dung dịch
dung dịch
quỳ tím ngả sang màu
quỳ tím ngả sang màu
đỏ
đỏ
26,1
29
5,36
=d 26,1
29
5,36
=d
Hiđroclorua, axit
Hiđroclorua, axit
clohiđric và muối clorua
clohiđric và muối clorua
II. Axit clohiđric
II. Axit clohiđric
1. Tính chất vật lý
1. Tính chất vật lý
Chất lỏng không màu, mùi xốc.
Chất lỏng không màu, mùi xốc.
ở
ở
20
20
0
0
C, nồng độ đặc nhất là 37% và khối lư
C, nồng độ đặc nhất là 37% và khối lư
ợng riêng = 1,19 g/cm
ợng riêng = 1,19 g/cm
3
3
.
.
Khí HCl đặc bốc khói trong không khí ẩm
Khí HCl đặc bốc khói trong không khí ẩm
tạo thành những hạt chất lỏng nhỏ như sương
tạo thành những hạt chất lỏng nhỏ như sương
mù
mù
Hiđroclorua, axit clohiđric và
Hiđroclorua, axit clohiđric và
muối clorua
muối clorua
II. Axit clohiđric
II. Axit clohiđric
2. Tính chất hoá học
2. Tính chất hoá học
a) Dung dịch HCl là một axit mạnh có đầy đủ tính
a) Dung dịch HCl là một axit mạnh có đầy đủ tính
chất chung của axit như:
chất chung của axit như:
* Làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ.
* Làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ.
* Tác dụng với oxit bazơ:
* Tác dụng với oxit bazơ:
2HCl + CuO
2HCl + CuO
CuCl
CuCl
2
2
+ H
+ H
2
2
O
O
* Tác dụng với bazơ
* Tác dụng với bazơ
HCl + NaOH
HCl + NaOH
NaCl + H
NaCl + H
2
2
O
O
Hiđroclorua, axit clohiđric và
Hiđroclorua, axit clohiđric và
muối clorua
muối clorua
* Tác dụng với muối
* Tác dụng với muối
2HCl + Na
2HCl + Na
2
2
CO
CO
3
3
2NaCl + CO
2NaCl + CO
2
2
+ H
+ H
2
2
O
O
* Tác dụng với kim loại (đứng trước hiđro)
* Tác dụng với kim loại (đứng trước hiđro)
2 HCl + Fe
2 HCl + Fe
FeCl
FeCl
2
2
+ H
+ H
2
2
b)
b)
Axit HCl có tính khử khi gặp chất oxi hoá
Axit HCl có tính khử khi gặp chất oxi hoá
mạnh
mạnh
như MnO
như MnO
2
2
, KMnO
, KMnO
4
4
4HCl + MnO
4HCl + MnO
2
2
MnCl
MnCl
2
2
+ Cl
+ Cl
2
2
+ 2H
+ 2H
2
2
O
O
Clo trong HCl có số oxi hoá thấp nhất (
Clo trong HCl có số oxi hoá thấp nhất (
1) bị oxi hoá
1) bị oxi hoá
thành Cl
thành Cl
2
2
(mức oxi hoá 0).
(mức oxi hoá 0).
Hiđroclorua, axit
Hiđroclorua, axit
clohiđric và muối clorua
clohiđric và muối clorua
Kết luận:
Kết luận:
Axit clohiđric
Axit clohiđric
Tính axit, tính
Tính axit, tính
oxi hoá (H
oxi hoá (H
+
+
)
)
Tính khử (Cl
Tính khử (Cl
-
-
)
)
Củng cố bài.
Củng cố bài.
Viết phương trình hóa học của Axit
Viết phương trình hóa học của Axit
Clohiđric tác dụng với những chất sau
Clohiđric tác dụng với những chất sau
đây:
đây:
a. Zn; CaO
a. Zn; CaO
b. Fe(OH)
b. Fe(OH)
3
3
;
;
CaCO
CaCO
3
3
c. KMnO
c. KMnO
4
4
Hiđroclorua, axit clohiđric và
Hiđroclorua, axit clohiđric và
muối clorua
muối clorua
3. Điều chế:
3. Điều chế:
a. Trong phòng TN:
a. Trong phòng TN:
Phương pháp sunfat:
Phương pháp sunfat:
Cho NaCl tinh thể tác dụng với
Cho NaCl tinh thể tác dụng với
axit H
axit H
2
2
SO
SO
4
4
đậm đặc.
đậm đặc.
- ở
- ở
dưới 250
dưới 250
0
0
C
C
NaCl + H
NaCl + H
2
2
SO
SO
4(đặc)
4(đặc)
NaHSO
NaHSO
4
4
+ HCl
+ HCl
-
-
ở
ở
trên 400
trên 400
0
0
C
C
2NaCl + H
2NaCl + H
2
2
SO
SO
4(đặc)
4(đặc)
Na
Na
2
2
SO
SO
4
4
+ 2 HCl
+ 2 HCl
Hoà tan khí hiđroclorua ( HCl) vào nước thu được
Hoà tan khí hiđroclorua ( HCl) vào nước thu được
dung dịch axit clohiđric
dung dịch axit clohiđric
Câu hỏi
Câu hỏi
Cho các chất: NaCl khan, H
Cho các chất: NaCl khan, H
2
2
SO
SO
4
4
đặc,
đặc,
H
H
2
2
O. Nêu phương pháp điều chế khí HCl
O. Nêu phương pháp điều chế khí HCl
trong phòng thí nghiệm? Viết các phư
trong phòng thí nghiệm? Viết các phư
ơng trình phản ứng?
ơng trình phản ứng?
Hiđroclorua, axit
Hiđroclorua, axit
clohiđric và muối clorua
clohiđric và muối clorua
3. Điều chế
3. Điều chế
b. Trong công nghiệp
b. Trong công nghiệp
( SGK )
( SGK )
Phương pháp tổng hợp:
Phương pháp tổng hợp:
H
H
2
2
+ Cl
+ Cl
2
2
2HCl
2HCl
Chú ý:
Chú ý:
Nguyên tắc ngược dòng (khí đi từ dưới
Nguyên tắc ngược dòng (khí đi từ dưới
lên, chất lỏng phun từ trên xuống) để tăng
lên, chất lỏng phun từ trên xuống) để tăng
diện tích tiếp xúc và tăng hiệu suất phản ứng,
diện tích tiếp xúc và tăng hiệu suất phản ứng,
giảm giá thành sản phẩm.
giảm giá thành sản phẩm.
t
t
o
o
kĩ năng học thi tốt nghiệp và ĐH
+ Năm 1919, công nhân ở nhiều nơi đã đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, nhưng
vẫn còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tổ chức và liên kết. (25 vụ đấu tranh)
+ Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập Công hội đỏ (bí mật) do Tôn
Đức Thắng đứng đầu.
+ Năm 1922: công nhân viên chức ở các sở công thương tư nhân Bắc kỳ đòi trả lương
ngày chủ nhật, thợ nhuộm ở Chợ Lớn bãi công.
+ Năm 1924: công nhân dệt, rượu ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương bãi công.
+ Đặc biệt, tháng 8/1925, công nhân Ba Son (Sài Gòn) đã lấy cớ đòi quyền lợi để bãi
công nhằm ngăn cản tàu chiến của Pháp chở quân sang đàn áp phong trào đấu tranh của các
thủy thủ Trung Quốc => Cuộc bãi công kết thúc thắng lợi với sự hưởng ứng và hỗ trợ của
công nhân các ngành khác ở Sài Gòn.
Đây là cuộc bãi công có tổ chức và mục tiêu chính trị rõ ràng, không còn mang tính tự
phát, vì mục đích kinh tế đơn thuần như trước đây. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quan
trọng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Sự lớn mạnh về quy mô và trưởng thành về tổ chức và chính trị của phong trào công
nhân Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho quá trình truyền bá và phát triển chủ nghĩa Mác-
Lênin ở Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn sau này.
4. Hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc (1919 - 1924) ở nước ngoài
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Văn Ba đã rời cảng Nhà Rồng
trên con tàu vận tải La-tus-trê-vin để sang các nước phương Tây.
Từ 1911 đến 1917, Người đến nhiều nước ở Châu Phi, Châu Mĩ và đến cuối năm 1917
Người trở về Pháp và gia nhập Đảng xã hội Pháp.
Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc cùng với các chí sĩ cách mạng Việt Nam tại Pháp đã
gửi tới Hội nghị Vec-xai “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đòi Chính phủ Pháp thừa
nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Nhưng bản yêu sách
đã không được chấp nhận.
Tháng 7/1920, Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của Lênin, từ đó Người tin theo Lênin và đứng về phía Quốc tế cộng sản.
Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng xã hội Pháp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập Quốc tế 3, và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp, Người trở thành
người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin một con đường mới cho phong
trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam đó là Con đường cách mạng vô sản.
Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pháp.
Năm 1922, ra báo “Người cùng khổ” để vạch trần tội ác của Chủ nghĩa đế quốc. Ngoài
ra còn viết bài cho các báo “Nhân đạo”, “Đời sống” và viết cuốn “Bản án chế độ thực dân
Pháp”
Năm 1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân và ở lại làm việc tại Quốc
tế 3, viết bài cho báo Sự thật, Tạp chí thư tín Quốc tế
Năm 1924, Người dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V.
Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị cho việc
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Câu hỏi và bài tập: Xem ở phần bài tập của bài 3
5
BÀI 3
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM TRƯỚC THÀNH LẬP ĐẢNG (1925 – 1930)
1. Sự phát triển của khuynh hướng cách mạng vô sản và phong trào công nhân
1.1. Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên
1.1.1. Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
Sau khi trở về Quảng Châu – Trung Quốc (1/11/1924), Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc
với các nhà cách mạng Việt Nam ở đây cùng với một số thanh niên Việt Nam hăng hái mới
từ trong nước sang.
Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn một số thanh niên Việt Nam tích cực để
tuyên truyền giác ngộ họ và lập ra tổ chức “Cộng sản đoàn”.
Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên,
trong đó tổ chức “Cộng sản đoàn” là nòng cốt và ra tuần báo Thanh niên làm cơ quan tuyên
truyền của Hội.
1.1.2. Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
Từ năm 1924 đến năm 1927, Người đã trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào
tạo được 75 thanh niên Việt Nam thành những chiến sĩ cách mạng để truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân
Việt Nam.
Đầu năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp những bài giảng trong các lớp đào tạo cán
bộ ở Quảng Châu và in thành tác phẩm “Đường Cách Mệnh”.
Nội dung cơ bản của tác phẩm “Đường Cách Mệnh”:
* Ba tư tưởng cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng đông đảo, nên phải động viên, tổ chức và
lãnh đạo quần chúng vùng dậy đánh đổ các giai cấp áp bức, bóc lột.
Cách mạng phải có Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo.
Cách mạng trong nước cần phải đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới và là một bộ
phận của cách mạng thế giới.
* Sáu mục đích nói cho đồng bào ta biết rõ:
Vì sao chúng ta muốn sống thì phải làm cách mệnh?
Vì sao cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai
người?
Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi.
Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ.
Ai là bạn ta và ai là thù ta?
Cách mệnh thì phải làm như thế nào?
Năm 1926, Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên đã có những tổ chức cơ sở ở nhiều
trung tâm lớn trong nước (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn )
Song song với việc phát triển cơ sở hội trong nước, tác phẩm “Đường Cách Mệnh” và
tuần báo Thanh Niên được bí mật đưa về nước để tuyên truyền và phổ biến chủ nghĩa Mác-
Lênin vào giai cấp vô sản.
Năm 1928, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên thực hiện chủ trương “Vô sản hoá”:
Đưa hội viên đã được đào tạo vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền , cùng sống, lao động với
công nhân để tự rèn luyện, đồng thời trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp
công nhân Việt Nam.
Đến tháng 5/1929, Hội đã có tổ chức cơ sở hầu khắp cả nước.
1.2. Phong trào công nhân trở thành một lực lượng độc lập 1925 - 1929
6
Những hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên đã tác động mạnh mẽ đến sự giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam.
Thêm vào đó là sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Quảng Châu và
những Nghị quyết về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa của Đại hội Quốc tế Cộng
sản lần thứ 5 , phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn
1926 – 1929:
* Trong hai năm 1926 – 1927: Nhiều cuộc bãi công của công nhân viên chức đã nổ
ra liên tiếp ở nhiều nơi như: Nhà máy sợi Nam Định, đồn điền cao su Cam Triêm, Phú
Riềng, đồn điền cà phê Rayan (Thái Nguyên).
* Trong hai năm 1928 – 1929: Có đến 40 cuộc đấu tranh nổ ra trên khắp cả nước,
tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy ximăng, sợi Hải Phòng, nhà máy
sợi Nam Định, nhà máy diêm - cưa Bến Thủy, đóng xe lửa Trường Thi (Vinh), Xưởng sửa
chữa ôtô Avia (Hà Nội), Xưởng đóng, sửa chữa tàu Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền Phú Riềng.
Đặc điểm của phong trào công nhân trong giai đoạn này là đã vượt ra khỏi phạm vi của
một nhà máy, công xưởng, bước đầu có sự liên kết giữa nhiều ngành, nhiều địa phương và đã
trở thành một phong trào liên tục, mạnh mẽ. Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công
nhân đã nâng lên rõ rệt và giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc
lập.
Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của phong trào công nhân, phong trào đấu tranh
của nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp yêu nước khác cũng phát triển, tạo nên một làn
sóng cách mạng dân tộc khắp cả nước.
2. Phong trào đấu tranh do tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo (1925 - 1930).
2.1. Tân Việt Cách Mạng Đảng và sự phân hoá của nó
Cùng với sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên ở nước ngoài, tháng
7/1925, tại Vinh (Nghệ An), nhóm chính trị phạm ở Trung kỳ và các sinh viên trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội đã thành lập Hội Phục Việt.
Đây là một tổ chức yêu nước, nhưng khi mới thành lập, Hội chưa có lập trường rõ ràng.
Sau cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu (11/1925), thực dân Pháp đã phát hiện và
theo dõi, phá hoại, nên Hội đã đổi tên thành Hội Hưng Nam.
Trong quá trình hoạt động, Hội Hưng Nam đã chịu tác động mạnh mẽ của lập trường,
tư tưởng cách mạng vô sản của Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên:
+ Hội Hưng Nam đã nhiều lần liên lạc để hợp nhất với Hội Việt Nam Cách Mạng
Thanh Niên, nhưng không thành.
+ Nhiều lần đổi tên: Năm 1926: Việt Nam cách mạng Đảng; Năm 1927 đổi thành Việt
Nam cách mạng đồng chí hội; và tháng 7/1928, lấy tên Tân Việt cách mạng Đảng.
* Nội bộ của Tân Việt cách mạng Đảng bị phân hoá mạnh mẽ do tác động của Hội
Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên:
- Một bộ phận lớn theo đường lối vô sản và nhóm này cũng phân thành 2 nhóm:
+ Một nhóm nhỏ gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên.
+ Nhóm còn lại chuẩn bị thành lập một chính đảng mới theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Bộ phận còn lại theo đường lối dân chủ tư sản.
2.2. Việt Nam Quốc dân Đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái
2.2.1. Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập
Đầu năm 1927, một nhóm thanh niên yêu nước do Phạm Tuấn Tài đứng đầu đã lập ra
một nhà xuất bản tiến bộ - Nam Đồng thư xã.
Lúc đầu, họ chưa có đường lối chính trị rõ rệt, nhưng sau đó đã tiếp thu tư tưởng Tam
dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) và lập ra Việt Nam quốc dân Đảng vào cuối năm
1927. Đây là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản.
+ Mục tiêu của đảng là đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.
7
+ Thành phần của đảng gồm sinh viên, học sinh, công chức, tư sản lớp dưới, người làm
nghề tự do, một số nông dân khá giả, thân hào, địa chủ, binh lính sĩ quan người Việt trong
quân đội Pháp
+ Về tổ chức, Việt nam Quốc dân Đảng có 4 cấp từ Trung ương xuống chi bộ cơ sở
nhưng chưa bao giờ trở thành một hệ thống trong cả nước, việc kết nạp đảng viên dễ dàng,
lỏng lẽo
2.2.2. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (02/1930)
* Nguyên nhân bùng nổ
Ngày 9/2/1929, ở Hà Nội xảy ra vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba – Danh (Bazin), thực
dân Pháp đã tiến hành đàn áp các tổ chức và đảng phái cách mạng Việt Nam.
Lực lượng của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị tổn thất lớn trong đợt truy quét này. Thay
vì phải tập trung để khôi phục và củng cố lực lượng, các yếu nhân còn lại của Đảng này đã
quyết định dốc hết lực lượng cho một cuộc bạo động với mục tiêu “Không thành công cũng
thành nhân”.
* Diễn biến
Đêm 9/2/1930, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái, sau đó là Phú Thọ, Hải Dương, Thái
Bình. Ở Hà Nội có ném bom phối hợp.
Ở Yên Bái, quân khởi nghĩa chiếm được trại lính, giết và làm bị thương một số quân
Pháp, nhưng không làm chủ được tỉnh lị nên hôm sau đã bị Pháp phản công và tiêu diệt.
Ở các nơi khác, nghĩa quân cũng chỉ tạm thời làm chủ mấy huyện lị nhỏ, sau đó bị
Pháp chiếm lại.
Cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn thất bại, Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí của ông bị
thực dân Pháp kết án tử hình.
* Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử
Cuộc khởi nghĩa chưa được chuẩn bị đầy đủ cả về tổ chức lẫn lực lượng, trong khi đó
thực dân Pháp còn rất mạnh, đủ sức để đàn áp.
Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa đã góp phần cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân.
Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã chấm dứt vai trò của Việt Nam Quốc dân
Đảng trong phong trào giải phóng dân tộc.
Câu hỏi và bài tập Bài 2 & 3:
1. Quá trình phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới
thứ nhất đến trước khi thành lập Đảng.
2. Tình hình giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ
nhất đến trước khi thành lập Đảng.
3. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta trong giai đoạn
1919 – 1930. Tại sao các phong trào đều thất bại?
4. Vai trò của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đối với phong trào công nhân và
sự ra đời của chính đảng vô sản Việt Nam.
8
BÀI 4
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI (03 - 2 - 1930)
1. Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
1.1. Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng
Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ và đặc biệt là phong trào công
nhân trong những năm 1928 – 1929 cho thấy đã đến lúc cần phải lãnh đạo giai cấp công –
nông cùng các lực lượng yêu nước khác đấu tranh chống đế quốc, phong kiến tay sai giành
độc lập, tự do.
Những yêu cầu mới đó đã vượt quá khả năng lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách Mạng
Thanh Niên.
Cuối tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên
ở Bắc kỳ đã họp ở số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội) và lập ra chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt
Nam gồm 7 người, mở đầu cho quá trình thành lập Đảng cộng sản thay thế cho Hội Việt
Nam cách mạng Thanh Niên.
Tháng 5/1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên (ở Hương Cảng – Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập Đảng
cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi Hội nghị về nước và tiến hành
vận động thành lập Đảng cộng sản.
Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở của Hội VNCMTN ở miền Bắc đã họp và
quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ Đảng và
ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
Đông Dương Cộng Sản Đảng ra đời đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của quần
chúng, uy tín và tổ chức Đảng phát triển rất nhanh, nhất là ở Bắc và Trung kỳ.
Trước ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng, tháng 7/1929, các hội
viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Trung Quốc và Nam kỳ cũng đã
quyêt định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.
1.2. Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn
Sự ra đời và ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng
Sản Đảng đã tác động mạnh mẽ đối với những đảng viên theo chủ trương cách mạng vô sản
trong Tân Việt Cách Mạng Đảng.
Tháng 9/1929, nhóm theo chủ nghĩa Mác trong Tân Việt Cách Mạng Đảng đã tách ra,
thành lập Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn.
1.3. Ý nghĩa
Đó là kết quả tất yếu trong quá trình vận động cách mạng Việt Nam.
Đánh dấu bước trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam và chứng tỏ xu hướng
cách mạng vô sản là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đây là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
2. Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03 - 07/02/1930)
2.1. Bối cảnh lịch sử
Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam là một xu thế tất yếu và ba tổ chức cộng
sản đá lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đấu tranh mạnh mẽ hơn.
Song, trong quá trình tuyên truyền vận động quần chúng, các tổ chức này đã tranh
giành, công kích lẫn nhau, gây nên tình trạng thiếu thống nhất, đẩy phong trào cách mạng
Việt Nam đứng trước nguy cơ bị chia rẽ.
Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng cộng sản thống nhất
trong cả nước.
Trước tình hình đó, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam.
9
2.2. Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng
Từ ngày 03 đến ngày 7/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), Nguyễn Ái
Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Tham dự Hội nghị có đại diện của
Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng.
Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã phân tích tình hình thế giới, trong nước, phê phán
những hành động thiếu thống nhất của các tổ chức Cộng sản, và đề nghị các tổ chức cộng sản
hợp nhất thành một Đảng cộng sản duy nhất.
Các đại biểu đã nhất trí hợp nhất thành một Đảng Cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng
Cộng Sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của
Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
2.3. Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên (03/02/1930)
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền và
cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp cùng bọn phong
kiến, tư sản phản cách mạng để làm cho nước Việt Nam độc lập, thành lập chính phủ công –
nông – binh, tiến tới làm cách mạng ruộng đất. Trong đó, quan trọng nhất là nhiệm vụ chống
đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.
Lực lượng cách mạng bao gồm chủ yếu là công – nông. Ngoài ra còn phải liên kết với
tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hay ít ra cũng trung lập phú nông, trung tiểu địa
chủ, và tư sản An Nam chưa lộ rõ bản chất phản cách mạng.
Lãnh đạo cách mạng là Đảng cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền
tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng cùng mặt
trận với các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới.
Cương lĩnh đầu tiên này tuy vắn tắt, nhưng thể hiện rõ tư tưởng cách mạng đúng đắn,
sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn.
2.4. Cương lĩnh chính trị 10/1930
Tháng 10/1930, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã họp Hội nghị lần thứ
nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc).
Hội nghị đã bầu Ban chấp hành chính thức do đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư, đổi
tên Đảng thành Đảng Cộng Sản Đông Dương và thông qua luận cương chính trị do Trần Phú
soạn thảo.
* Nội dung của luận cương chính trị 10/1930:
Tính chất của cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền. Sau khi
thắng lợi sẽ bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là đánh đổ các thế lực phong kiến, các hình thức bóc
lột theo lối tiền tư bản, thực hiện triệt để cách mạng thổ địa, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho
Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính, vô sản nắm quyền lãnh đạo cách
mạng.
Điều kiện cốt yếu dẫn đến thắng lợi là Đảng cộng sản lãnh đạo. Khi tình thế cách mạng
xuất hiện, Đảng lãnh đạo quần chúng đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền cho công
– nông. Đảng phải liên lạc với vô sản và các thuộc địa trên thế giới, nhất là vô sản Pháp.
2.5. So sánh Cương lĩnh đầu tiên 3/2/1930 với Luận cương chính trị 10/1930
So với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Luận cương tháng 10/1930 có một số điểm khác
biệt và chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
trong khi đó Luận cương tháng 10/1930 lại quá đặt nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng
10
ruộng đất. Điều đó cho thấy, Luận cương chính trị 10/1930 đã chưa vạch rõ được những mâu
thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Thứ hai, nếu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tranh thủ lôi kéo các bộ
phận tầng lớp giai cấp thì Luận cương tháng 10/1930 chỉ đề cao vai trò tuyệt đối của công –
nông, bỏ qua nhiều lực lượng yêu nước khác. So với thực tế xã hội Việt Nam lúc bấy giờ,
Luận cương tháng 10 đã chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của nhiều tầng lớp khác
trong xã hội và chưa thấy được sự phân hoá của tư sản và địa chủ.
3. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Là kết qủa tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam thời đại mới.
Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo và
đường lối đấu tranh của cách mạng Việt Nam.
Nó chứng tỏ rằng, giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo
cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp
công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và cách mạng Việt Nam trở
thành một bộ phận của cách mạng thế giới.
Sự ra đời của Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển nhảy vọt về sau của dân tộc Việt
Nam. Nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Câu hỏi và bài tập:
1. Trình bày những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trong những năm từ 1919
đến 1930. (Đề thi tuyển sinh Đại học Đà Lạt năm 1999).
2. Từ năm 1919 đến năm 1930, phong trào công nhân Việt Nam đã phát triển như thế nào?
(Đề thi tuyển sinh Đại học Công đoàn năm 1999)
3. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930)
(Đề thi tuyển sinh Đại học Mở Hà Nội năm 1999)
4. Anh (Chị) hãy trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thập niên 20 của thế
kỉ XX nhằm chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở
Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh năm 2000)
5. Bằng những sự kiện chọn lọc, anh (chị) hãy trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2001).
5. Hoàn cảnh lịch sử và nội dung của Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
(03/02/1930). (Đề thi tuyển sinh Cao đẳng Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh năm 1999).
7. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930). (Đề thi tuyển sinh
Đại học Luật Hà Nội năm 1999).
8. Tại sao nói: sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bước ngoặt vĩ đại của cách
mạng Việt Nam? (Đề thi tuyển sinh Đại học mở Hà Nội năm 1999)
9. Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng 03/02/1930. (Đề thi
tuyển sinh Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000).
10. Hãy phân tích tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh năm
2000).
11
BÀI 5
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1931 VÀ CUỘC ĐẤU
TRANH PHỤC HỒI LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG 1932 - 1935
1. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và những tác động của nó đối với
xã hội Việt Nam
Trong giai đoạn 1929 – 1933, các nước tư bản chủ nghĩa nói chung và đế quốc Pháp
nói riêng lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nặng nề. Cuộc khủng hoảng đã tác động
trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam:
+ Thực dân Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương về các ngân hàng Pháp và dùng ngân
sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp => Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam bị thiếu
vốn dẫn đến đình trệ.
+ Lúa gạo trên thị trường thế giới bị mất giá làm cho lúa gạo Việt Nam không xuất
khẩu được => Ruộng đất bị bỏ hoang.
Hậu quả là nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; Ruộng
đất bỏ hoang, công nghiệp suy sụp, xuất khẩu đình đốn , làm cho đời sống của đại bộ phận
nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh khốn cùng:
Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, số người có việc làm thì tiền lương bị giảm từ
30 đến 50%.
Nông dân tiếp tục bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn.
Tiểu tư sản lâm vào cảnh điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải,
học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp.
Một bộ phận lớn tư sản dân tộc lâm vào cảnh khó khăn do không thể buôn bán và sản
xuất.
Thêm vào đó, thực dân Pháp còn tăng sưu thế lên gấp 2, 3 lần và đẩy mạnh chính sách
khủng bố trắng hòng dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam… làm cho cuộc sống của
người dân lao động khốn khổ đến tột cùng.
2. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh
2.1. Phong trào đấu tranh trong cả nước nửa đầu năm 1930
Trong bối cảnh mâu thuẫn của dân tộc Việt Nam đối với thực dân Pháp và tay sai đang
trở nên gay gắt như vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa mới ra đời (3/2/1930) đã nhanh
chóng nắm bắt tình hình và kịp thời lãnh đạo giai cấp công – nông cùng người dân lao động
vùng lên đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.
Sự lãnh đạo kịp thời của Đảng đã làm bùng lên cao trào cách mạng trong năm 1930 –
1931 trên khắp cả ba miền Bắc – Trung – Nam:
+ Từ tháng 2 đến tháng 4/1930, 3000 công nhân đồn điền Phú Riềng, 4000 công nhân
nhà máy sợi Nam Định bãi công. Sau đó là những cuộc bãi công của công nhân nhà máy
diêm - cưa Bến Thủy, xi măng Hải Phòng, dầu Nhà Bè, đồn điền Dầu Tiếng Đồng thời,
nông dân ở Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng biểu tình.
+ Trong ngày Quốc tế lao động 1/5/1930, công nông và dân chúng Việt Nam từ thành
thị đến nông thôn khắp cả ba miền đất nước đã tiến hành bãi công, tuần hành và biểu tình
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
+ Sau ngày 1/5/1930, làn sóng đấu tranh tiếp tục dâng cao; trong tháng 5/1930, cả nước
có 16 cuộc đấu tranh của công nhân, 34 cuộc của nông dân, 4 cuộc của học sinh và dân
nghèo thành thị.
2.2. Phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Nghệ - Tĩnh
Nhân ngày Quốc tế lao động 1/5/1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tại Nghệ An
đã lãnh đạo công nhân nhà máy diêm, cưa Bến Thủy cùng hàng ngàn nông dân các vùng lân
12
cận thị xã Vinh rầm rộ biểu tình thị uy, giương cao cờ đỏ Búa liềm và các khẩu hiệu đòi tăng
lương, giảm giờ làm, giảm sưu thuế, Ban hành luật lao động, chống khủng bố chính trị
Thực dân Pháp đã xã súng vào đoàn người biểu tình, làm 7 người chết, 18 người bị
thương và chúng bắt hơn 100 người.
Cũng trong ngày 01/5/1930, 3000 nông dân huyện Thanh Chương biểu tình, phá đồn
điền Kí Viện, cắm cờ Búa liềm trên nóc nhà, lấy ruộng đất chia cho nông dân. Thực dân
Pháp đàn áp làm 18 người chết và 30 người bị thương.
Ngày 1/8/1930, tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Vinh - Bến
Thủy nhân ngày Quốc tế chống chiến tranh đế quốc nổ ra.
Sau ngày 1/8/1930, nhiều vùng nông thôn Nghệ - Tĩnh đã nổ ra những cuộc đấu tranh
trên quy mô lớn dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ của nông dân. Tiêu biểu như nông
dân huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc
Ngày 12/9/1930, phong trào được đẩy lên giai đoạn đỉnh cao khi 2 vạn người ở Hưng
Nguyên (Nghệ An) đã biểu tình hưởng ứng cuộc đấu tranh của nông dân các huyện và cuộc
bãi công của công nhân Vinh.
Pháp đã cho máy bay ném bom làm 217 người chết và 125 người bị thương.
Hành động khủng bố của Pháp như thêm dầu vào lửa, nông dân huyện Thanh Chương,
Diễn Châu (Nghệ An) và Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã khởi nghĩa vũ trang, công nhân Vinh -
Bến Thủy đã bãi công trong suốt tháng 9 và 10 năm 1930.
Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ đó, chính quyền thực dân và phong kiến tay sai ở
nhiều huyện bị tê liệt, tan rã. Các tổ chức Đảng ở địa phương đã lãnh đạo quần chúng bầu ra
Ban chấp hành Nông hội xã hoạt động theo kiểu các tổ chức Xô Viết.
2.3. Tổ chức và hoạt động của chính quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh
Sau khi được thành lập, các chính quyền Xô Viết đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm
đem lại lợi ích cho nhân dân:
Về kinh tế: Chia ruộng đất cho nông dân, bắt địa chủ giảm tô, xoá nợ, bãi bỏ các thứ
thuế của đế quốc, phong kiến.
Về chính trị: Thực hiện các quyền tự do dân chủ, lập các tổ chức quần chúng như:
hội tương tế, công hội, hội phụ nữ giải phóng tiến hành các cuộc mittinh, hội nghị để tuyên
truyền, giáo dục quần chúng.
Về quân sự: Lập những đội tự vệ vũ trang ở các vùng.
Về xã hội: Bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục, khuyến khích nhân dân học chữ quốc
ngữ nhằm xây dựng đời sống mới.
Chính quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh duy trì 4 – 5 tháng thì bị thực dân Pháp và tay sai
đàn áp. Tuy chỉ tồn tại ở một số xã trong vòng 4, 5 tháng, nhưng hoạt động của của chính
quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã thể hiện được bản chất cách mạng của một chính quyền công
nông.
2.4. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm
Đây là một sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, nó đã giáng
một đòn mạnh mẽ và quyết liệt vào bè lũ đế quốc và phong kiến tay sai.
Phong trào đã cho thấy rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng, nếu giai cấp công nhân và
nông dân đoàn kết với các tầng lớp nhân dân khác thì hoàn toàn có khả năng lật đổ nền thống
trị của đế quốc và phong kiến.
Phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về phân hoá kẻ
thù, giành và bảo vệ chính quyền.
Đây là cuộc diễn tập đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chuẩn bị cho
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sau này.
3. Chính sách khủng bố trắng của đế quốc Pháp và quá trình phục hồi lực lượng
cách mạng 1931 - 1935
13
Cuối năm 1931, Pháp đã thi hành chính sách khủng bố trắng, thẳng tay đàn áp, làm cho
lực lượng cách mạng Việt Nam bị tổn thất nặng nề:
+ Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản, hàng vạn người yêu nước bị bắt; bị giết hoặc tù đày.
+ Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương lần lượt bị phá vỡ.
Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.
Mặc dù bị khủng bố ác liệt, các đảng viên cộng sản yêu nước vẫn tìm cách nối lại liên
lạc để gây dựng lại lực lượng cách mạng:
+ Các đảng viên trong tù tìm cách liên lạc với nhau và bắt liên lạc với bên ngoài để
hoạt động.
+ Số đảng viên còn lại bên ngoài bí mật tìm cách gầy dựng lại các tổ chức cơ sở của
Đảng.
Đến cuối năm 1934 đầu 1935, hệ thống tổ chức Đảng trong nước đã được khôi phục:
+ Các xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ được lập lại.
+ Các đoàn thể như công hội, nông hội cũng được lập lại.
+ Đến tháng 03/1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp ở Macao (Trung Quốc)
chuẩn bị cho một thời kì đấu tranh mới.
Câu hỏi và bài tập:
1. Sự ra đời và hoạt động của chính quyền Xô Viết - Nghệ Tỉnh 1930. (Đề thi tuyển
sinh Đại học Công Đoàn năm 1999)
2. Em có nhận xét gì về quy mô, lực lượng tham gia và hình thức đấu tranh của cao
trào cách mạng 1930 – 1931?.
14
vẫn còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tổ chức và liên kết. (25 vụ đấu tranh)
+ Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập Công hội đỏ (bí mật) do Tôn
Đức Thắng đứng đầu.
+ Năm 1922: công nhân viên chức ở các sở công thương tư nhân Bắc kỳ đòi trả lương
ngày chủ nhật, thợ nhuộm ở Chợ Lớn bãi công.
+ Năm 1924: công nhân dệt, rượu ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương bãi công.
+ Đặc biệt, tháng 8/1925, công nhân Ba Son (Sài Gòn) đã lấy cớ đòi quyền lợi để bãi
công nhằm ngăn cản tàu chiến của Pháp chở quân sang đàn áp phong trào đấu tranh của các
thủy thủ Trung Quốc => Cuộc bãi công kết thúc thắng lợi với sự hưởng ứng và hỗ trợ của
công nhân các ngành khác ở Sài Gòn.
Đây là cuộc bãi công có tổ chức và mục tiêu chính trị rõ ràng, không còn mang tính tự
phát, vì mục đích kinh tế đơn thuần như trước đây. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quan
trọng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Sự lớn mạnh về quy mô và trưởng thành về tổ chức và chính trị của phong trào công
nhân Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho quá trình truyền bá và phát triển chủ nghĩa Mác-
Lênin ở Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn sau này.
4. Hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc (1919 - 1924) ở nước ngoài
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Văn Ba đã rời cảng Nhà Rồng
trên con tàu vận tải La-tus-trê-vin để sang các nước phương Tây.
Từ 1911 đến 1917, Người đến nhiều nước ở Châu Phi, Châu Mĩ và đến cuối năm 1917
Người trở về Pháp và gia nhập Đảng xã hội Pháp.
Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc cùng với các chí sĩ cách mạng Việt Nam tại Pháp đã
gửi tới Hội nghị Vec-xai “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đòi Chính phủ Pháp thừa
nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Nhưng bản yêu sách
đã không được chấp nhận.
Tháng 7/1920, Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của Lênin, từ đó Người tin theo Lênin và đứng về phía Quốc tế cộng sản.
Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng xã hội Pháp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập Quốc tế 3, và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp, Người trở thành
người Cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin một con đường mới cho phong
trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam đó là Con đường cách mạng vô sản.
Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pháp.
Năm 1922, ra báo “Người cùng khổ” để vạch trần tội ác của Chủ nghĩa đế quốc. Ngoài
ra còn viết bài cho các báo “Nhân đạo”, “Đời sống” và viết cuốn “Bản án chế độ thực dân
Pháp”
Năm 1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân và ở lại làm việc tại Quốc
tế 3, viết bài cho báo Sự thật, Tạp chí thư tín Quốc tế
Năm 1924, Người dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V.
Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị cho việc
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Câu hỏi và bài tập: Xem ở phần bài tập của bài 3
5
BÀI 3
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM TRƯỚC THÀNH LẬP ĐẢNG (1925 – 1930)
1. Sự phát triển của khuynh hướng cách mạng vô sản và phong trào công nhân
1.1. Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên
1.1.1. Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
Sau khi trở về Quảng Châu – Trung Quốc (1/11/1924), Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc
với các nhà cách mạng Việt Nam ở đây cùng với một số thanh niên Việt Nam hăng hái mới
từ trong nước sang.
Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn một số thanh niên Việt Nam tích cực để
tuyên truyền giác ngộ họ và lập ra tổ chức “Cộng sản đoàn”.
Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên,
trong đó tổ chức “Cộng sản đoàn” là nòng cốt và ra tuần báo Thanh niên làm cơ quan tuyên
truyền của Hội.
1.1.2. Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
Từ năm 1924 đến năm 1927, Người đã trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào
tạo được 75 thanh niên Việt Nam thành những chiến sĩ cách mạng để truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân
Việt Nam.
Đầu năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp những bài giảng trong các lớp đào tạo cán
bộ ở Quảng Châu và in thành tác phẩm “Đường Cách Mệnh”.
Nội dung cơ bản của tác phẩm “Đường Cách Mệnh”:
* Ba tư tưởng cơ bản của cách mạng Việt Nam:
Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng đông đảo, nên phải động viên, tổ chức và
lãnh đạo quần chúng vùng dậy đánh đổ các giai cấp áp bức, bóc lột.
Cách mạng phải có Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo.
Cách mạng trong nước cần phải đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới và là một bộ
phận của cách mạng thế giới.
* Sáu mục đích nói cho đồng bào ta biết rõ:
Vì sao chúng ta muốn sống thì phải làm cách mệnh?
Vì sao cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai
người?
Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi.
Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ.
Ai là bạn ta và ai là thù ta?
Cách mệnh thì phải làm như thế nào?
Năm 1926, Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên đã có những tổ chức cơ sở ở nhiều
trung tâm lớn trong nước (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn )
Song song với việc phát triển cơ sở hội trong nước, tác phẩm “Đường Cách Mệnh” và
tuần báo Thanh Niên được bí mật đưa về nước để tuyên truyền và phổ biến chủ nghĩa Mác-
Lênin vào giai cấp vô sản.
Năm 1928, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên thực hiện chủ trương “Vô sản hoá”:
Đưa hội viên đã được đào tạo vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền , cùng sống, lao động với
công nhân để tự rèn luyện, đồng thời trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp
công nhân Việt Nam.
Đến tháng 5/1929, Hội đã có tổ chức cơ sở hầu khắp cả nước.
1.2. Phong trào công nhân trở thành một lực lượng độc lập 1925 - 1929
6
Những hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên đã tác động mạnh mẽ đến sự giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam.
Thêm vào đó là sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Quảng Châu và
những Nghị quyết về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa của Đại hội Quốc tế Cộng
sản lần thứ 5 , phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn
1926 – 1929:
* Trong hai năm 1926 – 1927: Nhiều cuộc bãi công của công nhân viên chức đã nổ
ra liên tiếp ở nhiều nơi như: Nhà máy sợi Nam Định, đồn điền cao su Cam Triêm, Phú
Riềng, đồn điền cà phê Rayan (Thái Nguyên).
* Trong hai năm 1928 – 1929: Có đến 40 cuộc đấu tranh nổ ra trên khắp cả nước,
tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy ximăng, sợi Hải Phòng, nhà máy
sợi Nam Định, nhà máy diêm - cưa Bến Thủy, đóng xe lửa Trường Thi (Vinh), Xưởng sửa
chữa ôtô Avia (Hà Nội), Xưởng đóng, sửa chữa tàu Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền Phú Riềng.
Đặc điểm của phong trào công nhân trong giai đoạn này là đã vượt ra khỏi phạm vi của
một nhà máy, công xưởng, bước đầu có sự liên kết giữa nhiều ngành, nhiều địa phương và đã
trở thành một phong trào liên tục, mạnh mẽ. Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công
nhân đã nâng lên rõ rệt và giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc
lập.
Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của phong trào công nhân, phong trào đấu tranh
của nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp yêu nước khác cũng phát triển, tạo nên một làn
sóng cách mạng dân tộc khắp cả nước.
2. Phong trào đấu tranh do tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo (1925 - 1930).
2.1. Tân Việt Cách Mạng Đảng và sự phân hoá của nó
Cùng với sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên ở nước ngoài, tháng
7/1925, tại Vinh (Nghệ An), nhóm chính trị phạm ở Trung kỳ và các sinh viên trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội đã thành lập Hội Phục Việt.
Đây là một tổ chức yêu nước, nhưng khi mới thành lập, Hội chưa có lập trường rõ ràng.
Sau cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu (11/1925), thực dân Pháp đã phát hiện và
theo dõi, phá hoại, nên Hội đã đổi tên thành Hội Hưng Nam.
Trong quá trình hoạt động, Hội Hưng Nam đã chịu tác động mạnh mẽ của lập trường,
tư tưởng cách mạng vô sản của Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên:
+ Hội Hưng Nam đã nhiều lần liên lạc để hợp nhất với Hội Việt Nam Cách Mạng
Thanh Niên, nhưng không thành.
+ Nhiều lần đổi tên: Năm 1926: Việt Nam cách mạng Đảng; Năm 1927 đổi thành Việt
Nam cách mạng đồng chí hội; và tháng 7/1928, lấy tên Tân Việt cách mạng Đảng.
* Nội bộ của Tân Việt cách mạng Đảng bị phân hoá mạnh mẽ do tác động của Hội
Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên:
- Một bộ phận lớn theo đường lối vô sản và nhóm này cũng phân thành 2 nhóm:
+ Một nhóm nhỏ gia nhập vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên.
+ Nhóm còn lại chuẩn bị thành lập một chính đảng mới theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Bộ phận còn lại theo đường lối dân chủ tư sản.
2.2. Việt Nam Quốc dân Đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái
2.2.1. Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập
Đầu năm 1927, một nhóm thanh niên yêu nước do Phạm Tuấn Tài đứng đầu đã lập ra
một nhà xuất bản tiến bộ - Nam Đồng thư xã.
Lúc đầu, họ chưa có đường lối chính trị rõ rệt, nhưng sau đó đã tiếp thu tư tưởng Tam
dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) và lập ra Việt Nam quốc dân Đảng vào cuối năm
1927. Đây là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản.
+ Mục tiêu của đảng là đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.
7
+ Thành phần của đảng gồm sinh viên, học sinh, công chức, tư sản lớp dưới, người làm
nghề tự do, một số nông dân khá giả, thân hào, địa chủ, binh lính sĩ quan người Việt trong
quân đội Pháp
+ Về tổ chức, Việt nam Quốc dân Đảng có 4 cấp từ Trung ương xuống chi bộ cơ sở
nhưng chưa bao giờ trở thành một hệ thống trong cả nước, việc kết nạp đảng viên dễ dàng,
lỏng lẽo
2.2.2. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (02/1930)
* Nguyên nhân bùng nổ
Ngày 9/2/1929, ở Hà Nội xảy ra vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba – Danh (Bazin), thực
dân Pháp đã tiến hành đàn áp các tổ chức và đảng phái cách mạng Việt Nam.
Lực lượng của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị tổn thất lớn trong đợt truy quét này. Thay
vì phải tập trung để khôi phục và củng cố lực lượng, các yếu nhân còn lại của Đảng này đã
quyết định dốc hết lực lượng cho một cuộc bạo động với mục tiêu “Không thành công cũng
thành nhân”.
* Diễn biến
Đêm 9/2/1930, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái, sau đó là Phú Thọ, Hải Dương, Thái
Bình. Ở Hà Nội có ném bom phối hợp.
Ở Yên Bái, quân khởi nghĩa chiếm được trại lính, giết và làm bị thương một số quân
Pháp, nhưng không làm chủ được tỉnh lị nên hôm sau đã bị Pháp phản công và tiêu diệt.
Ở các nơi khác, nghĩa quân cũng chỉ tạm thời làm chủ mấy huyện lị nhỏ, sau đó bị
Pháp chiếm lại.
Cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn thất bại, Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí của ông bị
thực dân Pháp kết án tử hình.
* Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử
Cuộc khởi nghĩa chưa được chuẩn bị đầy đủ cả về tổ chức lẫn lực lượng, trong khi đó
thực dân Pháp còn rất mạnh, đủ sức để đàn áp.
Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa đã góp phần cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân.
Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã chấm dứt vai trò của Việt Nam Quốc dân
Đảng trong phong trào giải phóng dân tộc.
Câu hỏi và bài tập Bài 2 & 3:
1. Quá trình phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới
thứ nhất đến trước khi thành lập Đảng.
2. Tình hình giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ
nhất đến trước khi thành lập Đảng.
3. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta trong giai đoạn
1919 – 1930. Tại sao các phong trào đều thất bại?
4. Vai trò của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đối với phong trào công nhân và
sự ra đời của chính đảng vô sản Việt Nam.
8
BÀI 4
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI (03 - 2 - 1930)
1. Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
1.1. Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng
Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ và đặc biệt là phong trào công
nhân trong những năm 1928 – 1929 cho thấy đã đến lúc cần phải lãnh đạo giai cấp công –
nông cùng các lực lượng yêu nước khác đấu tranh chống đế quốc, phong kiến tay sai giành
độc lập, tự do.
Những yêu cầu mới đó đã vượt quá khả năng lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách Mạng
Thanh Niên.
Cuối tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên
ở Bắc kỳ đã họp ở số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội) và lập ra chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt
Nam gồm 7 người, mở đầu cho quá trình thành lập Đảng cộng sản thay thế cho Hội Việt
Nam cách mạng Thanh Niên.
Tháng 5/1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên (ở Hương Cảng – Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập Đảng
cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi Hội nghị về nước và tiến hành
vận động thành lập Đảng cộng sản.
Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở của Hội VNCMTN ở miền Bắc đã họp và
quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ Đảng và
ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
Đông Dương Cộng Sản Đảng ra đời đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của quần
chúng, uy tín và tổ chức Đảng phát triển rất nhanh, nhất là ở Bắc và Trung kỳ.
Trước ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng, tháng 7/1929, các hội
viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Trung Quốc và Nam kỳ cũng đã
quyêt định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.
1.2. Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn
Sự ra đời và ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng
Sản Đảng đã tác động mạnh mẽ đối với những đảng viên theo chủ trương cách mạng vô sản
trong Tân Việt Cách Mạng Đảng.
Tháng 9/1929, nhóm theo chủ nghĩa Mác trong Tân Việt Cách Mạng Đảng đã tách ra,
thành lập Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn.
1.3. Ý nghĩa
Đó là kết quả tất yếu trong quá trình vận động cách mạng Việt Nam.
Đánh dấu bước trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam và chứng tỏ xu hướng
cách mạng vô sản là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đây là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
2. Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03 - 07/02/1930)
2.1. Bối cảnh lịch sử
Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam là một xu thế tất yếu và ba tổ chức cộng
sản đá lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đấu tranh mạnh mẽ hơn.
Song, trong quá trình tuyên truyền vận động quần chúng, các tổ chức này đã tranh
giành, công kích lẫn nhau, gây nên tình trạng thiếu thống nhất, đẩy phong trào cách mạng
Việt Nam đứng trước nguy cơ bị chia rẽ.
Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng cộng sản thống nhất
trong cả nước.
Trước tình hình đó, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam.
9
2.2. Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng
Từ ngày 03 đến ngày 7/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), Nguyễn Ái
Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Tham dự Hội nghị có đại diện của
Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng.
Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã phân tích tình hình thế giới, trong nước, phê phán
những hành động thiếu thống nhất của các tổ chức Cộng sản, và đề nghị các tổ chức cộng sản
hợp nhất thành một Đảng cộng sản duy nhất.
Các đại biểu đã nhất trí hợp nhất thành một Đảng Cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng
Cộng Sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của
Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
2.3. Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên (03/02/1930)
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền và
cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp cùng bọn phong
kiến, tư sản phản cách mạng để làm cho nước Việt Nam độc lập, thành lập chính phủ công –
nông – binh, tiến tới làm cách mạng ruộng đất. Trong đó, quan trọng nhất là nhiệm vụ chống
đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.
Lực lượng cách mạng bao gồm chủ yếu là công – nông. Ngoài ra còn phải liên kết với
tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hay ít ra cũng trung lập phú nông, trung tiểu địa
chủ, và tư sản An Nam chưa lộ rõ bản chất phản cách mạng.
Lãnh đạo cách mạng là Đảng cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền
tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng cùng mặt
trận với các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới.
Cương lĩnh đầu tiên này tuy vắn tắt, nhưng thể hiện rõ tư tưởng cách mạng đúng đắn,
sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn.
2.4. Cương lĩnh chính trị 10/1930
Tháng 10/1930, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã họp Hội nghị lần thứ
nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc).
Hội nghị đã bầu Ban chấp hành chính thức do đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư, đổi
tên Đảng thành Đảng Cộng Sản Đông Dương và thông qua luận cương chính trị do Trần Phú
soạn thảo.
* Nội dung của luận cương chính trị 10/1930:
Tính chất của cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền. Sau khi
thắng lợi sẽ bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là đánh đổ các thế lực phong kiến, các hình thức bóc
lột theo lối tiền tư bản, thực hiện triệt để cách mạng thổ địa, đánh đổ đế quốc Pháp, làm cho
Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính, vô sản nắm quyền lãnh đạo cách
mạng.
Điều kiện cốt yếu dẫn đến thắng lợi là Đảng cộng sản lãnh đạo. Khi tình thế cách mạng
xuất hiện, Đảng lãnh đạo quần chúng đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền cho công
– nông. Đảng phải liên lạc với vô sản và các thuộc địa trên thế giới, nhất là vô sản Pháp.
2.5. So sánh Cương lĩnh đầu tiên 3/2/1930 với Luận cương chính trị 10/1930
So với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Luận cương tháng 10/1930 có một số điểm khác
biệt và chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
trong khi đó Luận cương tháng 10/1930 lại quá đặt nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng
10
ruộng đất. Điều đó cho thấy, Luận cương chính trị 10/1930 đã chưa vạch rõ được những mâu
thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Thứ hai, nếu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tranh thủ lôi kéo các bộ
phận tầng lớp giai cấp thì Luận cương tháng 10/1930 chỉ đề cao vai trò tuyệt đối của công –
nông, bỏ qua nhiều lực lượng yêu nước khác. So với thực tế xã hội Việt Nam lúc bấy giờ,
Luận cương tháng 10 đã chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của nhiều tầng lớp khác
trong xã hội và chưa thấy được sự phân hoá của tư sản và địa chủ.
3. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Là kết qủa tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam thời đại mới.
Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo và
đường lối đấu tranh của cách mạng Việt Nam.
Nó chứng tỏ rằng, giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo
cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp
công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và cách mạng Việt Nam trở
thành một bộ phận của cách mạng thế giới.
Sự ra đời của Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển nhảy vọt về sau của dân tộc Việt
Nam. Nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Câu hỏi và bài tập:
1. Trình bày những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trong những năm từ 1919
đến 1930. (Đề thi tuyển sinh Đại học Đà Lạt năm 1999).
2. Từ năm 1919 đến năm 1930, phong trào công nhân Việt Nam đã phát triển như thế nào?
(Đề thi tuyển sinh Đại học Công đoàn năm 1999)
3. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930)
(Đề thi tuyển sinh Đại học Mở Hà Nội năm 1999)
4. Anh (Chị) hãy trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thập niên 20 của thế
kỉ XX nhằm chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở
Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh năm 2000)
5. Bằng những sự kiện chọn lọc, anh (chị) hãy trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2001).
5. Hoàn cảnh lịch sử và nội dung của Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
(03/02/1930). (Đề thi tuyển sinh Cao đẳng Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh năm 1999).
7. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930). (Đề thi tuyển sinh
Đại học Luật Hà Nội năm 1999).
8. Tại sao nói: sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bước ngoặt vĩ đại của cách
mạng Việt Nam? (Đề thi tuyển sinh Đại học mở Hà Nội năm 1999)
9. Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng 03/02/1930. (Đề thi
tuyển sinh Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000).
10. Hãy phân tích tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh năm
2000).
11
BÀI 5
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1931 VÀ CUỘC ĐẤU
TRANH PHỤC HỒI LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG 1932 - 1935
1. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và những tác động của nó đối với
xã hội Việt Nam
Trong giai đoạn 1929 – 1933, các nước tư bản chủ nghĩa nói chung và đế quốc Pháp
nói riêng lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nặng nề. Cuộc khủng hoảng đã tác động
trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam:
+ Thực dân Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương về các ngân hàng Pháp và dùng ngân
sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp => Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam bị thiếu
vốn dẫn đến đình trệ.
+ Lúa gạo trên thị trường thế giới bị mất giá làm cho lúa gạo Việt Nam không xuất
khẩu được => Ruộng đất bị bỏ hoang.
Hậu quả là nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; Ruộng
đất bỏ hoang, công nghiệp suy sụp, xuất khẩu đình đốn , làm cho đời sống của đại bộ phận
nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh khốn cùng:
Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, số người có việc làm thì tiền lương bị giảm từ
30 đến 50%.
Nông dân tiếp tục bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn.
Tiểu tư sản lâm vào cảnh điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải,
học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp.
Một bộ phận lớn tư sản dân tộc lâm vào cảnh khó khăn do không thể buôn bán và sản
xuất.
Thêm vào đó, thực dân Pháp còn tăng sưu thế lên gấp 2, 3 lần và đẩy mạnh chính sách
khủng bố trắng hòng dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam… làm cho cuộc sống của
người dân lao động khốn khổ đến tột cùng.
2. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh
2.1. Phong trào đấu tranh trong cả nước nửa đầu năm 1930
Trong bối cảnh mâu thuẫn của dân tộc Việt Nam đối với thực dân Pháp và tay sai đang
trở nên gay gắt như vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa mới ra đời (3/2/1930) đã nhanh
chóng nắm bắt tình hình và kịp thời lãnh đạo giai cấp công – nông cùng người dân lao động
vùng lên đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.
Sự lãnh đạo kịp thời của Đảng đã làm bùng lên cao trào cách mạng trong năm 1930 –
1931 trên khắp cả ba miền Bắc – Trung – Nam:
+ Từ tháng 2 đến tháng 4/1930, 3000 công nhân đồn điền Phú Riềng, 4000 công nhân
nhà máy sợi Nam Định bãi công. Sau đó là những cuộc bãi công của công nhân nhà máy
diêm - cưa Bến Thủy, xi măng Hải Phòng, dầu Nhà Bè, đồn điền Dầu Tiếng Đồng thời,
nông dân ở Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng biểu tình.
+ Trong ngày Quốc tế lao động 1/5/1930, công nông và dân chúng Việt Nam từ thành
thị đến nông thôn khắp cả ba miền đất nước đã tiến hành bãi công, tuần hành và biểu tình
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
+ Sau ngày 1/5/1930, làn sóng đấu tranh tiếp tục dâng cao; trong tháng 5/1930, cả nước
có 16 cuộc đấu tranh của công nhân, 34 cuộc của nông dân, 4 cuộc của học sinh và dân
nghèo thành thị.
2.2. Phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Nghệ - Tĩnh
Nhân ngày Quốc tế lao động 1/5/1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tại Nghệ An
đã lãnh đạo công nhân nhà máy diêm, cưa Bến Thủy cùng hàng ngàn nông dân các vùng lân
12
cận thị xã Vinh rầm rộ biểu tình thị uy, giương cao cờ đỏ Búa liềm và các khẩu hiệu đòi tăng
lương, giảm giờ làm, giảm sưu thuế, Ban hành luật lao động, chống khủng bố chính trị
Thực dân Pháp đã xã súng vào đoàn người biểu tình, làm 7 người chết, 18 người bị
thương và chúng bắt hơn 100 người.
Cũng trong ngày 01/5/1930, 3000 nông dân huyện Thanh Chương biểu tình, phá đồn
điền Kí Viện, cắm cờ Búa liềm trên nóc nhà, lấy ruộng đất chia cho nông dân. Thực dân
Pháp đàn áp làm 18 người chết và 30 người bị thương.
Ngày 1/8/1930, tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Vinh - Bến
Thủy nhân ngày Quốc tế chống chiến tranh đế quốc nổ ra.
Sau ngày 1/8/1930, nhiều vùng nông thôn Nghệ - Tĩnh đã nổ ra những cuộc đấu tranh
trên quy mô lớn dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ của nông dân. Tiêu biểu như nông
dân huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc
Ngày 12/9/1930, phong trào được đẩy lên giai đoạn đỉnh cao khi 2 vạn người ở Hưng
Nguyên (Nghệ An) đã biểu tình hưởng ứng cuộc đấu tranh của nông dân các huyện và cuộc
bãi công của công nhân Vinh.
Pháp đã cho máy bay ném bom làm 217 người chết và 125 người bị thương.
Hành động khủng bố của Pháp như thêm dầu vào lửa, nông dân huyện Thanh Chương,
Diễn Châu (Nghệ An) và Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã khởi nghĩa vũ trang, công nhân Vinh -
Bến Thủy đã bãi công trong suốt tháng 9 và 10 năm 1930.
Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ đó, chính quyền thực dân và phong kiến tay sai ở
nhiều huyện bị tê liệt, tan rã. Các tổ chức Đảng ở địa phương đã lãnh đạo quần chúng bầu ra
Ban chấp hành Nông hội xã hoạt động theo kiểu các tổ chức Xô Viết.
2.3. Tổ chức và hoạt động của chính quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh
Sau khi được thành lập, các chính quyền Xô Viết đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm
đem lại lợi ích cho nhân dân:
Về kinh tế: Chia ruộng đất cho nông dân, bắt địa chủ giảm tô, xoá nợ, bãi bỏ các thứ
thuế của đế quốc, phong kiến.
Về chính trị: Thực hiện các quyền tự do dân chủ, lập các tổ chức quần chúng như:
hội tương tế, công hội, hội phụ nữ giải phóng tiến hành các cuộc mittinh, hội nghị để tuyên
truyền, giáo dục quần chúng.
Về quân sự: Lập những đội tự vệ vũ trang ở các vùng.
Về xã hội: Bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục, khuyến khích nhân dân học chữ quốc
ngữ nhằm xây dựng đời sống mới.
Chính quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh duy trì 4 – 5 tháng thì bị thực dân Pháp và tay sai
đàn áp. Tuy chỉ tồn tại ở một số xã trong vòng 4, 5 tháng, nhưng hoạt động của của chính
quyền Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã thể hiện được bản chất cách mạng của một chính quyền công
nông.
2.4. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm
Đây là một sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, nó đã giáng
một đòn mạnh mẽ và quyết liệt vào bè lũ đế quốc và phong kiến tay sai.
Phong trào đã cho thấy rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng, nếu giai cấp công nhân và
nông dân đoàn kết với các tầng lớp nhân dân khác thì hoàn toàn có khả năng lật đổ nền thống
trị của đế quốc và phong kiến.
Phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về phân hoá kẻ
thù, giành và bảo vệ chính quyền.
Đây là cuộc diễn tập đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chuẩn bị cho
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sau này.
3. Chính sách khủng bố trắng của đế quốc Pháp và quá trình phục hồi lực lượng
cách mạng 1931 - 1935
13
Cuối năm 1931, Pháp đã thi hành chính sách khủng bố trắng, thẳng tay đàn áp, làm cho
lực lượng cách mạng Việt Nam bị tổn thất nặng nề:
+ Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản, hàng vạn người yêu nước bị bắt; bị giết hoặc tù đày.
+ Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương lần lượt bị phá vỡ.
Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.
Mặc dù bị khủng bố ác liệt, các đảng viên cộng sản yêu nước vẫn tìm cách nối lại liên
lạc để gây dựng lại lực lượng cách mạng:
+ Các đảng viên trong tù tìm cách liên lạc với nhau và bắt liên lạc với bên ngoài để
hoạt động.
+ Số đảng viên còn lại bên ngoài bí mật tìm cách gầy dựng lại các tổ chức cơ sở của
Đảng.
Đến cuối năm 1934 đầu 1935, hệ thống tổ chức Đảng trong nước đã được khôi phục:
+ Các xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ được lập lại.
+ Các đoàn thể như công hội, nông hội cũng được lập lại.
+ Đến tháng 03/1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp ở Macao (Trung Quốc)
chuẩn bị cho một thời kì đấu tranh mới.
Câu hỏi và bài tập:
1. Sự ra đời và hoạt động của chính quyền Xô Viết - Nghệ Tỉnh 1930. (Đề thi tuyển
sinh Đại học Công Đoàn năm 1999)
2. Em có nhận xét gì về quy mô, lực lượng tham gia và hình thức đấu tranh của cao
trào cách mạng 1930 – 1931?.
14
Tài liệu 380 bài luận mẫu tiếng anh - Phần 2 ppt
in the suitcase without which I could not enrol
7
for the course. Not withstanding
8
all the
worries, I fell asleep at last, with complete exhaustion, I guess.
The first thing I remembered the next morning was my suitcase. I got dressed and
rushed down the seemingly endless flight of stairs to the information counter. The lady
greeted me with the sweetest smile I have ever seen. She told me to come behind the
counter. I did and there, behind the counter stood the too familiar, red suitcase. I almost
screamed with joy. I squeezed her hands and expressed my deepest thanks.
I picked up my suitcase and ran with it to my room. I knelt down and humbly thanked
God for having saved me from the mess I was in. I have learnt my lesson and promised
myself to be extra careful in future. I was also determined not to let anyone at home
know about this incident forever !
1. stuff /st^f/ (v) nhồi nhét cái gì vào đầy cái gì•
2. brooch /br6$t~/ (n) trâm, ghim hoa
3. hail /he1l/ (v) ra hiệu cho (tác xi, v.v…) dừng lại
4. hostel /'h4stl/ (n) nhà ký túc, khu tập thể
5. boot /bu:t/ (n) ngăn để hành lý, thường nằm phía sau xe ô tô
6. plight /pla1t/ (n) cảnh ngộ khốn khó
7. enrol /1n'r6$l/ (n) ghi danh
8. withstand /w15'st%nd/ (v) cưỡng lại
143. DANGEROUS COMPANION
KẺ ĐỒNG HÀNH NGUY HIỂM
"All aboard!" The loud commanding voice woke me up from my nap. Grabbing my
knap-sack I shoved my way through the crowd towards the train. I jumped onto it and
hurriedly moved from carriage
1
to carriage trying to locate the one in which Miss Lou
was. I could have written to her and asked for the carriage number, but there was no fun
in that. I wanted to surprise her.
I glanced at my pocket watch that Miss Lou had given me on my last birthday. I
plunged
2
into a nostalgia mood, as I recollected how fondly Miss Lou who is actually
none other than my dear auntie had taken care of me when I was young.
"April, April" a shrill, familiar voice cut my thoughts. I looked up to see the ever smiling
face of my Aunt Lou. I was filled with joy at seeing her. I explained that I had, at the
spur
3
of the moment, decided to accompany her to Paris. In our excitement, we had
forgotten about the other passengers in the carriage. If not for Aunt Lou's elderly
companion and nurse, we would have certainly been carried away during this
memorable moment. Miss Prude (a very apt
4
name for her, I thought) interrupted us
curtly, saying, "Madame, it's time for your medicine".
That night, we had a lovely time together. Aunt Lou was proud to show me her
fabulous
5
jewellery collection. Among her favourites and most expensive was an
exquisite diamond-studded
6
necklace, intricately and skillfully crafted. On seeing these
priceless possessions of hers, I raised my doubts about their safety. She told me not
worry as she had always kept them in a "poor-looking box" to avoid suspicion.
In the morning, we had breakfast together and this time we were not bothered and
haunted by Aunt Lou's companion. It was on my way to the cashier that I noticed a
young and beautiful woman going into the carriage we had been in a short while ago. I
tried to recall the instance I had seen that familiar face before but I failed.
When I saw Aunt Lou's smiling face, I forgot everything about that mysterious lady.
Both of us then, walked towards our carriage. We knew something was amiss
7
when we
saw the door ajar. Aunt Lou turned pale and nearly fainted when she discovered that her
jewel box was missing.
I was suddenly reminded of Miss Prude. She was the only person who had access
8
to the
carriage. She might have overheard us talking about the box during the previous night.
With the help of some concerned passengers and a train officer, we searched high and
low for somebody fitting the descrition of Miss Prude.
We were about to give up our search when my eyes fell upon the beautiful, mysterious
lady. Her too-familiar face bore the look of unpardonable guilt. I grabbed the officer's
arm and pointed to her. She tried to escape but was caught with the box in her bag.
Aunt Lou praised me for uncovering the disguise.
9
It was later found that before this
incident, Miss Prude had used her skills in theatrical
10
makeup to deceive some ten to
fifteen rich and lonely old ladies who depended on her for companionship. Miss Prude
was indeed their most dangerous companion !
1. carrige /'k%r1d2/ (n) toa xe lửa chở hành khách
2. plunge (into) /pl^nd2/ (v) rơi vào một trạng thái
3. spur /sp3:(r)/ (n) sự thôi thúc, sự khuyến khích
4. apt /%pt/ (adj) thích hợp
5. fabulous /'f%bj$l6s/ (adj) tuyệt vời
6. diamond-studded /,da16m6nd 'st^d1d/ (adj) được nạm ngọc
7. amiss /6'm1s/ (adj) sai, không ổn
8. access /'%kses/ (n) cơ hội hoặc quyền sử dụng cái gì hoặc đến gần ai
9. disguise /d1's9a1z/ (n) sự ngụy trang, sự cải trang
10. theatrical make-up /81'%tr1kl 'me1k^p/ (n) sự hóa trang khi lên sân khấu
144. IT WAS NOT SUCH A GOOD BARGAIN AFTER ALL
RỐT CỤC ĐÓ NÀO PHẢI MỘT MÓN HỜI!
Sitting at a corner of my favourite coffee-shop one morning, I heard some noises behind
me. On directing my view to the opposite side of my table, I saw crowd holding a few
expensive watches. The pieces of diamond on the watches glittered under the sunlight.
With the urge to investigate, I dragged my lazy feet towards them.
To my amazement, there were about half a dozen Rolex watches costing not less than
three thousand dollars each. A slim, well-attired man curtly interrupted me and tried to
clear my dazed mind with a whisper. "My boy, don't be fooled by that charlatan
1
or
you'll get into trouble." So saying, he left me without giving me a chance to reply. Being
easily tempted and influenced, I found myself standing in front of the crowd directly
facing the man who was then the centre of attraction. In spite of the unidentified man's
warning, I inquired the seller for the price of the watches.
He was probably taken aback by the question coming from a young schoolboy like me
because he stared at me in disbelief. However, he held out to shake hands with me. He
asked me a few questions ; I guessed he was trying to see my earnestness at owning the
watch. Convinced of my intentions, he told me that he got those watches from his former
employer, year after year for he was hardworking and diligent. As he was then
financially tight, he had to sell all the watches. I was convinced beyond the shadow of a
doubt when the man produced copies of certificates proving the genuinness
2
of the
watches.
After inspecting
3
the watches thoroughly, I again inquired about the price. To my
astonishment, the man was willing to sell the watch for a thousand dollars which was
only thirty percent of the cost price. My heart almost leapt into my mouth when I
thought of this bargain. "Well, son, seeing that you're still schooling and not earning yet,
I'll let you have it for $850," said the man. "Wow ! What a bargain, I'll take it," I replied
without second thoughts.
I excused myself and ran to the Cash-On-Line teller across the road. I withdrew
4
the
required amount and turned my head towards the watch seller only to find him being
held by two police constables.
5
A large crowd has by then gathered in front of the
coffee-shop. The police then seized the diamond-studded Rolex watches and led the
watch dealer away in their van.
I traced my steps back towards the coffee-shop where my coffee (which had turned cold
by then), still stood patiently in the cup, waiting to be drunk. I was disappointed at what
had happened. The young, mysterious man who had warned me before came again and
this time he said mockingly,
6
"You see ? I told you to be careful. That man was a thief.
He stole the watches and some jewellery from a goldsmith shop. Police have been
tracking him ever since and thank goodness, at last they found him. The nerve of him
trying to cheat a young boy like you. It was lucky that you didn't buy the watch."
Without a single word, I nodded and shook hands with the man. I suppose that gesture
7
was worth a thousand words. The man stroked my hair and said, "Well son, it wasn't
such a good bargain after all !"
1. charlatan /'~@:l6t6n/ (n) kẻ (bất tài) hay lòe bòp
2. genuinness /'d2enj$1n1s/ (n) tính đích thực
3. inspect /1n'spekt/ (v) xem xét kỹ và tỉ mỉ
4. withdraw /w15'dr0:/ (v) (withdrew-withdrawn) rút (tiền) ra khỏi tài khoản ở ngân hàng
5. constable /'k^nst6bl/ (n) (cũng police constable) cảnh sát (nam hoặc nữ) ở cấp thấp nhất
6. mocking /'m4k17/ (adj) có tính chế giễu, nhạo báng - mockingly /-l1/ (adv)
7. gesture /'d2est~6(r)/ (n) cử chỉ, điệu bộ
145. CAPSIZED!
1
BỊ LẬT THUYỀN
It was a lovely evening when John arrived at his uncle Willy's fish farm. Uncle Willy
had promised to take John fishing in a boat. John was very excited at the prospect for he
had never been in a boat before.
John found Uncle Willy sitting on the bank of a large fish pond. His uncle was preparing
some fishing rods. John greeted him, "Hi, Uncle."
"Ah, John, you are here already," his uncle replied. "Let's get going, You take that
fishing rod there and get into the boat".
"Okay, uncle," replied John, He picked up the fishing rod and walked towards the boat.
The boat was floating gently on the water and John did not have the slightest clue
2
how
to get in. He put one food in the boat and the boat started sliding away from him.
Startled he withdrew his foot and nearly fell into the water.
"How do I get in?" he asked.
In reply Uncle Willy grabbed the boat with one hand and motioned John to get in.
Carefully John stepped into the boat and sat down. He felt strange sitting in a boat that
kept bouncing up and down and sideways too.
Uncle Willy untied the mooring rope
3
and stepped into the boat. He took an oar
4
and
expertly steered
5
the boat out into the middle of the lake.
John felt both excitement and fear. It was indeed exciting to be in a boat for the first
time. It was also fearful because he was afraid he might fall into the water. Anyhow he
watched the boat glide smoothly over the water. The view of the pond from the boat was
beautiful. It was great.
After a minute or so Uncle Willy stopped the boat and dropped a brick tied to a rope
over the side of the boat. This was his make-shift anchor and it did its job pretty well.
"Let's fish," Uncle Willy said to John.
So the two of them got about the joyful task of casting their lines into the calm water of
the pond.
Presently John saw his float jiggle
6
a bit before it disappeared straight into the water.
Wow! There must a big fish on his line ! In his excitement John stood up in the boat to
pull his line in. That was his undoing. He did not know it was not a good idea to stand in
a boat for the boat would become very unstable. Since he had never been in a boat
before he did not know that. So as soon as he stood up, the boat gave a mighty heave
7
and capsized dumping both of them into the pond with a big splash.
One moment John was grabbing frantically at his line, the next he was grabbing
frantically in the water for something to hold on to. It seemed like eternity
8
before his
hands found something solid. He held on tightly. It was part of the boat. However he
was still underwater and his lungs ached for air. Instinctively he moved upwards still
clutching the boat. Just as his lungs seemed like they would burst, John emerged above
the water. What a relief it was. He sucked in the cool sweet air. Never before had he
realised that the air was so sweet and soothing. My God, was he glad that he could
breathe.
When John could breathe normally again, he realised that the boat had capsized. He
looked around to see where his uncle was. He heard laughter behind him. It was Uncle
Willy laughing his head off.
"You really look funny, you know ?" Uncle Willy guffawed.
9
"What do you mean, uncle ?" asked John.
"Do you know you gave such a horrible yell when you fell into the water and was
spluttering
10
and puffing
11
when you emerged from it. You looked like a clown in a
circus !"
John realised that he must have presented quite a sight to his uncle when he fell into the
water. He laughed in return.
"Well, that will teach you not to stand up suddenly in a boat, won't it ? Come, let's push
the boat to the bank and get it upright again," his uncle ordered.
Together they pushed the upside down boat towards the nearest bank.
1. capsize /k%p'sa1z/ (v) (làm cho một chiếc thuyền) lật úp
2. clue /klu:/ (n) đầu mối, manh mối - not have a clue (idm) không biết (gì) về cái gì,
không biết phải làm gì như thế nào
3. moor /m0:(r)/ (v) cột, bỏ neo - mooring rope (n) dây chão neo thuyền
4. oar /0:(r)/ (n) mái chèo
5. steer /st16(r)/ (v) lái (tàu, thuyền, xe, v.v…)
6. jiggle /'d219l/ (v) đưa đẩy, lắc lư
7. heave /hi:v/ (n) sự nhấp nhô
8. eternity /1't3:n1t1/ (n) thời gian (tưởng chừng như) vô tận
9. guffaw /96'f0:/ (v) cười ha hả
10. splutter /'spl^t6(r)/ (v) phát ra hàng loạt tiếng phì phì – phun phì phì
11. puff /p^f/ (v) thở phì phò, thở hổn hển
VĂN TƯỞNG TƯNG
Như tên gọi, văn tưởng tượng đòi hỏi người viết phải suy nghó hoặc hình dung một sự
việc chưa hề xảy ra. Đó có thể là “The year 2990”, “What will happen in the century of
twenty-one”, hoặc “If I were a millionaire”. Một loại đề tài thuộc thể loại văn tưởng
tượng là yêu cầu viết bản tự truyện của một đồ vật hoặc một con vật nào đó, chẳng hạn
như “An autobiography of a butterfly”, “An autobiography of a dancing doll”. Bằng óc
tưởng tượng, người viết phải đặt mình vào đòa vò của những đối tượng không biết nói đó,
và kể lại đời chúng, qua đó có thể nhắn nhủ người đọc phải biết yêu q, giữ gìn và bảo
vệ chúng trong đời sống hàng ngày.
Văn tưởng tượng đòi hỏi một vốn kiến thức sâu rộng, khả năng suy đoán hợp lý cũng
như óc tưởng tượng phong phú. Những dữ kiện hoặc chi tiết đưa ra không nên đi quá xa
với cái có thể xảy ra, hoặc quá dò thường, quái lạ. Cố gắng dùng từ ngữ đơn giản, rõ
ràng và có sức thuyết phục cao.
146. THE YEAR 2990
NĂM 2990
Technology has been progressing at a great rate
1
over the past few decades.
2
I think
that in a few centuries' time, the world will be very different.
Perhaps, in the year 2990, the world will be entirely computerized.
3
Every household
will have a mainframe
4
which is linked to all other systems. Adults do not have to go to
work and children need not go to school as everything can be done at home.
Probably, by then, humans will not even have to take food in the form of meat,
vegetables and rice to survice.
5
Tablets containing the ideal proportion of the essential
nutrients
6
will be enough for us.
Robots could become so cheap that every household could afford a few of them. Life
will be easy and comfortable with all the household chores being done by the robots.
Visiting relatives during Chinese New Year will not be necessary any more. All that the
Chinese need to do is to switch on the mainframe and exchange greetings through the
big screen. Children could still get their "ang pows," but not directly. The money will be
credited to their bank accounts using the mainframe.
All these changes are just my own idea of what life in the future could be like. I wonder
if they will come true.
1. progress at a great rate /pr6'9res/ tiến bộ vượt bậc
2. decade /d1'ke1d/ (n) thời kỳ mười năm – thập niên, thập kỷ
3. computerize /k6m'pju:t6ra1z/ (v) đưa vào máy tính để làm công việc của hoặc cho (cái gì)
4. mainframe /'me1nfre1m/ (n) (cũng mainfraim computer) máy tính lớn, có công sức cao
và bộ nhớ rộng
5. survive /s6'va1v/ (v) tiếp tục sống hoặc tồn tại, sinh tồn
6. nutrient /'nju:tr16nt/ (n) chất dinh dưỡng
147. IF I HAD THREE WISHES
NẾU TÔI CÓ BA ĐIỀU ƯỚC
If a fairy were to grant
1
me three wishes, I know what I would like to wish for.
First of all, I would wish for plenty of money. With lots of wealth, I could help the poor.
I could donate lots of money to the orphanages,
2
the homes for the aged, the schools for
the blind and so on. Many would benefit from the money as it could be put to good use.
Secondly, I would like to wish for the good health of my parents and my family. Health
is very important to man. Without good health, it would be impossible to enjoy a lot of
things. With good health, we could travel around the world, do whatever we want to do
and live our lives the way we want to.
Thirdly, I would like to wish for a book that has everything there is to know in it. It will
be thick and informative. There will be science, mathematics and other topics.
3
I would
read it and be a wiser person.
1. grant /9r%nt/ (v) ban, phát, cấp cho
2. orphanage /'0:f6n1d2/ (n) trại mồ côi - orphan /'0:f6n/ (n) trẻ mồ côi
3. topic /'t4p1k/ (n) chủ đề, đề tài
7
for the course. Not withstanding
8
all the
worries, I fell asleep at last, with complete exhaustion, I guess.
The first thing I remembered the next morning was my suitcase. I got dressed and
rushed down the seemingly endless flight of stairs to the information counter. The lady
greeted me with the sweetest smile I have ever seen. She told me to come behind the
counter. I did and there, behind the counter stood the too familiar, red suitcase. I almost
screamed with joy. I squeezed her hands and expressed my deepest thanks.
I picked up my suitcase and ran with it to my room. I knelt down and humbly thanked
God for having saved me from the mess I was in. I have learnt my lesson and promised
myself to be extra careful in future. I was also determined not to let anyone at home
know about this incident forever !
1. stuff /st^f/ (v) nhồi nhét cái gì vào đầy cái gì•
2. brooch /br6$t~/ (n) trâm, ghim hoa
3. hail /he1l/ (v) ra hiệu cho (tác xi, v.v…) dừng lại
4. hostel /'h4stl/ (n) nhà ký túc, khu tập thể
5. boot /bu:t/ (n) ngăn để hành lý, thường nằm phía sau xe ô tô
6. plight /pla1t/ (n) cảnh ngộ khốn khó
7. enrol /1n'r6$l/ (n) ghi danh
8. withstand /w15'st%nd/ (v) cưỡng lại
143. DANGEROUS COMPANION
KẺ ĐỒNG HÀNH NGUY HIỂM
"All aboard!" The loud commanding voice woke me up from my nap. Grabbing my
knap-sack I shoved my way through the crowd towards the train. I jumped onto it and
hurriedly moved from carriage
1
to carriage trying to locate the one in which Miss Lou
was. I could have written to her and asked for the carriage number, but there was no fun
in that. I wanted to surprise her.
I glanced at my pocket watch that Miss Lou had given me on my last birthday. I
plunged
2
into a nostalgia mood, as I recollected how fondly Miss Lou who is actually
none other than my dear auntie had taken care of me when I was young.
"April, April" a shrill, familiar voice cut my thoughts. I looked up to see the ever smiling
face of my Aunt Lou. I was filled with joy at seeing her. I explained that I had, at the
spur
3
of the moment, decided to accompany her to Paris. In our excitement, we had
forgotten about the other passengers in the carriage. If not for Aunt Lou's elderly
companion and nurse, we would have certainly been carried away during this
memorable moment. Miss Prude (a very apt
4
name for her, I thought) interrupted us
curtly, saying, "Madame, it's time for your medicine".
That night, we had a lovely time together. Aunt Lou was proud to show me her
fabulous
5
jewellery collection. Among her favourites and most expensive was an
exquisite diamond-studded
6
necklace, intricately and skillfully crafted. On seeing these
priceless possessions of hers, I raised my doubts about their safety. She told me not
worry as she had always kept them in a "poor-looking box" to avoid suspicion.
In the morning, we had breakfast together and this time we were not bothered and
haunted by Aunt Lou's companion. It was on my way to the cashier that I noticed a
young and beautiful woman going into the carriage we had been in a short while ago. I
tried to recall the instance I had seen that familiar face before but I failed.
When I saw Aunt Lou's smiling face, I forgot everything about that mysterious lady.
Both of us then, walked towards our carriage. We knew something was amiss
7
when we
saw the door ajar. Aunt Lou turned pale and nearly fainted when she discovered that her
jewel box was missing.
I was suddenly reminded of Miss Prude. She was the only person who had access
8
to the
carriage. She might have overheard us talking about the box during the previous night.
With the help of some concerned passengers and a train officer, we searched high and
low for somebody fitting the descrition of Miss Prude.
We were about to give up our search when my eyes fell upon the beautiful, mysterious
lady. Her too-familiar face bore the look of unpardonable guilt. I grabbed the officer's
arm and pointed to her. She tried to escape but was caught with the box in her bag.
Aunt Lou praised me for uncovering the disguise.
9
It was later found that before this
incident, Miss Prude had used her skills in theatrical
10
makeup to deceive some ten to
fifteen rich and lonely old ladies who depended on her for companionship. Miss Prude
was indeed their most dangerous companion !
1. carrige /'k%r1d2/ (n) toa xe lửa chở hành khách
2. plunge (into) /pl^nd2/ (v) rơi vào một trạng thái
3. spur /sp3:(r)/ (n) sự thôi thúc, sự khuyến khích
4. apt /%pt/ (adj) thích hợp
5. fabulous /'f%bj$l6s/ (adj) tuyệt vời
6. diamond-studded /,da16m6nd 'st^d1d/ (adj) được nạm ngọc
7. amiss /6'm1s/ (adj) sai, không ổn
8. access /'%kses/ (n) cơ hội hoặc quyền sử dụng cái gì hoặc đến gần ai
9. disguise /d1's9a1z/ (n) sự ngụy trang, sự cải trang
10. theatrical make-up /81'%tr1kl 'me1k^p/ (n) sự hóa trang khi lên sân khấu
144. IT WAS NOT SUCH A GOOD BARGAIN AFTER ALL
RỐT CỤC ĐÓ NÀO PHẢI MỘT MÓN HỜI!
Sitting at a corner of my favourite coffee-shop one morning, I heard some noises behind
me. On directing my view to the opposite side of my table, I saw crowd holding a few
expensive watches. The pieces of diamond on the watches glittered under the sunlight.
With the urge to investigate, I dragged my lazy feet towards them.
To my amazement, there were about half a dozen Rolex watches costing not less than
three thousand dollars each. A slim, well-attired man curtly interrupted me and tried to
clear my dazed mind with a whisper. "My boy, don't be fooled by that charlatan
1
or
you'll get into trouble." So saying, he left me without giving me a chance to reply. Being
easily tempted and influenced, I found myself standing in front of the crowd directly
facing the man who was then the centre of attraction. In spite of the unidentified man's
warning, I inquired the seller for the price of the watches.
He was probably taken aback by the question coming from a young schoolboy like me
because he stared at me in disbelief. However, he held out to shake hands with me. He
asked me a few questions ; I guessed he was trying to see my earnestness at owning the
watch. Convinced of my intentions, he told me that he got those watches from his former
employer, year after year for he was hardworking and diligent. As he was then
financially tight, he had to sell all the watches. I was convinced beyond the shadow of a
doubt when the man produced copies of certificates proving the genuinness
2
of the
watches.
After inspecting
3
the watches thoroughly, I again inquired about the price. To my
astonishment, the man was willing to sell the watch for a thousand dollars which was
only thirty percent of the cost price. My heart almost leapt into my mouth when I
thought of this bargain. "Well, son, seeing that you're still schooling and not earning yet,
I'll let you have it for $850," said the man. "Wow ! What a bargain, I'll take it," I replied
without second thoughts.
I excused myself and ran to the Cash-On-Line teller across the road. I withdrew
4
the
required amount and turned my head towards the watch seller only to find him being
held by two police constables.
5
A large crowd has by then gathered in front of the
coffee-shop. The police then seized the diamond-studded Rolex watches and led the
watch dealer away in their van.
I traced my steps back towards the coffee-shop where my coffee (which had turned cold
by then), still stood patiently in the cup, waiting to be drunk. I was disappointed at what
had happened. The young, mysterious man who had warned me before came again and
this time he said mockingly,
6
"You see ? I told you to be careful. That man was a thief.
He stole the watches and some jewellery from a goldsmith shop. Police have been
tracking him ever since and thank goodness, at last they found him. The nerve of him
trying to cheat a young boy like you. It was lucky that you didn't buy the watch."
Without a single word, I nodded and shook hands with the man. I suppose that gesture
7
was worth a thousand words. The man stroked my hair and said, "Well son, it wasn't
such a good bargain after all !"
1. charlatan /'~@:l6t6n/ (n) kẻ (bất tài) hay lòe bòp
2. genuinness /'d2enj$1n1s/ (n) tính đích thực
3. inspect /1n'spekt/ (v) xem xét kỹ và tỉ mỉ
4. withdraw /w15'dr0:/ (v) (withdrew-withdrawn) rút (tiền) ra khỏi tài khoản ở ngân hàng
5. constable /'k^nst6bl/ (n) (cũng police constable) cảnh sát (nam hoặc nữ) ở cấp thấp nhất
6. mocking /'m4k17/ (adj) có tính chế giễu, nhạo báng - mockingly /-l1/ (adv)
7. gesture /'d2est~6(r)/ (n) cử chỉ, điệu bộ
145. CAPSIZED!
1
BỊ LẬT THUYỀN
It was a lovely evening when John arrived at his uncle Willy's fish farm. Uncle Willy
had promised to take John fishing in a boat. John was very excited at the prospect for he
had never been in a boat before.
John found Uncle Willy sitting on the bank of a large fish pond. His uncle was preparing
some fishing rods. John greeted him, "Hi, Uncle."
"Ah, John, you are here already," his uncle replied. "Let's get going, You take that
fishing rod there and get into the boat".
"Okay, uncle," replied John, He picked up the fishing rod and walked towards the boat.
The boat was floating gently on the water and John did not have the slightest clue
2
how
to get in. He put one food in the boat and the boat started sliding away from him.
Startled he withdrew his foot and nearly fell into the water.
"How do I get in?" he asked.
In reply Uncle Willy grabbed the boat with one hand and motioned John to get in.
Carefully John stepped into the boat and sat down. He felt strange sitting in a boat that
kept bouncing up and down and sideways too.
Uncle Willy untied the mooring rope
3
and stepped into the boat. He took an oar
4
and
expertly steered
5
the boat out into the middle of the lake.
John felt both excitement and fear. It was indeed exciting to be in a boat for the first
time. It was also fearful because he was afraid he might fall into the water. Anyhow he
watched the boat glide smoothly over the water. The view of the pond from the boat was
beautiful. It was great.
After a minute or so Uncle Willy stopped the boat and dropped a brick tied to a rope
over the side of the boat. This was his make-shift anchor and it did its job pretty well.
"Let's fish," Uncle Willy said to John.
So the two of them got about the joyful task of casting their lines into the calm water of
the pond.
Presently John saw his float jiggle
6
a bit before it disappeared straight into the water.
Wow! There must a big fish on his line ! In his excitement John stood up in the boat to
pull his line in. That was his undoing. He did not know it was not a good idea to stand in
a boat for the boat would become very unstable. Since he had never been in a boat
before he did not know that. So as soon as he stood up, the boat gave a mighty heave
7
and capsized dumping both of them into the pond with a big splash.
One moment John was grabbing frantically at his line, the next he was grabbing
frantically in the water for something to hold on to. It seemed like eternity
8
before his
hands found something solid. He held on tightly. It was part of the boat. However he
was still underwater and his lungs ached for air. Instinctively he moved upwards still
clutching the boat. Just as his lungs seemed like they would burst, John emerged above
the water. What a relief it was. He sucked in the cool sweet air. Never before had he
realised that the air was so sweet and soothing. My God, was he glad that he could
breathe.
When John could breathe normally again, he realised that the boat had capsized. He
looked around to see where his uncle was. He heard laughter behind him. It was Uncle
Willy laughing his head off.
"You really look funny, you know ?" Uncle Willy guffawed.
9
"What do you mean, uncle ?" asked John.
"Do you know you gave such a horrible yell when you fell into the water and was
spluttering
10
and puffing
11
when you emerged from it. You looked like a clown in a
circus !"
John realised that he must have presented quite a sight to his uncle when he fell into the
water. He laughed in return.
"Well, that will teach you not to stand up suddenly in a boat, won't it ? Come, let's push
the boat to the bank and get it upright again," his uncle ordered.
Together they pushed the upside down boat towards the nearest bank.
1. capsize /k%p'sa1z/ (v) (làm cho một chiếc thuyền) lật úp
2. clue /klu:/ (n) đầu mối, manh mối - not have a clue (idm) không biết (gì) về cái gì,
không biết phải làm gì như thế nào
3. moor /m0:(r)/ (v) cột, bỏ neo - mooring rope (n) dây chão neo thuyền
4. oar /0:(r)/ (n) mái chèo
5. steer /st16(r)/ (v) lái (tàu, thuyền, xe, v.v…)
6. jiggle /'d219l/ (v) đưa đẩy, lắc lư
7. heave /hi:v/ (n) sự nhấp nhô
8. eternity /1't3:n1t1/ (n) thời gian (tưởng chừng như) vô tận
9. guffaw /96'f0:/ (v) cười ha hả
10. splutter /'spl^t6(r)/ (v) phát ra hàng loạt tiếng phì phì – phun phì phì
11. puff /p^f/ (v) thở phì phò, thở hổn hển
VĂN TƯỞNG TƯNG
Như tên gọi, văn tưởng tượng đòi hỏi người viết phải suy nghó hoặc hình dung một sự
việc chưa hề xảy ra. Đó có thể là “The year 2990”, “What will happen in the century of
twenty-one”, hoặc “If I were a millionaire”. Một loại đề tài thuộc thể loại văn tưởng
tượng là yêu cầu viết bản tự truyện của một đồ vật hoặc một con vật nào đó, chẳng hạn
như “An autobiography of a butterfly”, “An autobiography of a dancing doll”. Bằng óc
tưởng tượng, người viết phải đặt mình vào đòa vò của những đối tượng không biết nói đó,
và kể lại đời chúng, qua đó có thể nhắn nhủ người đọc phải biết yêu q, giữ gìn và bảo
vệ chúng trong đời sống hàng ngày.
Văn tưởng tượng đòi hỏi một vốn kiến thức sâu rộng, khả năng suy đoán hợp lý cũng
như óc tưởng tượng phong phú. Những dữ kiện hoặc chi tiết đưa ra không nên đi quá xa
với cái có thể xảy ra, hoặc quá dò thường, quái lạ. Cố gắng dùng từ ngữ đơn giản, rõ
ràng và có sức thuyết phục cao.
146. THE YEAR 2990
NĂM 2990
Technology has been progressing at a great rate
1
over the past few decades.
2
I think
that in a few centuries' time, the world will be very different.
Perhaps, in the year 2990, the world will be entirely computerized.
3
Every household
will have a mainframe
4
which is linked to all other systems. Adults do not have to go to
work and children need not go to school as everything can be done at home.
Probably, by then, humans will not even have to take food in the form of meat,
vegetables and rice to survice.
5
Tablets containing the ideal proportion of the essential
nutrients
6
will be enough for us.
Robots could become so cheap that every household could afford a few of them. Life
will be easy and comfortable with all the household chores being done by the robots.
Visiting relatives during Chinese New Year will not be necessary any more. All that the
Chinese need to do is to switch on the mainframe and exchange greetings through the
big screen. Children could still get their "ang pows," but not directly. The money will be
credited to their bank accounts using the mainframe.
All these changes are just my own idea of what life in the future could be like. I wonder
if they will come true.
1. progress at a great rate /pr6'9res/ tiến bộ vượt bậc
2. decade /d1'ke1d/ (n) thời kỳ mười năm – thập niên, thập kỷ
3. computerize /k6m'pju:t6ra1z/ (v) đưa vào máy tính để làm công việc của hoặc cho (cái gì)
4. mainframe /'me1nfre1m/ (n) (cũng mainfraim computer) máy tính lớn, có công sức cao
và bộ nhớ rộng
5. survive /s6'va1v/ (v) tiếp tục sống hoặc tồn tại, sinh tồn
6. nutrient /'nju:tr16nt/ (n) chất dinh dưỡng
147. IF I HAD THREE WISHES
NẾU TÔI CÓ BA ĐIỀU ƯỚC
If a fairy were to grant
1
me three wishes, I know what I would like to wish for.
First of all, I would wish for plenty of money. With lots of wealth, I could help the poor.
I could donate lots of money to the orphanages,
2
the homes for the aged, the schools for
the blind and so on. Many would benefit from the money as it could be put to good use.
Secondly, I would like to wish for the good health of my parents and my family. Health
is very important to man. Without good health, it would be impossible to enjoy a lot of
things. With good health, we could travel around the world, do whatever we want to do
and live our lives the way we want to.
Thirdly, I would like to wish for a book that has everything there is to know in it. It will
be thick and informative. There will be science, mathematics and other topics.
3
I would
read it and be a wiser person.
1. grant /9r%nt/ (v) ban, phát, cấp cho
2. orphanage /'0:f6n1d2/ (n) trại mồ côi - orphan /'0:f6n/ (n) trẻ mồ côi
3. topic /'t4p1k/ (n) chủ đề, đề tài
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)