Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Thông tư 06/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng

1. Hồ sơ hợp đồng xây dựng
Hồ sơ hợp đồng xây dựng bao gồm hợp đồng xây dựng, các tài liệu kèm theo và tài liệu
bổ sung trong quá trình thực hiện hợp đồng (sau đây gọi là tài liệu kèm theo hợp đồng).
Các tài liệu kèm theo hợp đồng là bộ phận không tách rời của hợp đồng xây dựng. Tuỳ
theo qui mô, tính chất công việc, tài liệu kèm theo hợp đồng xây dựng có thể bao gồm toàn bộ
hay một phần các tài liệu sau:
1.1. Thông báo trúng thầu hoặc văn bản chỉ định thầu;
1.2. Điều kiện hợp đồng (điều kiện chung và điều kiện riêng của hợp đồng);
1.3. Đề xuất của nhà thầu;
1.4. Các chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện tham chiếu;
1.5. Các bản vẽ thiết kế;
1.6. Các sửa đổi, bổ sung bằng văn bản, biên bản đàm phán hợp đồng;
1.7. Bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng và các loại bảo lãnh khác, nếu
có;
1.8. Các tài liệu khác có liên quan.
Tuỳ từng hợp đồng cụ thể các bên tham gia hợp đồng thoả thuận thứ tự ưu tiên khi áp
dụng các tài liệu hợp đồng nếu giữa các tài liệu này có các qui định mâu thuẫn khác nhau.
2. Nội dung của hợp đồng xây dựng
Tùy theo qui mô, đặc điểm, tính chất của từng công trình, từng gói thầu, từng công việc
và từng loại hợp đồng xây dựng cụ thể mà hợp đồng xây dựng có thể bao gồm toàn bộ hay một
phần các nội dung cơ bản sau: Thông tin về hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng;
Các định nghĩa và diễn giải; Luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng; Loại tiền thanh toán;
Khối lượng công việc; Giá hợp đồng xây dựng; Tạm ứng hợp đồng xây dựng; Thanh toán hợp
đồng xây dựng; Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng; Tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành
công việc; Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng; Quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận
thầu; Quyền và nghĩa vụ chung của bên giao thầu; Nhà thầu phụ do chủ đầu tư chỉ định (nếu
có); Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghiệm thu các công việc hoàn thành; Bảo hiểm
và bảo hành công trình; Bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ; Điện,
nước và an ninh công trường; Trách nhiệm đối với các sai sót; Tạm ngừng và chấm dứt hợp
đồng bởi bên giao thầu và bên nhận thầu; Rủi ro và trách nhiệm; Bất khả kháng; Thưởng, phạt
vi phạm hợp đồng ; Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng; Quyết toán hợp đồng xây dựng;
Thanh lý hợp đồng xây dựng.
2.1. Thông tin về hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng
Trong hợp đồng phải ghi đầy đủ thông tin chung về hợp đồng và thông tin về các bên
tham gia ký kết hợp đồng.
2.1.1. Thông tin chung về hợp đồng bao gồm: Số hợp đồng, tên gói thầu, tên dự án và
các căn cứ ký kết hợp đồng;
2.1.2. Thông tin về các bên tham gia ký kết hợp đồng bao gồm : Tên giao dịch của bên
tham gia ký kết hợp đồng; Đại diện của các bên; Địa chỉ đăng ký kinh doanh hay địa chỉ để
giao dịch; Mã số thuế, giấy đăng ký kinh doanh, số tài khoản; Điện thoại, fax, e-mail; Giấy uỷ
quyền (nếu ký theo uỷ quyền); Thời gian ký kết hợp đồng; Các thông tin liên quan khác.
2.2. Các định nghĩa và diễn giải
Một số từ ngữ cần phải được định nghĩa để áp dụng cho hợp đồng nhằm không hiểu
theo nghĩa khác, thuận tiện, dễ hiểu trong soạn thảo, đàm phán và thực hiện hợp đồng, có thể
bao gồm định nghĩa các từ ngữ sau: hợp đồng; thoả thuận hợp đồng; thư chấp thuận; thư dự
thầu; đặc tính - tiêu chuẩn - thuyết minh kỹ thuật; bản vẽ; hồ sơ dự thầu; phụ lục của hồ sơ dự
thầu; bảng tiên lượng và hao phí ngày công (nếu có); bên và các bên; chủ đầu tư; nhà thầu; nhà
tư vấn; đại diện của chủ đầu tư; đại diện của nhà thầu; nhà thầu phụ,
Trường hợp các từ ngữ này có nghĩa khác khi sử dụng cho từng điều, điều khoản, điều
kiện cụ thể thì phải diễn giải nghĩa của các từ ngữ này trong điều, điều khoản, điều kiện đó.
2.3. Luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng
2.3.1. Luật áp dụng: Hợp đồng chịu sự điều tiết của hệ thống Luật của Nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đối với các dự án sử dụng vốn ODA thì thực hiện theo qui định
tại điểm 2.1 Phần I của Thông tư này.
2.3.2. Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng: Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng là tiếng Việt.
Trường hợp hợp đồng có sự tham gia của phía nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt
và tiếng Anh.
2.4. Loại tiền thanh toán
Trong hợp đồng phải qui định rõ đồng tiền sử dụng để thanh toán. Có thể thanh toán
bằng nhiều đồng tiền khác nhau trong cùng một hợp đồng trên nguyên tắc: thanh toán bằng
đồng tiền chào thầu phù hợp với hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu. Phương thức thanh toán có
thể là chuyển khoản, tiền mặt, điện chuyển khoản, nhưng phải qui định cụ thể trong hợp
đồng.
2.5. Khối lượng công việc
Trong hợp đồng cần mô tả rõ khối lượng, phạm vi công việc phải thực hiện. Khối lượng
và phạm vi công việc được xác định căn cứ vào hồ sơ yêu cầu của chủ đầu tư (bên giao thầu)
hoặc hồ sơ mời thầu và biên bản làm rõ các yêu cầu của chủ đầu tư ( bên giao thầu, nếu có),
biên bản đàm phán có liên quan giữa các bên.
2.6. Giá hợp đồng xây dựng
Giá hợp đồng là khoản kinh phí bên giao thầu cam kết trả cho bên nhận thầu để thực
hiện khối lượng công việc theo yêu cầu về chất lượng, tiến độ và các yêu cầu khác qui định
trong hợp đồng xây dựng.
Trong hợp đồng các bên phải ghi rõ nội dung của giá hợp đồng, trong đó cần thể hiện
các khoản thuế, phí, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí có liên
quan.
Các bên căn cứ hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và kết quả đàm phán hợp đồng để xác
định giá hợp đồng. Giá hợp đồng có các hình thức sau:
2.6.1. Giá hợp đồng trọn gói (hình thức trọn gói và hình thức theo tỷ lệ phần trăm quy
định trong Luật Đấu thầu): là giá hợp đồng xây dựng không thay đổi trong suốt quá trình thực
hiện hợp đồng đối với các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết, trừ các trường hợp
được phép điều chỉnh có qui định trong hợp đồng (nếu có).
Giá hợp đồng trọn gói áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu đã xác định rõ về khối
lượng, chất lượng, thời gian thực hiện hoặc trong một số trường hợp không xác định được khối
lượng và bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định giá trọn gói
và chấp nhận các rủi ro liên quan đến việc xác định giá trọn gói.
Tất cả các loại hợp đồng xây dựng đều có thể áp dụng giá hợp đồng trọn gói khi đủ điều
kiện xác định giá hợp đồng trước khi ký kết, kể cả hình thức giá hợp đồng xác định theo tỷ lệ
(%) giá trị công trình hoặc khối lượng công việc tư vấn thông thường.
2.6.2. Giá hợp đồng theo đơn giá cố định (hình thức theo đơn giá và hình thức theo
thời gian quy định trong Luật Đấu thầu): là giá hợp đồng xây dựng được xác định trên cơ sở
khối lượng công việc tạm tính và đơn giá từng công việc trong hợp đồng là cố định và không
thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp được phép điều chỉnh qui
định trong hợp đồng (nếu có).
Giá hợp đồng theo đơn giá cố định áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu không đủ
điều kiện xác định chính xác về khối lượng nhưng đủ điều kiện xác định về các đơn giá thực
hiện công việc và bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định
đơn giá xây dựng công trình cố định và các rủi ro liên quan đến việc xác định đơn giá. Đơn giá
cố định không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp được phép
điều chỉnh đã ghi rõ trong hợp đồng.
Đơn giá cố định có thể là đơn giá đầy đủ đối với các công việc thi công xây dựng, đơn
giá nhân công theo thời gian (tháng, tuần, ngày hoặc giờ) đối với một số công việc tư vấn.
2.6.3. Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh: là giá hợp đồng xây dựng mà khối lượng công
việc và đơn giá cho công việc trong hợp đồng được phép điều chỉnh trong các trường hợp được
qui định tại hợp đồng xây dựng.
Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu mà ở thời
điểm ký kết hợp đồng xây dựng không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng công
việc cần thực hiện hoặc các yếu tố chi phí để xác định đơn giá thực hiện các công việc.
Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh (tại thời điểm ký kết giá hợp đồng chỉ là tạm tính) sẽ
được điều chỉnh thay đổi khi có đủ điều kiện xác định khối lượng, đơn giá thực hiện theo qui
định trong hợp đồng.
2.6.4. Giá hợp đồng kết hợp: là giá hợp đồng được xác định theo các hình thức qui
định tại điểm 2.6.1, 2.6.2 và 2.6.3 nêu trên.
Giá hợp đồng kết hợp áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu có qui mô lớn, kỹ thuật
phức tạm và thời gian thực hiện kéo dài. Bên giao thầu và bên nhận thầu căn cứ vào các loại
công việc trong hợp đồng để thoả thuận, xác định các loại công việc áp dụng theo giá hợp đồng
trọn gói, giá hợp đồng theo đơn giá cố định hay giá hợp đồng theo giá điều chỉnh cho phù hợp.
2.7. Tạm ứng hợp đồng xây dựng
Tạm ứng hợp đồng là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước cho bên nhận thầu để
triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng.
Việc tạm ứng vốn đầu tư xây dựng công trình phải được qui định trong hợp đồng xây
dựng và thực hiện ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực và sau khi bên giao thầu đã nhận được
bảo đảm thực hiện hợp đồng (đối với trường hợp qui định phải có bảo đảm thực hiện hợp đồng
theo điểm 2.11). Hợp đồng xây dựng phải qui định cụ thể về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng,
số lần tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng. Mức tạm ứng được qui định như sau:
- Đối với hợp đồng tư vấn, mức tạm ứng vốn tối thiểu là 25% giá hợp đồng;
- Đối với hợp đồng thi công xây dựng, mức tạm ứng vốn tối thiểu là 10% giá hợp đồng
đối với hợp đồng có giá trị trên 50 tỷ đồng; tối thiểu 15% đối với hợp đồng có giá trị từ 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ đồng và tối thiểu 20% đối với các hợp đồng có giá trị dưới 10 tỷ đồng;
- Đối với hợp đồng cung ứng vật tư, thiết bị tuỳ theo giá trị hợp đồng nhưng mức tạm
ứng không thấp hơn 10% giá hợp đồng;
- Đối với hợp đồng thực hiện theo hình thức EPC, việc tạm ứng vốn để mua thiết bị
được căn cứ theo tiến độ cung ứng trong hợp đồng; các công việc khác như thiết kế, xây dựng
mức tạm ứng tối thiểu là 15% giá trị công việc đó trong hợp đồng.
- Đối với công việc giải phóng mặt bằng thực hiện theo kế hoạch giải phóng mặt bằng;
Vốn tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán, việc thu hồi vốn tạm ứng được
bắt đầu ngay khi thanh toán lần đầu và kết thúc khi khối lượng đã thanh toán đạt 80% giá trị
hợp đồng. Đối với các công việc giải phóng mặt bằng, việc thu hồi vốn tạm ứng kết thúc sau
khi đã thực hiện xong công việc giải phóng mặt bằng.
Các bên giao thầu, bên nhận thầu thống nhất kế hoạch tạm ứng và thu hồi vốn để sản
xuất trước các cấu kiện, bán thành phẩm có giá trị lớn đảm bảo cho việc thi công hoặc mua một
số vật tư phải dự trữ theo mùa.
Tuỳ theo quy mô, tính chất công việc trong hợp đồng, bên nhận thầu có thể đề xuất mức
tạm ứng thấp hơn mức tạm ứng quy định trên.
2.8. Thanh toán hợp đồng xây dựng
2.8.1. Việc thanh toán hợp đồng phải phù hợp với loại hợp đồng, giá hợp đồng và các
điều kiện trong hợp đồng mà các bên tham gia hợp đồng đã ký kết. Số lần thanh toán, giai đoạn
thanh toán, thời điểm thanh toán và điều kiện thanh toán phải được ghi rõ trong hợp đồng.
2.8.2. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng trọn gói: việc thanh toán được thực
hiện theo tỷ lệ (%) giá hợp đồng hoặc giá công trình, hạng mục công trình, khối lượng công
việc hoàn thành tương ứng với các giai đoạn thanh toán được ghi trong hợp đồng sau khi đã có
hồ sơ thanh toán được kiểm tra, xác nhận của bên giao thầu. Bên nhận thầu được thanh toán
toàn bộ giá hợp đồng đã ký với bên giao thầu và các khoản tiền được điều chỉnh giá (nếu có)
sau khi hoàn thành hợp đồng và được nghiệm thu.
2.8.3. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng theo đơn giá cố định: việc thanh toán
được thực hiện trên cơ sở khối lượng các công việc hoàn thành (kể cả khối lượng phát sinh (nếu
có) được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán và đơn giá tương ứng với các công việc đó đã
ghi trong hợp đồng hoặc phụ lục bổ sung trong hợp đồng.
2.8.4. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng theo giá điều chỉnh: việc thanh toán
được thực hiện trên cơ sở khối lượng các công việc hoàn thành (kể cả khối lượng phát sinh (nếu
có) được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán và đơn giá đã điều chỉnh theo qui định của hợp
đồng. Trường hợp đến giai đoạn thanh toán chưa đủ điều kiện điều chỉnh đơn giá thì sử dụng
đơn giá tạm tính khi ký kết hợp đồng để tạm thanh toán và điều chỉnh giá trị thanh toán khi có
đơn giá điều chỉnh theo đúng qui định của hợp đồng.
2.8.5. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng kết hợp: việc thanh toán thực hiện
tương ứng với các qui định tại điểm 2.8.2, 2.8.3, 2.8.4 nêu trên.
2.8.6. Tuỳ theo qui mô, tính chất của gói thầu, công trình, hạng mục công trình; loại
hợp đồng, giá hợp đồng mà các bên có thể thoả thuận thanh toán làm một lần hoặc nhiều lần.
Trường hợp thanh toán làm nhiều lần, thì trong hợp đồng phải có qui định cụ thể về tiến độ
thanh toán (có thể theo thời gian, tỷ lệ (%) hoặc theo khối lượng hoàn thành) và các mức thanh
toán cho các đợt thanh toán (các mốc thanh toán). Việc thanh toán phải tuân theo các qui định
của tiến độ thanh toán này; Trường hợp tiến độ thực hiện công việc thực tế chậm hơn tiến độ
thanh toán, căn cứ vào đó bên giao thầu có thể đồng ý hoặc xác định các mức thanh toán sửa
đổi có tính đến phạm vi, mức độ mà tiến độ thực hiện công việc thực tế đang chậm hơn so với
tiến độ thực hiện công việc đã được xác định trong hợp đồng.
2.8.7. Hồ sơ thanh toán hợp đồng xây dựng
Trình tự, thủ tục, tài liệu, chứng nhận cần thiết trong hồ sơ thanh toán phải được ghi rõ
trong hợp đồng (kể cả các biểu mẫu). Hồ sơ thanh toán do bên nhận thầu lập phù hợp với các
biểu mẫu theo qui định của hợp đồng. Nội dung hồ sơ thanh toán bao gồm các tài liệu chủ yếu:
- Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng trọn gói:
+ Biên bản nghiệm thu (biên bản nghiệm thu chất lượng, khối lượng): Tuỳ từng
giai đoạn thanh toán mà có thể bao gồm một hoặc các loại biên bản nghiệm thu công trình,
hạng mục công trình, khối lượng công việc hoàn thành cho giai đoạn thanh toán có xác nhận
của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu, nhưng
không cần xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết. Hồ sơ hoàn công của các công việc được
nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán (nếu có);
+ Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng (theo
phụ lục số 2);
+ Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng có xác nhận của
đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu (theo phụ
lục số 4);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (theo phụ lục số 1) cần thể hiện các nội
dung: Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, giá trị khối lượng các công việc phát sinh
ngoài hợp đồng (nếu có), chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán sau khi đã bù trừ các khoản
trên.
- Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng theo đơn giá cố định:
+ Hồ sơ hoàn công của các công việc được nghiệm thu trong giai đoạn thanh
toán; Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành (biên bản nghiệm thu chất lượng,
khối lượng) tương ứng với các công việc theo hợp đồng đã ký cho giai đoạn thanh toán có xác
nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;
+ Bảng xác định giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng (phụ lục số 2);
+ Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng (phụ lục số 4);
+ Bảng xác định đơn giá điều chỉnh theo qui định của hợp đồng (nếu có) (phụ
lục số 3) có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện
bên nhận thầu;
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (phụ lục số 1) cần thể hiện các nội dung:
Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, giá trị khối lượng các công việc phát sinh ngoài
hợp đồng, chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán sau khi đã bù trừ các khoản trên.
- Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng theo giá điều chỉnh:
+ Hồ sơ hoàn công của các công việc được nghiệm thu trong giai đoạn thanh
toán; Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành (biên bản nghiệm thu chất lượng,
khối lượng) tương ứng với các công việc theo hợp đồng đã ký cho giai đoạn thanh toán có xác
nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;
+ Bảng xác định đơn giá điều chỉnh theo qui định của hợp đồng (theo phụ lục số
3) có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên
nhận thầu;
+ Bảng xác định giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng (theo phụ lục số 2);
+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (theo phụ lục số 1) cần thể hiện các nội
dung: Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán
sau khi đã bù trừ các khoản trên.
- Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng kết hợp các loại giá: thực hiện theo các qui định
tương ứng về hồ sơ thanh toán cho từng loại giá hợp đồng nêu trên.
2.8.8. Thời hạn thanh toán
Trong hợp đồng các bên phải qui định thời hạn bên giao thầu phải thanh toán cho bên
nhận thầu sau khi đã nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ theo qui định của hợp đồng nhưng không
được vượt quá 10 ngày làm việc.
Đối với các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, trong thời hạn 3
ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán hợp lệ của nhà thầu, chủ đầu tư phải
hoàn thành các thủ tục và chuyển đề nghị thanh toán tới cơ quan cấp phát, cho vay vốn. Trong
năm kết thúc xây dựng hoặc năm đưa công trình vào sử dụng, chủ đầu tư phải thanh toán cho
nhà thầu giá trị công việc hoàn thành trừ khoản tiền giữ lại để bảo hành công trình theo qui
định.
2.8.9. Thanh toán bị chậm trễ
Trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể việc bồi thường về tài chính cho các khoản
thanh toán bị chậm trễ tương ứng với các mức độ chậm trễ; mức bồi thường đối với mỗi mức
độ chậm trễ là khác nhau, nhưng mức bồi thường lần đầu không nhỏ hơn lãi suất do Ngân hàng
thương mại qui định tương ứng đối với từng thời kỳ.
2.8.10. Thanh toán tiền bị giữ lại
Trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể cho việc thanh toán tiền bị giữ lại khi bên
nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo qui định của hợp đồng như: các khoản tiền còn lại của
các lần tạm thanh toán trước đó hay bất kỳ khoản thanh toán nào mà bên giao thầu chưa thanh
toán cho bên nhận thầu kể cả tiền bảo hành công trình (nếu có).
2.9. Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng
2.9.1. Việc điều chỉnh giá hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng và phù hợp với hồ
sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và kết quả đàm phán hợp đồng. Trong hợp đồng các bên qui định rõ
các trường hợp được điều chỉnh hợp đồng, phương pháp, cách thức, phạm vi điều chỉnh giá hợp
đồng.
2.9.2. Giá hợp đồng có thể được điều chỉnh một trong các trường hợp sau:
- Bổ sung công việc ngoài phạm vi qui định trong hợp đồng đã ký kết;
- Khi ký kết hợp đồng có sử dụng đơn giá tạm tính đối với những công việc hoặc khối
lượng công việc mà ở thời điểm ký hợp đồng bên giao thầu và bên nhận thầu chưa đủ điều kiện
xác định chính xác đơn giá và đồng ý điều chỉnh khi có đủ điều kiện;
- Khi khối lượng phát sinh lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng mà nhà thầu
phải thực hiện theo hợp đồng thì xem xét điều chỉnh đơn giá của khối lượng phát sinh đó;
- Các đơn giá mà bên giao thầu và bên nhận thầu đồng ý xem xét, điều chỉnh lại sau
khoảng thời gian nhất định kể từ khi thực hiện hợp đồng;
- Trường hợp giá nhiên liệu, vật tư, thiết bị nêu trong hợp đồng có biến động lớn, ảnh
hưởng trực tiếp tới việc thực hiện hợp đồng hoặc khi Nhà nước thay đổi các chính sách có liên
quan thì phải báo cáo Người có thẩm quyền xem xét quyết định;
- Do các trường hợp bất khả kháng qui định trong hợp đồng;
- Các khoản trượt giá đã qui định trong hợp đồng. Các căn cứ để tính trượt giá được xác
định vào thời điểm 28 ngày trước ngày nhà thầu nộp hồ sơ thanh toán;
2.9.3. Phương pháp điều chỉnh giá hợp đồng
Khi điều chỉnh giá hợp đồng thì khối lượng công việc thanh toán được xác định trên cơ
sở khối lượng các công việc hoàn thành được nghiệm thu, đơn giá thanh toán các công việc
được xác định theo các điều khoản trong hợp đồng như việc xác định lại đơn giá hoặc điều
chỉnh lại đơn giá trong hợp đồng theo hệ số điều chỉnh. Có thể tham khảo một hoặc kết hợp các
phương pháp sau để điều chỉnh giá hợp đồng:
- Sử dụng các chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng, các Tổ chức tư vấn, Tổng cục
Thống kê công bố;
- Phương pháp tính toán bù trừ trực tiếp;
- Công thức xác định hệ số điều chỉnh như Phụ lục số 5 kèm theo Thông tư này.
2.10. Tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành công việc
2.10.1. Trong hợp đồng, các bên phải ghi rõ thời gian bắt đầu, kết thúc hợp đồng.
2.10.2. Bên nhận thầu có trách nhiệm lập tiến độ chi tiết trình bên giao thầu chấp thuận
làm căn cứ thực hiện hợp đồng.
2.10.3. Các bên tham gia hợp đồng phải qui định cụ thể các tình huống và việc xử lý
các tình huống có thể được kéo dài thời hạn hoàn thành công việc, ngoài những tình huống này
các bên không được tự ý kéo dài thời hạn hoàn thành.
2.10.4. Các bên phải thoả thuận cụ thể về mức độ và phương thức xử lý những thiệt
hại về việc chậm tiến độ do các bên gây ra.
2.11. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng
2.11.1. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng là việc nhà thầu thực hiện một trong các
biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng
xây dựng của nhà thầu trúng thầu trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
2.11.2. Nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng trước
khi hợp đồng xây dựng có hiệu lực, trừ lĩnh vực đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và hình thức
tự thực hiện.
2.11.3. Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định trong hồ sơ mời thầu và tối
đa bằng 10% giá hợp đồng xây dựng; trường hợp để phòng ngừa rủi ro cao thì giá trị bảo đảm
thực hiện hợp đồng xây dựng phải cao hơn nhưng không quá 30% giá hợp đồng xây dựng và
phải được Người có thẩm quyền cho phép.
2.11.4. Thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng phải kéo dài
cho đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành, nếu có.
2.11.5. Nhà thầu không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng trong trường
hợp từ chối thực hiện hợp đồng xây dựng sau khi hợp đồng có hiệu lực.
2.12. Quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận thầu
Tuỳ theo qui mô, tính chất công việc mà trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể về
trách nhiệm chung của bên nhận thầu như:
2.12.1. Đại diện bên nhận thầu
Bên nhận thầu có thể chỉ định người đại diện của mình và uỷ quyền cho họ thực hiện
một số công việc nhất định nhưng phải được qui định cụ thể trong Hợp đồng.
Trường hợp đại diện bên nhận thầu không được ghi cụ thể trong Hợp đồng, thì trước
ngày khởi công, bên nhận thầu phải trình cho bên giao thầu tên và các thông tin chi tiết về
người đại diện, cũng như quyền hạn và trách nhiệm của họ để xem xét và chấp thuận. Khi
không có sự đồng ý trước của bên giao thầu, bên nhận thầu không được bãi nhiệm người đại
diện của mình hoặc bổ nhiệm người khác thay thế.
2.12.2. Nhân lực chính của bên nhận thầu
Trong hợp đồng phải qui định cụ thể các vấn đề có liên quan đến nhân lực chính của
bên nhận thầu bố trí, sử dụng cho công việc như:
- Nhân lực chính của bên nhận thầu tại công trường xây dựng và tại Văn phòng của bên
nhận thầu;
- Báo cáo về nhân lực và thiết bị chính của bên nhận thầu;
- Sự giám sát của bên giao thầu đối với nhân lực chính của bên nhận thầu.
2.12.3. Ngoài ra trong hợp đồng còn phải qui định quyền và nghĩa vụ chung của bên
nhận thầu đối với:
- Nhà thầu phụ (nếu có);
- Việc nhượng lại lợi ích của hợp đồng thầu phụ;
- Vấn đề hợp tác giữa các bên liên quan đến việc thực hiện hợp đồng;
- Định vị các mốc;
- Các qui định về an toàn;
- Dữ liệu (điều kiện) về công trường;
- Quyền về đường đi và phương tiện;

Design & life 5

8
D&L News | Design & Life minizine
9
02.

When Fashion meets Photography
What would happen when a fashion director
collaborate with a photographer? Few years
ago, when Ivana Omazic, the creative director
of Celine, met Mika Ninagawa, the famous
female photographer, in Japan, their friendship
has stimulated the collaboration. In March
2007, Ivana invited Mika to join the fashion
show of Celine in Paris Fashion Week, Mika
has photographed the scenes of backstage and
published a book named "Mika for Ivana." And
now, Ivana uses Mika's photographs of flowers
as a pattern for her new designs for Celine. The
series is called "Ivana for Mika." It is the story of
the friendship, between 2 talented women, from
2 different countries.
www.celine.com/mika
ninamika.com
© Mika Ninagawa
8
03.

CONRAN restaurants @ Tokyo
Tokyo is a city that varies from minute to minute, full of surprises. Early this year, D&D London (formerly Conran
Restaurants) has developed their first 3 restaurants in Tokyo in partnership with Japanese restaurant group,
Hiramatsu. The Botanic and Noodle Workshop located within the brand new Tokyo Midtown building while Iconic
is situated on the 9th floor of a building at the busy Ginza district. Botanic offers a contemporary European menu;
Noodle Workshop serves a variety of noodles in a stylish, bright surroundings. Iconic was just opened on April
19th. Situated on the top floor, guests will be able to enjoy the elegant restaurant where a distinctive banquette
designed by Sir Terence Conran himself, lies in the center of the dining room.
www.conran-restaurants.jp/top_e.php
© CONRAN LIMITED 2006
10
Burgerman
Jon
Designers' Circle | Design & Life minizine
11
issue 05
Designers’
Circle
From A to B, from B to C;
it is the world of designers;
it’s designers’ circle.
OK! For thie issue, we have invited “Mr. Contours” -
Jon Burgerman! We have seen people doodling
everywhere, but we’ve never seen works as complex
as his! Let’s find out more about this distinctive
illustrator, designer through the interview!
www.jonburgerman.com
12
Designers' Circle | Design & Life minizine
13
Hi Jon! Please introduce yourself to our friends!
Hello! My name is Jon Burgerman and I live in the
UK and for a living make doodles and characters and
colourful pictures.
14
Your style is very unique & amazing! It looks like
all the characters are connected and piled up!
How did this style develop?
I have a love of characters / character design and a
love for flowing, swooping, curling, continuous lines
and contours.
It was never intentional but somewhere in my brain
these two loves must of got muddled up together.
Over the years I've worked more and more in this
way. The more I've worked like this the more it's
developed.
Designers' Circle | Design & Life minizine
15
We found you have collaborated with TADO at
Dadawan+MadTurnip. The art works are brilliant!
How did you guys originate this idea?
We're both fans of collaborating with other artists so
when MadTurnip offered us a show we thought rather
than showing our separate artworks we should make
everything together - so that the whole show would
be a true collaboration.
It was really great fun. The thing about working with
other people is that you're never 100% sure what
they're going to do next, so the process of making
the work feels new and exciting. Mike and Katie were
brilliant to work with, we were really pleased
with how the artworks, drawings, plushes and hand-
made toys came out.
What inspires you the most?
Other people, other artists, movies, music, food,
packaging, books, stories, teas, flowers, trees,
gardens, nice smells, funny sounds loads of
different things!
We LOVE your project "On the wall" so much! It's
awesome! Do you always plan before the show like
this? Or it is just improvisation?
Sometimes planning is necessary but for a project
like On The Wall, it would only stunt it. The whole
premise and challenge for me is to draw and keep
drawing without anything in my mind, with nothing
pre-planned and then to see where I'm taken by the
drawing. I react to things as I draw, think about what
I'll draw next, access how the whole room is working
and just keep going. In the end, pieces like this show
you a thought process, an improvised experiment in
drawing and non-thought. It can be scary working in
this way, what if there's a mistake etc but then the
rewards and excitement of doing it are much higher.
16
Designers' Circle | Design & Life minizine
17
It seems you love food very much! Do you cook?
After a hard working day, what do you want to eat
the most?
I try and cook, I still find it an exciting novelty to
make something myself (even though I've been
cooking for over ten years). When I finish from a hard
working day I'm happy to eat most things, especially
if it's been made by someone else (I'm lazy). I do
get excited when I'm eating something really nice or
something with lots of vegetables and salad, there's
something really cool about those things, they taste
good, look good and are really well designed. A quick
meal I enjoy making when I'm tired is pasta with
pesto, broccoli and peas, I like to call it Pasta Vert.
It is very interesting to see that you sometimes
invite people to help out painting! Why?
I've only just started to get people to help me as
sometimes there's just not enough time to finish a
piece on my own. They help me paint in areas of my
drawing and in turn help me achieve larger projects. I
think as I continue to do installation pieces, and more
and more projects in general, I will continue to need
people to help me, then I can become like Warhol and
have a whole factory setup!
18
Designers' Circle | Design & Life minizine
19
Tell us a little bit of your life. : ) Where do you live?
Where is your favorite restaurant in the city? Why?
I live in Nottingham, it's in the East Midlands of the
UK. It's not the biggest city in England, maybe the
5th or 6th. I ended up living here after being a student
at Nottingham Trent University. I have a studio space
near the train station for making big messy works,
though when I'm really busy I find that I don't get to
go there as often as I like. I like going to Wagamama
for noodles and to Shebab Nan-Kebab for wonderful
curries and naan breads.
What do you do in your leisure time?
I like going to the cinema and watching whatever is
on. The last thing I saw was Zodiac which was good
but too long. I like snoozing, computer games, milling
about aimlessly, drinking tea with friends, watching
football, vacuuming, buying vegetables, reading
books, checking out art galleries general stuff I
guess. The funny thing is my main hobby is doodling,
so I never really escape from doing that.
Designers' Circle | Design & Life minizine
21
What is your dream project?
I'd love to design the mascot for the London
Olympics! (D&L: Yeah, you should!)
22
Designers' Circle | Design & Life minizine
23
What kind of music do you like? Any favorite band
or singer?
All sorts, from loud to quiet, from happy to sad.
Recently I've been listening to Deerhoof, the Fall,
Modest Mouse, Hot Chip, Grizzly Bear, Gruff Rhys
and lots of Battles.
Based on your style, we think it might be
interested if you design figures that can connect
each other somehow, like LEGO!
What do you think? :D
Oh yes please, that would be great - does anyone
want to assist me on designing some?!
Designers' Circle | Design & Life minizine
25
24
Designers' Circle | Design & Life minizine
27
What does Design & Life mean to you??
Both sound like nice ideas; good design, good life.
What is the difference between design and art?
Design has a function and if it's good you probably
wont even notice it. Art wants to make you notice it.
Any words for your friend Mark? He introduced
you to us! :D
yes, Spurs will finish above Liverpool next season!
Thanks for the interview! This chapter is
designers' circle, and we hope you can introduce
one of your friends(designers, photographers,
architects ), and will be interviewed in the next
issue! Who will be your choice? :D
That's a tough one, there's so many great people I
could introduce you to. Hmmm
Maybe you should say hello to the talented and funny
Bren B, http://www.brenb.net/

Xem chi tiết: Design & life 5


MCSA phần 17 dịch vụ truy cập từ xa

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
402 









Tóm

tắt




thuyết

5

tiết

-

Thực

hành

10

tiết


i
17

DỊCH

VỤ

TRUY

CẬP

TỪ

XA


Mục

tiêu

Các

mục

chính

Bài

tập

bắt

Bài

tập

làm

buộc

thêm


Kết

thúc

bài

học

này

cung
cấp

học

viên

kiến

thức

về
dịch

vụ

truy

cập

từ

xa,

cho
phép

máy

trạm



xa


thể

quay

số

kết

nối

vào
công

ty

thông

qua

đường
dây

điện

thoại,

chia

sẻ
Internet

đơn

giản



I.

Xây

dựng

một

Remote

Access

Server.


II.

Xây

dựng

một

Internet

Connection

Server.

Dựa

vào

bài
tập

môn

Quản
trị

Windows
Server

2003.


Dựa

vào

bài
tập

môn

Quản
trị

Windows
Server

2003.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
403 




I. XÂY DỰNG MỘT REMOTE ACCESS SERVER.

Giả

sử

bạn

định

xây

dựng

một

hệ

thống

mạng

cho

phép

các

người

dùng

di

động

(
mobile

user
)

hoặc
các

văn

phòng

chi

nhánh



xa

kết

nối

về.

Để

đáp

ứng

được

nhu

cầu

trên

bạn

phải

thiết

lập

một
Remote

Access

Server

(
RAS
).

Khi

máy

tính

Client

kết

nối

thành

công

vào

RAS
,

máy

tính

này



thể
truy

xuất

đến

toàn

bộ

hệ

thống

mạng

phía

sau

RAS
,

nếu

được

cho

phép,



thực

hiện

các

thao

tác
như

thể

máy

đó

đang

kết

nối

trực

tiếp

vào

hệ

thống

mạng.




I.1
.

Cấu

hình

RAS

server.


Sau

đây



các

bước

xây

dựng

một

RAS

Server

dùng

các

kết

nối

quay

số.


Đầu

tiên,

bạn

phải

đảm

bảo

đã

cài

driver

cho

các

modem

định

dùng

để

nhận

các

cuộc

gọi

vào.

Để
kiểm

tra,

bạn

vào

Start



Settings



Control

Panel



Phone

and

Modem

Options
,

trong

hộp

thoại
Phone

and

Modem

Options
,

bạn

chọn

Modem

cần

kiểm

tra



nhấp

chuột

vào

nút

Properties
.

Tại
hộp

thoại

Properties
,

bạn

chọn

Tab

Diagnostics



nhấp

chuột

vào

nút

Query

Modem

để

hệ

thống
kiểm

tra

Modem

hiện

tại,

nếu



lỗi

thì

hệ

thống

sẽ

thông

báo.



Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
404 



Tiếp

theo

bạn

cần

kích

hoạt

dịch

vụ

Routing

and

Remote

Access

trên

Windows

Server

2003
.

Bạn

nhấp

chuột

vào

Start



Programs



Administrative

Tools



Routing

and

Remote

Access
,

hộp
thoại

mở

ra

bạn

nhấp

phải

chuột

lên

biểu

tượng

server

của

bạn,

chọn

Configure

and

Enable

Routing
and

Remote

Access
.

Chương

trình

sẽ

xuất

hiện

hộp

thoại

Welcome

to

the

Routing

and

Remote
Access

Server

Setup

Wizard
.

Nhấn

Next

để

tiếp

tục.


Trong

hộp

thoại

tiếp

theo,

Configuration
,

bạn

chọn

Custom

configuration



chọn

Next
.




Tiếp

theo

hộp

thoại

Custom

Configuration

xuất

hiện,

bạn

chọn

mục

Dial-up

access



chúng

ta

cần
xây

dựng

một

Server

cho

phép

các

máy

tính



xa

truy

cập

vào.

Sau

đó

bạn

nhấp

chuột

vào

nút

Next

để

tiếp

tục.

Hộp

thoại

Completing

the

Routing

and

Remote

Access

Server

Setup

Wizard

xuất

hiện,
chọn

Finish

để

kết

thúc.




Một

hộp

thoại

cảnh

báo

xuất

hiện,

yêu

cầu

bạn

cho

biết



khởi

động

dịch

vụ

này

lên

hay

không?

Bạn
chọn

Yes

để

khởi

động

dịch

vụ.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
405 





Trong

cửa

sổ

chính

của

chương

trình,

bạn

cấu

hình

cho

phép

hệ

thống

dùng

modem

để

nhận

các

cuộc

gọi.

Nhấp

phải

chuột

lên

mục

Ports
,

chọn

Properties
.

Hộp

thoại

Ports

Properties

xuất

hiện.
Trong

hộp

thoại

này,

chọn

một

thiết

bị

Modem



nhấn

Configure

để

cấu

hình.




Xuất

hiện

hộp

thoại

Configure

Device
.

Trong

hộp

thoại

này,

chọn

vào

mục

Remote

access
connections

(inbound

only)
,

chỉ

chấp

nhận

các

cuộc

gọi

hướng

vào.

Sau

đó

nhấn

nút

OK
.




Lặp

lại

bước

(7)

cho

các

thiết

bị

modem

khác.

Sau

khi

đã

thực

hiện

xong,

nhấn

nút

OK

để

đóng

hộp
thoại

Ports

Properties

lại.

Tiếp

theo,

bạn

sẽ

cấu

hình

để

Server

thực

hiện

chức

năng

RAS.

Nhấn

phải
Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
406 
chuột

lên

biểu

tượng

Server



chọn

Properties
.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
407 





Hộp

thoại

Server

Properties

xuất

hiện.

Trong

Tab

General
,

bạn

chọn

các

mục

Router
,

LAN

and

dial
-

demand

routing



mục

Remote

access

server
.




Tiếp

theo,

bạn

chọn

Tab

IP
.

Tab

này

chỉ

xuất

hiện

khi

hệ

thống

mạng

của

bạn



sử

dụng

bộ

giao

thức

TCP/IP.

Phần

IP

address

assignment

chỉ

định

cách

cấp

phát

địa

chỉ

IP

cho

các

RAS

Client

khi

quay

số

vào.

Nếu

hệ

thống

mạng

đã

thiết

lập

một

DHCP

Server

thì

bạn



thể

nhờ

DHCP

Server

này

cấp
phát

địa

chỉ

cho

các

RAS

Client

(chọn

mục

Dynamic

Host

Configuration

Protocol
).

Nếu

không

có,
bạn

phải

chỉ

định

danh

sách

các

địa

chỉ

sẽ

cấp

phát

(chọn

mục

Static

address

pool
).

Trong



dụ

này,
bạn

sẽ

nhập

vào

danh

sách

địa

chỉ

IP
.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
408 





Để

bổ

sung

danh

sách

địa

chỉ,

chọn

mục

Static

address

pool



nhấn

Add
.

Xuất

hiện

hộp

thoại

New

Address

Range
.

Trong

hộp

thoại

này,

bạn

nhập

vào

địa

chỉ

bắt

đầu



địa

chỉ

kết

thúc

của

danh

sách.
Các

địa

chỉ

này

nên

lấy

từ

đường

mạng

của

RAS

Server
.

Nếu

bạn

sử

dụng

đường

mạng

khác,

bạn
phải

đặt

các

đường

đi

tĩnh

cho

từng

đường

mạng

mới

đó.

Sau

đó

nhấn

OK

để

đồng

ý

tạo.




Các

Tab

khác

chúng

ta

để

mặc

định,

sau

khi

đã

cấu

hình

xong,

nhấn

OK

để

đóng

hộp

thoại

Server

Properties

lại.




Bước

tiếp

theo



cấu

hình

các

tài

khoản

dùng

để

quay

số.

Bạn



thể

tạo

trong

local

security
database

nếu

RAS

Server

nằm

trong

workgroup

hoặc

tạo

trên

Active

Directory

database

nếu


thành

viên

của

một

domain
.

Kích

hoạt

chương

trình

Local

User

and

Group

(hoặc

Active

Directory
Users

and

Computers

tuỳ

theo



trị

tạo

tài

khoản),

nhấp

phải

chuột

lên

tài

khoản

định

cấu

hình


chọn

Properties
.

Hộp

thoại

User

Properties

xuất

hiện.

Bạn

chọn

Tab

Dial-in



chọn

mục

Allow

Access

để

cho

phép
người

dùng

này

được

phép

truy

cập

từ

xa

thông

qua

quay

số.

Ngoài

ra

trong

hộp

thoại

này

cũng

cho
phép

bạn

chọn

chế

độ

quay

số,

nếu

chọn

mặc

định

(
No

Callback
)

thì

phía

máy

trạm

sẽ

trả

phí

điện
thoại,

nhưng

nếu

bạn

chọn

chế

độ

Callback

thì

phía

Server

sẽ

trả

chi

phí

điện

thoại

trong

quá

trình
quay

số

để

truyền

dữ

liệu.

Sau

đó

nhấn

OK

để

đóng

hộp

thoại

lại.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
409 





Như

vậy



bạn

đã

cấu

hình

xong

một

RAS

Server
.

Người

dùng



thể

bắt

đầu

dùng

tài

khoản

đã

cấp

thực

hiện

kết

nối

từ

xa

qua

đường

quay

số,

truy

xuất

vào

hệ

thống

mạng





quan.





I.2
.

Cấu

hình

RAS

client.


Tiếp

theo

chúng

ta

tạo

một

network

connection

trên

máy

trạm

để

quay

số

đến

một

RAS

Server
.

Máy
trạm



thể

sử

dụng

hệ

điều

hành

Win98
,

WinME
,

Win2000
,

WinXP


Để

kết

nối

đến

một

RAS
Server
,

bạn

cần

tối

thiểu

ba

thông

tin

như:

số

điện

thoại

của

RAS

Server
,

username



passwork

do
RAS

Server

cấp.

Trong



dụ

này

chúng

ta

dùng

máy

Windows

Server

2003

Stand-alone

để

minh
họa,

các

bước

thực

hiện

như

sau:


Mở

menu

Start



Settings



Network

and

Dial-up

Connections
.

Trong

cửa

sổ

Network

and

Dial-

up

Connections
,

nhấp

đôi

chuột

vào

Make

New

Connection
.

Xuất

hiện

hộp

thoại

Welcome

to

the

Network

Connection

Wizard
,

bạn

nhấn

Next

để

tiếp

tục.


Trong

hộp

thoại

Network

Connection

Type
,

bạn

chọn

mục

Connect

to

the

network

at

my
workplace





đây

chúng

ta

kết

nối

với

RAS

Server

nội

bộ

của

công

ty,

không

kết

nối

Internet
.

Sau

đó

nhấn

nút

Next

để

tiếp

tục.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
410 





Tiếp

theo

bạn

chọn

loại

kết

nối



Dial-up

hay

VPN
,



đây

chúng

ta

chọn

kết

nối

kiểu

quay

số

dùng

Modem
.




Theo

hướng

dẫn

của

chương

trình,

bạn

sẽ

nhập

tên

của

kết

nối

này,

số

điện

thoại

cần

gọi

đến

của

RAS

Server
,

kết

nối

này

chỉ

dùng

cho

người

dùng

hiện

tại

hay

cho

mọi

người.


Cuối

cùng,

hộp

thoại

Completing

the

Network

Connection

Wizard

xuất

hiện

bạn

nhấn

nút

Finish

để

hoàn

thành

quá

trình

tạo

kết

nối.


Khi

muốn

thiết

lập

kết

nối,

bạn

kích

hoạt

biểu

tượng

của

Connection

mới

tạo,

hộp

thoại

Connect

xuất
hiện,

bạn

nhập

vào

username



password

đã

được

tạo

ra

trên

RAS

Server

(hay

nói

cách

khác



đã
được

quản

trị

RAS

Server

cấp

phát),

kiểm

tra

lại

số

điện

thoại

của

RAS

Server



nhấn

nút

Dial
.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
411 





II. XÂY DỰNG MỘT INTERNET CONNECTION SERVER.

Bạn

đang

quản



một

hệ

thống

mạng

nhỏ,

sử

dụng

giao

thức

TCP/IP



bạn

định

thiết

lập

kết

nối
Internet

cho

hệ

thống

mạng

của

mình.

Thông

thường,

các

hệ

thống

mạng

như

vậy

sử

dụng

địa

chỉ
riêng

(
private

address
).

Để

các

máy

tính

bên

trong

mạng



thể

truy

xuất

ra

mạng

Internet
,

bạn

cần

phải



một

máy

tính

đóng

vai

trò

như

một

Router

hỗ

trợ

NAT

(
Network

Address

Translation
).






II.1.

Cấu

hình

trên

server.


Bạn



thể

sử

dụng

dịch

vụ

Routing

and

Remote

Access

để

xây

dựng

một

Internet

Connection

Server

hỗ

trợ

NAT
,

phục

vụ

cho

mục

đích

trên.

Cách

thực

hiện

như

sau:


Đầu

tiên,

bạn

phải

đảm

bảo

đã

cài

driver

cho

các

modem.

Thực

hiện

kiểm

tra

như

hướng

dẫn

trong
phần

trên.

Cấu

hình

để

các

Modem

này

chấp

nhận

các

cuộc

gọi

ra

ngoài

khi



nhu

cầu

(
demand-
dial
).

Thực

hiện

theo

các

bước

như

trong

mục

trên

nhưng

đến

hộp

thoại

Configuration
,

bạn

chọn
trong

Network

address

translation

(NAT)
.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
412 





Tiếp

theo

hộp

thoại

NAT

Internet

Connection

xuất

hiện,

bạn

để

mặc

định



chúng

ta

cần

tạo

một

demand-dial

interface
.

Bạn

nhấn

Next

để

chương

trình

tiếp

tục.


Hộp

thoại

Interface

Name

yêu

cầu

bạn

đặt

cho

interface

mới

này

một

cái

tên.

Thông

thường

bạn

nên

đặt

tên

của

Router



xa

để

dễ

quản

lý.




Hộp

thoại

Connection

Type

yêu

cầu

bạn

chọn

loại

kết

nối



interface

này

sử

dụng.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
413 








Hộp

thoại

Select

a

device

yêu

cầu

bạn

chọn

loại

thiết

bị

kết

nối

dùng

cho

interface
.




Trong

hộp

thoại

Phone

Number
,

bạn

nhập

vào

số

điện

thoại



ISP

cung

cấp

cho

bạn.

Hộp

thoại
Protocols

and

Security

yêu

cầu

bạn

chọn

loại

giao

thức

chuyển

vận



các

tuỳ

chọn

an

toàn

cho

kết
nối.

Thông

thường,

bạn

nên

chọn

Route

IP

packets

on

this

interface
.

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
414 








Trong

hộp

thoại

Dial

Out

Credentials
,

bạn

nhập

vào

thông

tin

tài

khoản

dùng

để

kết

nối

đến

ISP

(cũng

chính

ISP

sẽ

cung

cấp

cho

bạn).




Cuối

cùng

hộp

thoại

Completing

the

demand

dial

interface

wizard

cho

biết

kết

thúc

quá

trình

cấu
hình.

Bạn

nhấn

Finish

để

kết

thúc.

Sau

khi

đã

tạo

xong

demand-dial

interface
,

tuỳ

theo

ISP



chấp

nhận

việc

thiết

lập

kết

nối

an

toàn
hoặc

không

an

toàn.

Hiện

tại

các

nhà

cung

cấp

dịch

vụ



Việt

Nam

cung

cấp

các

kết

nối

không


hóa.

Trong

mục

Network

Interfaces
,

nhấn

phải

chuột

lên

demand-dial

interface

mới

tạo,

chọn
Properties
.

Trong

hộp

thoại

Properties
,

chọn

Tab

Security
.

Trong

phần

Security

options
,

mục
Validate

my

identity

as

follows
,

bạn



thể

chọn

Require

secured

password

hoặc

Allow
unsecured

password

(nếu

quay

số

vào

ISP

thông

thường

thì

nên

chọn

mục

này).

Download tài liệu này tại diễn đàn quản trị mạng và quản trị hệ thống | http://www.adminviet.net
 
415 





Mở

rộng

mục

IP

Routing

trong

cửa

sổ

Routing

and

Remote

Access
,

nhấn

phải

chuột

lên

mục

NAT



chọn

Properties
.

Trong

hộp

thoại

NAT

Properties
,

bạn

chọn

Tab

Name

Resolution
.

Trong

Tab
này,

bạn

chọn

mục

Clients

using

Domain

Name

System

(DNS)
.

Nếu

muốn

mỗi

khi



yêu

cầu

phân
giải

tên

thì

Server

sẽ

kết

nối

vào

mạng

thì

bạn

chọn

luôn

mục

Connect

to

the

public

network

when

a
name

needs

to

be

resolved



chọn

demand-dial

interface

vừa

tạo.

Sau

khi

chọn

xong

nhấn

OK

để

kết

thúc.




II.2.

Cấu

hình

trên

máy

trạm.

Do

server

bạn

vừa

thiết

lập

trên

đây



một

NAT

router



một

Forwarder

DNS

Server
,

cho

nên

trên
các

máy

trạm,

ngoài

việc

cấu

hình

TCP/IP

về

địa

chỉ

IP
,

subnet

mask
,

bạn

phải

chỉ

định

default
gateway



DNS

Server



địa

chỉ

của

Server

trên.

Hình ảnh biểu trưng của thành ngữ

Chương I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÀNH NGỮ VÀ HÌNH ẢNH BIỂU TRƯNG
CỦA THÀNH NGỮ
1.1. Thành ngữ
Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của một ngôn ngữ. Thành
ngữ hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của tiếng nói dân tộc. Cùng với từ, nó
phục vụ rộng rãi việc giao tiếp chung một cách phong phú, đa dạng.
Theo định nghĩa của tác giả Hoàng Văn Hành thì: “Thành ngữ là một tổ hợp cố định, bền
vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong
giao tiếp hằng ngày, đặc biệt trong khẩu ngữ” (Thành ngữ học Tiếng Việt). Thành ngữ
bám sát tâm tư và tư duy cũng như hoàn cảnh lịch sử, địa lý các dân tộc nên cùng một câu
mô tả hình thức sản xuất nhưng khác nhau vì rẫy khác, nội dung lại phụ thuộc vào từng
loại canh tác nương rẫy khác nhau, mô tả nam nữ lại phụ thuộc vào nội dung và biểu hiện
của chế độ phụ hệ hay mẫu hệ, do đó người đọc muốn hiểu rõ ý tứ của một câu tục ngữ,
buộc phải hiểu dân tộc đó.Tuy nhiên trong thành ngữ, tục ngữ Thái, Mường, Dao có
nhiều câu giống nhau ở những nhận xét, đánh giá về các quy luật, hiện tượng thiên nhiên,
rừng núi.
Thành ngữ có tính đa nghĩa, trong đó nghĩa bóng mang những hình ảnh biểu trưng có tầm
quan trọn hơn cả. Nghĩa này không chỉ có tính khái quát, tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp
nhưng lại không phải là nghĩa của các thành tố cộng lại. Hầu hết những dẩn tộc có tiếng
nói của riêng mình cũng có những thành ngữ để làm bóng bẩy thêm về ý nghĩa trong câu
nói.
1.2. Hình ảnh biểu trưng của thành ngữ.
Trong cách nhìn của văn hóa học, ngôn ngữ là phương tiện chuyển tải và lưu giữ những di
sản của văn hóa dân tộc. Và trong đó có thể kể đến vốn thành ngữ là một kho báu lưu giữ
những “trầm tích văn hóa” (Hoàng Văn Hành) đặc sắc của văn hóa dân tộc. Ở đây, những
nét, những dấu ấn cũng là những giá trị về văn hóa của dân tộc được lưu giữ ở thành ngữ
không phải bao giờ cũng hiển minh, dễ thấy, mà thường tàng ẩn kín, bị bao phủ bởi “lớp
bụi thời gian”. Trong đó thành ngữ là loại định danh đơn vị bậc hai, nghĩa là nội dung của
thành ngữ không nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ, mà gợi ý điều gì đó suy ra từ
chúng. Đó là bóng bẩy hay ý nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng
hóa.
Có hai loại biểu trưng hóa:
- Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa là giá trị biểu trưng hóa
ngữ âm.
- Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội ngữ
nghĩa gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ nghĩa. Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ
tương đồng là so sánh. Và nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả hai hình thái
biểu trưng hóa: hình thái tỉ dụ (so sánh), hình thái ẩn dụ (so sánh ngắn).
Chương II: KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN TỘC VÀ THÀNH NGỮ DÂN TỘC
2.1. Dân tộc Việt và thành ngữ tiếng Việt
Người Việt là một dân tộc có nguồn gốc tại miền bắc Việt Nam. Đây là dân tộc chính,
chiếm khoảng gần 90% dân số Việt Nam và được chính thức gọi là dân tộc Kinh để phân
biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt. Tổ
tiên người Việt từ rất xa xưa đã định cư chắc chắn ở Bắc bộ và bắc Trung bộ. Trong suốt
tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, người Việt luôn là trung tâm thu hút và đoàn kết
các dân tộc anh em xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nông nghiệp lúa nước đã được hình
thành và phát triển ở người Việt từ rất sớm. Trải qua bao đời cày cấy, ông cha ta đã tổng
kết kinh nghiệm làm ruộng rất sâu sắc: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Chăn
nuôi lợn, gia súc, gia cầm, thả cá cũng rất phát triển. Người Việt nổi tiếng "có hoa tay"
về nghề thủ công nghiệp, phát triển bách nghệ - trăm nghề mà nghề nào dường như cũng
đạt đến đỉnh cao của sự khéo léo tài hoa. Không ít làng thủ công đã tách khỏi nông nghiệp.
Cơm tẻ, nước chè" là đồ ăn, thức uống cơ bản hàng ngày của người Việt. Về mặc, xưa kia,
đàn ông thường mặc quần chân què, áo cánh nâu (Bắc bộ), màu đen (Nam bộ), đi chân đất;
ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn xếp, đi guốc mộc. Ðàn bà mặc
váy đen, yếm, áo cánh nâu, chít khăn mỏ quạ đen (Bắc bộ). Phụ nữ ngày lễ hội hè mặc áo
dài. Mùa đông, cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép bông. Người Việt thường ở nhà trệt.
Trong khuôn viên thường được bố trí liên hoàn nhà - sân - vườn - ao. Ngôi nhà chính
thường có kết cấu ba gian hoặc năm gian và gian giữa là gia trang trọng nhất, đặt bàn thời
gia tiên. Ðại bộ phận người Việt sinh sống thành từng làng, dăm ba làng họp lại thành một
xã. Gia đình của người Việt hầu hết và những gia đình nhỏ gồm 2 thế hệ theo chế độ phụ
quyền nhưng phụ nữ vẫn giữ vai trò quan trọng, thường là người quản lý kinh tế trong gia
đình.
Văn học dân gian với nhiều thể loại phong phú: truyện cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ,
thành ngữ phản ánh toàn bộ mọi mặt cuộc sống của dân tộc. Văn học dân gian góp phần
to lớn vào việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, thành ngữ tiếng Việt nằm trong
không gian chung của văn hóa, cũng phản ánh một phần không chỉ những nếp sinh hoạt
của người Việt, mà qua đó còn thể hiện những nét đẹp trong văn hóa. Tiếng Việt là một
ngôn ngữ lớn so với các ngôn ngữ dân tộc ít người. Không chỉ vốn từ vựng phong phú mà
còn có sự đa dạng trong cách thể hiện, ngữ pháp chặt chẽ logic trong cách trình bày.
Thành ngữ cũng là một sản phẩm chứa đựng trong đó cả một nền văn hóa, lịch sử xã hội
của mỗi dân tộc. Nếu đặt lên bàn cân so sánh thì đó quả là khập khiễng thế nhưng nhìn ở
góc độ nào đó thì tiếng Việt hay ngôn ngữ của một dân tộc ít người nào dù nhỏ bé đến đâu
cũng có chỗ đứng ngang nhau xét về mặt đóng góp cho sự đa dạng chung của ngôn ngữ
một đất nước nói riêng và của kho thành ngữ nói riêng.
2. 2. Dân tộc Tày và thành ngữ tiếng Tày
Dân tộc Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước
Công nguyên. Người Tày sinh sống ở vùng núi thấp miền núi và vùng trung du Bắc Bộ,
nhưng đông nhất là ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang,
Quảng Ninh. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm
canh và biết áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai,
làm cọn lấy nước tưới ruộng. Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu,
cây ăn quả, cây công nghiệp. Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng
cách thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý;
nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Bộ y phục cổ
truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không có thêu thùa
trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài.
Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao búi
tóc, quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm
Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình). Tục lệ cưới xin, ma chay thường tổ chức
linh đình, khá tốn kém. Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ Thổ Công,
Vua bếp, Bà Mụ. Đó là những nét văn hóa từ bao đời nay của người Tày nó ăn sâu vào nếp
nghĩ và sinh hoạt của họ. Bên cạnh đó, ngôn ngữ Tày cũng chịu ảnh hưởng của các dân tộc
lân cận, họ có ngôn ngữ và chữ viết riêng cho mình.
Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời
khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng Dân tộc Tày cũng
như bao dân tộc trong cộng đồng Việt, họ có văn hóa, có ngôn ngữ, tín ngưỡng riêng của
mình. Đặc biệt thành ngữ của Tày. Thành ngữ của dân tộc Tày khá đa dạng, những câu nói
rất gần gũi xuất phát từ thế giới xung quanh họ, từ con chó, con mèo.
Các đức tính gắn liền với lao động như làm ăn thật thà, tiết kiệm, lo xa. Phương pháp tư
duy khách quan, xử lí phù hợp với hoàn cảnh khách quan, nhìn sự vật trong sự phát triển
của nó đều in dấu trong thành ngữ người Việt cũng như các dân tộc thiểu số anh em. Giao
tiếp, cách ăn ở, nói năng, đi lại cũng là một yêu cầu lớn của nếp sống văn hoá mà người
Việt Nam, dù đa số hay thiểu số đều quan tâm rèn luyện. Nói là ngôn ngữ, là cái vỏ của tư
duy, cho nên đã nói thì phải suy nghĩ, nói thường đi đôi với nghĩ, biểu hiện so sánh, ví von
rất cụ thể, thành ngữ của Tày còn thể hiện ở bản chất lao động cần cù; về đạo đức hướng
thiện; về giao tiếp, nếp sống, dựa trên tinh thần đoàn kết, hoà đồng.
Trong các nội dung về nhân cách và rèn luyện nhân cách, thành ngữ của dân tộc Việt cũng
như các dân tộc thiểu số anh em trong đó có dân tộc Tày nổi lên tinh thần hiếu học, với
những quan điểm về học tập mọi nơi, mọi lúc, việc gì cũng cần phải học, học suốt đời, học
đến lúc chết, trên hai mặt cơ bản là trí (học “khôn”) và đức (học “nết”) để lao động và sống
trong quan hệ với bản thân, gia đình và xã hội.
Cũng như các thành ngữ của người Việt và các dân tộc thiểu số khác, thành ngữ Tày thể
hiện mối quan hệ với thiên nhiên, quan hệ xã hội “đại đồng”. Như vậy, thành ngữ Tày
cũng như thành ngữ Việt đều nói đến những khía cạnh của đời sống con người, về thiên
nhiên, nòi giống, về gia đình và những sinh hoạt thường nhật của họ. Tuy nhiên, cách thể
hiện trong lời nói, qua ngôn ngữ có phần khác biệt so với thành ngữ tiếng Việt, đặc biệt ở
hình tượng biểu trưng.
2.3. Dân tộc Chăm và thành ngữ tiếng Chăm
Dân tộc Chăm cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và một phần nhỏ ở An Giang, Tây Ninh,
Ðồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, tây nam Bình Thuận và tây bắc Phú Yên Người Chăm
chủ yếu theo đạo Hồi (nhóm Bà Ni và nhóm Ixlam) và đạo Bà La Môn (chiếm 3/5 dân số).
Duy trì chế độ mẫu hệ, con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con, con trai ở rể. Con
gái được thừa kế tài sản, con gái út phải nuôi dưỡng bố mẹ. Các lễ hội dân gian truyền
thống tiêu biểu của người Chăm đó là: lễ hội Katê (tưởng niệm đấng cha - lễ hội lớn nhất,
vui nhất của người Chăm theo đạo Bà La Môn) ; lễ hội Ramưwan - lễ hội điển hình nhất về
lễ nghi ở thánh đường của người Chăm theo đạo Hồi; lễ hội Tháp Bà (tưởng niệm nữ thần
Mẹ Xứ sở); lễ mừng sức khỏe, lễ múa tống ôn đầu năm, lễ cưới Trang phục Chăm, vì có
nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Lúa là cây
lương thực chính. Nghề phụ là buôn bán và dệt vải. Tiếng Chăm là ngôn ngữ của người
Chăm ở Đông Nam Á, trước đây là ngôn ngữ của Vương quốc Chăm Pa ở miền Trung
Việt Nam. Đây là một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia của hệ ngôn ngữ
Nam Đảo.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của nền văn hóa Việt Nam đa dân tộc, văn hóa của
người Chăm chiếm một vị trí đáng chú ý. Bởi vì văn hóa của người Chăm không những chỉ
được coi như một biểu hiện độc đáo về tính đa dạng của văn hóa Việt Nam, mà còn góp
phần tạo nên một sắc thái riêng trong văn hóa của người Việt và một vài tộc người khác
nữa. Nhiều tư liệu quí về văn hóa của người Chăm đã được công bố và đánh giá, trong đó
có những tư liệu về văn học, chủ yếu là văn học dân gian. Sự phong phú về thể loại
folklore ngôn từ như sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ, câu đố… .Giữa tục ngữ,
thành ngữ, câu đố của người Chăm và người Việt vừa có những nét tương đồng và có
những nét khác biệt, và do đó có thể gợi ý một sự nghiên cứu so sánh văn hóa dân gian hai
dân tộc, trên các phương diện lối sống, lối nghĩ và lối nói.
Theo Inrasara nhà nghiên cứu văn hóa Chăm thì thành ngữ là “đơn vị giáp ranh” giữa từ và
câu nhưng ranh giới này chưa được phân định một cách dứt khoát. Ông dựa vào hai đặc
tính chính để xác định thành ngữ tiếng Chăm là:
1. Về hình thức: nghĩa là mặt cơ cấu hình thái, thành ngữ Chăm thuộc loại cụm từ cố định:
Rwai đơm o pah (Ruồi bu không đuổi)
Kaik lithun kaik liya (Cắn hành ngậm gừng)
Nhưng đôi lúc nó cũng có những biến thái nhất định
Tuh ia akauk ada (Nước đổ dầu vịt)
Tuh ia hala nhiơm bwa (Nước đổ lá môn)
2. Về ngữ nghĩa: đại đa số thành ngữ tiếng Chăm thường mang nghĩa bóng:
Bbơng glai mưtah (ăn rừng sống –ngoại tình)
Papauh tapai ka urang pok (xua thỏ cho người ta bắt- khờ khạo)
Tuy nhiên không vì thế mà nghĩa đen, nghĩa thực bị mờ hẳn đi
Yamưn yơu saradang (Ngọt như đường)
Rilauw taprah (Máu đổ thịt rơi)
Từ những đặc tính trên ,Inrasara không kể vào vốn thành ngữ tiếng Chăm những đặc ngữ
(thường bị nhận nhầm là thành ngữ) như:
Haluh ilimo (suốt kiến thức –thông thái)
Tamư kađaung (vào thừa –thụ thai)
Hay những cụm từ mà kết cấu lỏng lẻo như:
Bơng sa ia ta mưh (Quê hương đất nước)
Nha saung gơp (Dính với nhau- trai gái)
Nói chung chúng ta thường gặp hơn cả các trường hợp một thành ngữ tiếng Chăm được
cấu tạo bằng:
- Ba từ rời: Bbơng bu pađiak (ăn cháo nóng- cơ hội): Yut klauh hatai( bạn nối khố)
- Bốn từ đơn hay hai từ ghép liên hợp
Ba tamư labang mưtai (Mang xuống tuyền đài)
mưđa akauk laman takai (Trẻ người non dạ)
- Năm từ trở lên
O khin gauk bilơu takai (Không dám đụng lông chân)
Arauk crah canar di/ngauk saban (Cóc xếp thành bệ trên cao)
- Láy ghép bằng phương thức láy của thành ngữ (không giống với láy tư của từ)
Bbơng klaik bbơng savah (Ăn bớc ăn hốt)
Mưtưh mưin mưtưh biak (Nửa đùa nửa thật)
Ngoài ra, Inrasara còn xếp vào thành ngữ Chăm các cấu trúc so sánh, có so sánh đủ cả hai
vế:
Gila yơu kabaw (Ngu như trâu)
Limưk yơu Katwơc bhik (Béo như tượng Phật)
Lẫn so sánh giản lược
Yơu mưyaw bboh takuh (Như mèo thấy chuột)
Yơu hanrwai yơu taba (Như điên như dại)
Chương III. ĐỐI CHIẾU NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TRƯNG CỦA THÀNH NGỮ
TIẾNG VIỆT VÀ THÀNH NGỮ TIẾNG TÀY, TIẾNG CHĂM
Trong sự giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung mô tả và đối chiều về hình ảnh biểu
trưng của thành ngữ tiếng Việt và thành ngữ tiếng Chăm, tiếng Tày trên các bình diện:
Động vật, thực vật, lao động sản xuất, tình yêu, hôn nhân, nguồn gốc lịch sử dân tộc, văn
hóa đạo đức.
3.1. Hình ảnh biểu trưng về động vật trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu với thành
ngữ dân tộc.
Tiếng Việt có kho thành ngữ đồ sộ về số lượng và đa dạng trong cách thể hiện hơn so với
thành ngữ dân tộc Chăm hay Tày. Nhưng điều được ghi nhận là ở thành ngữ Chăm hay
Tày sự thể hiện của họ rất độc đáo, mộc mạc như chính bản sắc dân tộc họ. Có những cách
ví von so sánh rất sáng tạo đặc sắc đôi khi hấp dẫn hơn so với thành ngữ tiếng Việt. Dù là
tục ngữ hay ca dao thì hình tượng biểu trưng trong đó là rất quan trọng, với những nhận
định ngắn gọn được thể hiện ở vài câu chữ thì dùng hình ảnh biểu trưng cho điểu muốn nói
là cách nhanh nhất và hiệu quả nhất truyền đạt ý nghĩa trọn vẹn nhất. Do vậy, thành ngữ đã
sử dụng rất nhiều hình ảnh biểu trưng cho mình, từ những hình ảnh quen thuộc giản dị đến
những hình tượng kiêu sa cao quí. Tất cả đều hòa vào dòng điệu của những cách so sánh,
ví von nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Nét tương đồng thấy rõ nhất giữa viêc dùng thành ngữ tiếng Việt với tiếng Chăm và tiếng
Tày là ở chỗ hình ảnh được sử dụng ở đây gần như là giống nhau. Nhất là hình ảnh lấy từ
cuộc sống hàng ngày là những con vật nuôi gắn bó với cuộc sống của họ từ chó, mèo,
chuột đến những con bò con trâu mà hàng ngày theo họ ra đồng…những con vật ấy được
đưa vào thành ngữ rất giản dị và người ta đã võ đoán cho nó những đặc điểm tốt hay xấu.
Mỗi một dân tộc thì có cách nhìn nhận vấn đề khác nhau, cách tri nhận khác nhau một
phần do văn hóa lối sống của chính họ. Với người kinh thì coi khinh chó hay bò, thế nhưng
với người Chăm hay người Tày thì lại khác họ trân trọng chúng và với họ luôn có những
cái nhìn trìu mến đối với chúng. Điều này được thể hiện trong thành ngữ họ thì trâu hay bò
đều có những đặc tính tốt đẹp:
Ví dụ thành ngữ Tày có câu:
Vàu lảm lảng, giáng khoen kho
Trâu buộc trong chuồng, gươm treo trên nóc
Thành ngữ Chăm:
Anưk tacauw limauw kabaw
Con cháu trâu bò =con cháu hậu sinh
Hay :
Một bên trâu một bên bò= kẻ chín lạng người nửa cân
Để xem xét cụ thể hơn ta sẽ đi sâu vào từng đặc điểm của thành ngữ mỗi dân tộc trong sự
đối chiếu với thành ngữ tiếng việt.
3.1.1 Đối chiếu hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ Việt – Chăm.
Tiếng Chăm có sự gần gũi với tiếng Việt hơn tiếng Tày, có thể là do nguyên nhân về lịch
sử nên sự giao thoa mạnh hơn. Biểu hiện rõ nhất là trong thành ngữ tiếng Chăm có sự
tương đồng rất lớn với tiếng Việt, có những câu thành ngữ gần như giống hoàn toàn. Xét
về mặt biểu trưng với những hình ảnh động vật được dùng thì hầu như là trùng lặp.
Ví dụ:
- Akhar yơu mưnuk prah
Chữ như gà bươi
- Ia mưta biya
Nước mắt cá sấu
- Takuh laik tamư khang brah
Chuột sa chĩnh gạo
- Tuh ia akauk ada
Nước đổ đầu vịt.
- Nhal yơu litah.
Dai như đỉa.
- Yơu asơu saung mưyaw.
Như chó với mèo
Ngoài những câu thành ngữ giống nhau hoàn toàn thì thành ngữ Chăm cũng có những sự
khác biệt rất đặc sắc. Một bộ phận nào đó của thành ngữ của hai ngôn ngữ này có sự giao
thoa chưa trọn vẹn dẫn đến việc thành ngữ đó về cơ bản giống nhau về ý nghĩa, hình thức
chỉ duy nhất về hình ảnh động vật được sử dụng là khác nhau, hoặc nếu dùng hình ảnh
giống nhau thì cách lí giải cũng có sự khác biệt.
Thành ngữ Việt Thành ngữ Chăm
Chửi chó mắng mèo Đánh chó đánh mèo
Ataung asơu rơw mưnuk
Đánh chó đuổi gà.
Ông nói gà bà nói vịt. Ong đom limauw, muk lac kabaw
Ông nói bò , bà nói trâu.
Mạnh như hổ Khơng yơu kabaw
Mạnh như trâu.
Sở dĩ người Chăm thường sử dụng hình ảnh con trâu trong thành ngữ của mình là vì cuộc
sống của họ coi trọng nhất là con trâu, đời sống nông nghiệp buộc họ gắn liền với con trâu
cái cày.
Xét về hình ảnh động vật được dùng trong thành ngữ thì thành ngữ tiếng Việt phong phú
đa dạng hơn, các con vật được sử dụng nhiều hơn. Ở thành ngữ Chăm chỉ sử dụng một vài
hình ảnh con vật thân thuộc nhất với đời sống người Chăm như con trâu con bò, hổ, chuột,
rắn trong khi thành ngữ tiếng Việt có đưa vào những con cá rô, con cáy, vọ, rươi,
phượng…Tuy nhiên thành ngữ Chăm có nét đặc sắc ở chỗ họ dùng những hình ảnh con vật
mà người Việt không biết được những con ruồng cốt, hay dùng những hình ảnh lạ như con
thằn lằn,dơi, bồ câu, trứng gà so…
Sự khác biệt giữa thành ngữ Chăm và Việt được thể hiện rõ nét ở cách dùng hình ảnh con
vật khác nhau, ở cách diễn đạt khác nhau của cùng một vấn đề. Cụ thể:
Thành ngữ Việt Thành ngữ Chăm
Chó cắn áo rách Kathaut ula laik, mưđa kalaut tahla gauk
mưh
Nghèo rắn lại cắn thêm, giàu bóc vỏ cây
được vàng
Khổ như thân trâu ngựa Kho yơu asơu mưtai
Khổ như chó chết.
Làm trâu làm ngựa = Ngap asơu ngap
mưyaw(làm dơi làm chuột)
Chim sổ lồng Ciim klah di habai, tapai klah d icing
Chim sổ giỏ, thỏ sổ chuồng.
Lúng túng như gà mắc tóc Ciim klah di habai, nai klah di cei.
Chim thoát khỏi giỏ, cô thoát khỏi chú.
Thơk dơw yơu asơu gauk raywak
Rối bong như chó vướng lưới.
Lẩn quẩn như gà mắc đẻ = yơu mưnuk
pajwak thruh (lẩn quẩn như gà dọn ổ)
Ngàn cân treo sợi tóc Jamauk đơm take kabaw(muỗi đậu sừng
trâu)
Hổ thả về rừng Yơu urang tiap kabaw palau hamu garaung
= như trâu thả về rừng.
Mật ngọt chết ruồi Rwai đơm ò pah = ruồi bu không đuổi (khờ
khạo)
Nhát như thỏ đế Hwơc chai ciim
Nhát như chim
Câu thành ngữ chỉ bụng dạ xấu xa của kẻ hiểm độc, người Viêt dùng hình ảnh “sói”,
“lang” còn người Chăm dùng hình ảnh “rắn hổ mang”
- Tung tian ula paravak
Bụng dạ rắn hổ mang.
Trong thành ngữ Chăm hình ảnh con vật được ví von rất ngô ngê, giản dị :
- Nau yơu asơu pâch akauk
Đi như con chó nứt đầu(đi như con chó điên)
- Thun katrow cauh bauh
Năm bồ câu mổ trứng (mất mùa)
Thành ngữ Việt dùng hình ảnh nọc rắn để chỉ người thâm độc trong khi người Chăm dùng
hình ảnh cụ thể rắn hổ mang “nọc rắn miệng rắn”.
Những hình ảnh con vật trong thành ngữ Việt mà thành ngữ Chăm không dùng tới như:
Bán bò tậu ễnh ương
Bỏ con săn sắt bắt con cá rô
Ăn ốc nói mò
Những hình ảnh ốc, săn sắt hay ễnh ương chỉ có thành ngữ Việt dùng đối với tiếng Chăm
thì hoàn toàn xa lạ và ngược lai.
3.1.2. Đối chiếu hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ Việt – Tày
Tày là dân tộc ở miền núi phía bắc cho nên những hình ảnh động vật biểu trưng trong
thành ngữ của dân tộc mình có những độc đáo khác hẳn so với thành ngữ Việt. Những con
chim con thú miền núi cao sẽ không thể có được trong thành ngữ Việt và ngược lại.
Nét tương đồng giữa thành ngữ Việt và Tày tuy không nhiều như Chăm nhưng không phải
là không có. Mặc dù sự giao thoa không đáng kể nhưng cũng có những thành ngữ mà cả
hai dân tộc đều sử dụng như nhau và giống nhau hoàn toàn.
Ví dụ như:
- Băng ma cắp mèo.
Như chó với mèo.
- Bặng vỏ mẻ đoi (sự xa cách của đôi trẻ
yêu nhau)
Như vợ chồng Ngâu.
- Ma xe phải khát.
Chó cắn giẻ rách.
- Pioi sưa mứa pù.
Thả hổ về rừng.
- Bấu thua bấu thắng
Không đầu không đuôi.
Sự khác biệt giữa thành ngữ Việt và Tày được thể hiện khá rõ rêt. Cùng một câu có ý nghĩa
như nhau nhưng cách thể hiện của người Tày khác xa đối với người Việt. Điều này thể
hiện sự khác biệt về tư duy lối tri nhận của mỗi dân tộc, ngoài nguyên nhân về lối sống,
môi trường cư trú còn kể đến truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc dẫn đến sự khác biệt
này. Cụ thể như sau:
Thành ngữ Việt Thành ngữ Tày
Đếm ngược đếm xuôi Án mò án mạ
Đếm bò đếm ngựa(người ta muốn làm gì thì
làm, bất chấp việc làm của người khác)
Dở dở ương ương Bấu súc bấu đíp (không chín không sống)
Bí rì rì Bí xu khiêm (bí như lỗ trôn kim khâu)
Thẳng cánh cò bay Ca bân tốc, nốc bân thai (quạ bay qua sẽ gẫy
cánh rơi xuống, chim bay qua sẽ kiệt sức
lộn cổ mà chết)
Ham sống sợ chết Gàm cón sửa dằng, gàm lăng sủa bắc
(bước trước sợ hổ gầm, bước sau sợ hổ vồ)
Lo bò trắng răng Giau cooc mò vần khỉa(lo sưng bò mắc sâu
khoàng)
Cổ cao ba ngấn, thắt đáy lưng ong Gò tặng rặng kíu (người con gái đẹp có
duyên)
Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội
sông
Hất bặng hân, kín bặng sưa (làm việc thì
như con cáo mà an thì như con hổ)
Rùa rụt cổ Kho bặng phiẳm (co lại như con phiăm)
Bình chân như vại Ma háu bố nhò thua (chó sủa không nhấc
đầu)
Nổi gai ốc Năng thua thỉu (da đầu xách lên)
Đàn gảy tai trâu Pấu pí xu vài( thổi kèn vào tai trâu)
Ông nói gà bà nói vịt Phuối gằn nà, lòa kha cáy(nói chuyện bên
bờ ruộng lại nói chuyện quật chân gà)
Trứng khôn hơn vịt Pi khen cải quá pi khai (bắp tay lớn hơn bắp
chân)
Châu chấu đá xe Tảm tác đè gò pất (bọng tre đè cổ vịt)
Đỉa phải vôi Lình pét khỉ cáy
Khỉ dây cứt gà
Nhìn chung thành ngữ Tày và thành ngữ Việt dù tỉ lệ giống nhau hoàn toàn trong việc dùng
hình ảnh biểu trưng là động vật thế nhưng tỉ lệ thành ngữ giống hình thúc đến ý nghĩa là
đáng kể. Điểm khác biệt là thành ngữ Tày đã sáng tạo ra nhiều hình thúc mới vỡi những
hình ảnh ví von độc đáo. Ở mỗi câu thành ngữ dù cùng dùng hình ảnh những con vật gắn
liền với đời sống của dân tộc mình nhưng nét khác biệt là ở chỗ người Tày cũng dùng hình
ảnh đó nhưng cách so sánh lại lạ lẫm. Chẳng hạn trong câu”chó sủa không nhấc đầu” để
nói về việc “bình chân như vại”, đó chính là nét khác lạ, hay như câu “quạ bay qua sẽ gẫy
cánh rơi xuống, chim bay qua sẽ kiệt sức lộn cổ mà chết” để nói sự bao la rộng lớn của
cánh đồng. Trong thành ngữ Tày thì việc dùng nhiều hình ảnh con vật chỉ ở miền núi cũng
là điểm khác so với thành ngữ Việt và ngược lại. Người Việt sẽ không thể biết đến con
Phiăm, hay con rúi trong câu thành ngữ “đeng đăng ổn (đỏ mũi như con rúi).Và ngược lại
người Tày sẽ khó quen thuộc với con loan con phượng, con cà con kê Ở mỗi một vùng
miền thì có một đặc trưng riêng và điều này thấm vào lời ăn tiếng nói hàng ngày, thấm vào
lối sống và đời sống văn hóa của họ.
Thành ngữ Tày còn có những nét khác biệt hoàn toàn so với thành ngữ VIệt có những câu
thành ngữ rất độc đáo. Ví dụ như:
-Đi théc
Mật vỡ (giận dữ cao độ)
-Đăm băng bẻ bót
Tối mù mịt như con dê bị mù ( dốt nát thiếu tri thức).
- Liêng nốc soa cáy thướn
Đem trứng chim trĩ, gà lôi về ấp (công việc vô ích)
- Lình ké tốc đán
Khỉ già rơi vách đá ( hiện tượng ngẫu nhiên bởi chủ quan, sơ suất)
3. 2. Hình ảnh biểu trưng về thực vật trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu với thành
ngữ dân tộc.
Việc sử dụng thực vật làm chất liệu ngôn từ trong các loại hình nghệ thuật như hội họa,
điêu khắc, âm nhạc cho đến văn thơ…. Thực vật còn được con người đưa vào trong những
câu ca dao, thành ngữ và tục ngữ, nhằm bộc lộ những tâm tư tình cảm của con người, đồng
thời thể hiện nếp sống, văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc, nó tạo nên sự phong phú
và đa dạng, đa màu sắc. Trong thành ngữ tiếng Việt, tiếng Chăm và tiếng Tày cũng không
phải là ngoại lệ. thực vật sử dụng trong thành ngữ các ngôn ngữ này được xem như một
hình ảnh biểu trưng. Tuy nhiên so với thành ngữ tiếng Viêt, thì viêc sử dụng thực vật làm
hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ tiếng Chăm và tiếng Tày là rất ít, chỉ tồn tại một số
câu, hầu như là có hình thức và nội dung giống với thành ngữ tiếng Việt.
3.2.1. Sử dụng thực vật làm hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng
Tày.
Thành ngữ tiếng Việt và tiếng Tày đều lấy những loại cây rất quen thuộc, gắn
liền với đời sống con người để đưa vào thành ngữ. Đây chủ yếu là những cây lương thực
ngắn ngày, được dùng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Điều này cũng thể hiện phần
nào tính cách hiền lành, chất phát của người nông dân Việt Nam, họ lấy những cái thực tế,
gắn bó với mình, và một cách đơn giản, họ tạo ra những câu có vần , có điệu thật mộc mạc.
Chẳng hạn, để chỉ một người hay một nhóm người làm hay hiểu một vấn đề gì
đó mà nhiều lần vẫn không hiểu, hoăc lâu hiểu, thường là việc học, thì cả thành ngữ tiếng
Việt và tiếng Tày đều có câu:
Tiếng Việt : Nước đổ lá khoai/ Nước đổ lá môn
Tiếng Tày : Phuối tông năm roảt toong. – nước đổ lá khoai
Trong nhận thức của người Việt và người Tày cũng không có gì khác về vấn đề
này. Cả hai đều sử dụng khoai làm chất liệu chủ đạo của câu nói. Khoai được sử dụng ở
đây là một hình ảnh ẩn dụ phi đối xứng, lấy khoai để ngụ ý chỉ người. Nhằm giúp cho
người nói nói một cách dễ dàng hơn mà không sợ người nghe phật ý. Bởi khi nói đến câu
này, chúng ta đều tri nhận theo cách đơn giản nhất đó là : (ngu như) nước đồ lá khoai. Có
thể nói đây là một cách nói gián tiếp.
Hay để chỉ cảm giác ngọt:
Thành ngữ Việt: Ngọt như đường
Thành ngữ Tày: - Pác van văn thương ỏi
Ngọt như mía lùi
- Van hơn thương căp ỏi
Ngọt hơn đường ăn với mía
Nghĩa của đường ở đây là chất ngọt, như đường thốt nốt, còn mía là một loại cây ăn được,
có vị ngọt, dùng để làm ra đường và mật. Ở đây người Việt đã dùng đường – một sản
phẩm lấy từ mía, sử dụng ngôn từ một cách gián tiếp.
Còn người Tày thì dùng mía một cách trực tiếp.
Như đã nói ở trên, việc sử dụng thực vật làm hình ảnh biểu trưng trong thành
ngữ tiếng Tày là rất ít, vì vậy mà không thể so sánh với nhiều thành ngữ thực vật trong
tiếng Việt được.
Ví dụ: Để chỉ một câu chuyện có đầu có đuôi thì tiếng Việt nói: Ra môn ra khoai nhưng
trong tiếng Tày không có.
Hay câu: Canh chua khế cũng chua; Ngậm hột thị; Nghèo rớt mùng tơi; Mượn
gió bẻ măng….
3.2.2. Sử dụng thực vật làm hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng
Chăm
Giống như thành ngữ tiếng Tày, thành ngữ thực vật trong tiếng Chăm cũng rất ít.
Để có một lời chức mùa màng bội thu, người Chăm sử dụng cây lúa, cây lau,
cây bầu, lá sả để tạo ra câu thành ngữ mà tiếng Việt không có như:
Juk yơu kabauw, thran yơu lamưlaw, dah dlaw yơu plơng.
(lúa) trời xanh như cây lau, đâm rễ như chum bầu, trổ cành như lá sả.
Cây lúa,lau, bầu, sả đều là ba loại cây gắn liền với cuộc sống của con người, đặc biệt là
cây lúa – thể hiện văn hóa truyền thống lúa nước của người Việt Nam.
Nói lên hoàn cảnh khổ cực, tủi nhục khi phải chịu đựng một điều gì đó thì người Chăm có
câu:
Kailk lithun kaik liya - cắn hành ngậm gừng.
Tương đương với tiếng Việt là : Ngậm đắng nuốt cay. Hành và gừng là hai loại củ khi ăn
sống rất cay, thường thì ít khi người ta ăn sống củ hành và gừng, có chăng thì cũng đã qua
sơ chế như muối. Vì nó khó ăn, hành và gừng chủ yếu được dùng làm gia vị cho bữa ăn mà
thôi. Nhưng chính việc nhờ vào vị cay của hai loại củ này mà người Chăm đã tri nhận một
cách trực tiếp, mộc mạc, không có sự gọt giũa về ngôn từ và đã đưa chúng vào thành ngữ.
Ta có thể thấy thấp thoáng vẻ ngây thơ, chân thành của con người nơi đây.
3.3. Hình ảnh biểu trưng về lao động sản xuất trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu
với thành ngữ dân tộc.
Như đã phân tích ở trên, thành ngữ được cấu tạo từ những cụm từ mang nghĩa cố
định, hoàn chỉnh, phản ánh các mặt của đời sống. Bên cạnh việc phản ánh các quan hệ xã
hội, những vật thể xung quanh,… thì thành ngữ với chức năng của nó đã thể hiện một cách
sâu sắc khía cạnh lao động sản xuất của con người. Con người đã sử dụng thành ngữ để
làm cho cuộc sống của mình thêm sinh động, sắc màu hơn. Bởi lẽ, thành ngữ được đúc kết
từ những kinh nghiệm cuộc sống vừa khái quát lại vừa cụ thể những sự vật, hiện tượng
trong cuộc sống, trong ứng xử, mà tiêu biểu hơn cả là trong hoạt động lao động sản xuất.
3.3.1. Mối tương quan giữa thành ngữ Tày- Việt:
Dân tộc Tày cũng giống như bao dân tộc khác, họ cũng đã tự tạo cho mình những
ngôn ngữ vừa ngắn gọn, súc tích, vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Họ rút ra từ trong chính
cuộc sống những hình ảnh lao động sản xuất thân thuộc, bình dị nhưng có sức tạo hình, lôi
cuốn, hấp dẫn. Có thể nói như vậy tại vì, thành ngữ Tày đã phản ánh khá đầy đủ các khía
cạnh nhỏ thuộc lĩnh vực lao động sản xuất. Tuy nhiên, chúng ta không thể hoàn toàn phủ
nhận sự khác nhau giữa thành Tày và thành ngữ Việt. Có khi, chúng giống nhau gần như
trọn vẹn.
Để giới thiệu không gian lao động sản xuất, thành ngữ Tày nói:
- Ca bân tốc, nốc bân thai
(Quạ bay qua sẽ gãy cánh rơi xuống, chim bay qua sẽ kiệt sức lộn cổ mà chết).
- Phiêng lít phiêng lí
( Phẳng phiu thẳng tắp)
Ta có thể thấy được một không gian mênh mông, rộng lớn, bát ngát. Tương tự, thành ngữ
Việt tương ứng: “ Cò bay thẳng cánh”.
Trong lao động sản xuất, một đòi hỏi tất yếu cho mọi người đó là phải siêng năng. Vì vậy,
người Tày đã truyền với nhau:
- Đăm khảu dạu oóc
(Tối mới về nhà, vừa sáng đã ra cửa)
Tương ứng là câu thảnh ngữ Thức khuya dậy sớm của người Việt.
Nỗi lo của người nông dân cũng được thể hiện thông qua hình ảnh:
- Nả đăm thâu cáy
( Mặt đen như cái mề gà)
- Nả đăm nả mẩy
( Mặt đen như mặt cháy)
Lối so sánh vừa dung dị, bình dân vừa khác lạ, nhân nỗi lo tăng lên gấp bội phần.
Có những công việc hết sức có ý nghĩa, nhưng lại không ít công việc vô ích mà họ bắt gặp.
Họ luôn lên tiếng, luôn phản đối những hình ảnh:
- Nòn gai thả mác đứa
( Nằm ngủ há mồm, chờ sung rụng để ăn)
- Tăm bố tỏong, toong khân từng. Đăm bố biai, giai hom rửng
( Không đăm không giã bụng căng phình, không cấy không làm cỏ hưởng hương thơm
phưng phức )
Tương đương với câu Há miệng chờ sung trong tiếng Việt để phê phán, chỉ trích những
con người với những thói hư tật xấu, không lo làm ăn mà chỉ ngồi chờ đợi, ỷ lại vào người
khác, chỉ thích ngồi mát ăn bát vàng.
Bên cạnh đó, người Tày còn phê phán, chỉ trích những công việc vô ích, không phục vụ
cho nhu cầu nào của xã hội.
- Thảng rầy nắm ót cổn
( Đơm đó không bịt trôn)
- Thảng rầy piai mạy
( Đơm đó ngọn cây)
- Tháp năm tó bó
( Gánh nước về mỏ nước)
Ngoài ra, họ còn phê phán những người làm không đến nơi đến chốn, để rồi kết quả cũng
chẳng đâu vào đâu cả:
- Hất cón tả lăng
( Làm việc trước bỏ việc sau)
- Hất khoái bầu rải đây
( Làm nhanh, không được tốt mấy)
Chúng ta thường bắt gặp nhiều nhất trong thành ngữ Tày là hình ảnh con trâu. Con trâu gắn
liền trong cuộc sống của họ, giúp họ nhiều nhất trong lao động sản xuất. Thế nên, con trâu
đã đi vào thành ngữ như một sự tất yếu:
- Vài lảm lảng
( Trâu buộc trong chuồng)
- Vài nhẳm dưởc
( Trâu dẫm thừng)
Họ luôn biết được kinh nghiệm:
- Vài cải khỉ cải
( Trâu to bãi phân lớn)
Bao hình ảnh thân quen trong chính cuộc sống mà hằng ngày con người đã tiếp xúc đi vào
trong thành ngữ với bao đường nét, sắc màu. Cuộc sống lao động của con người tuy vất vả,
khổ cực nhưng cuối cùng cũng chỉ là :
- Rườn đó mở khoen pha
( Nhà nghèo nồi treo vách)
3.3.2. Mối tương quan giữa thành ngữ Chăm- Việt:
Thành ngữ Chăm cũng đã tạo dựng nhiều hình ảnh về lao động sản xuất. Trong số đó nổi
lên hình ảnh cần cù, chịu khó trong lao động của con người. Ta nhận ra chu trình khép kín
của công việc, luôn bận bịu, tất bật:
Thành ngữ Việt Thành ngữ Chăm
Đầu tắt mặt tối - O hu herai ha, o hu jala klah
( Chẳng có một ngày hở, chẳng có một bữa
rãnh)
- Akauk trun takai tagok
( Đầu xuống chân lên)
Đầu đội vai mang Akauk đwa bíra anaurg
( Đầu đội vai gánh)
Đồng tâm hiệp lực Sa tangin sa takai”
( Đồng tâm hiệp lực)
Một lòng một dạ Sa tung sa hatai”
( Một lòng một dạ)
Sự vất vả, lam lũ, cần cù, siêng năng của những con người ham mê lao động, nhiệt tình đi
tìm nguồn sống được thể hiện qua những công việc cụ thể:
- Kauh paga rơp lanaung
( Chặt cây làm sàn)
- Kwa pabbuk truk pataum
( Cào dồn vun đống)
Họ làm bất chấp mọi điều, quên đi thân xác của mình:
- Ngap bbơng hak rup
( Làm như xẻ cả thân mình)
- Ngap yơu ciim cauh
( Làm như chim mổ)
Sự lao động cực khổ giữa đất trời:
- Dan di pađiak, riak di hajan
( Phơi ngoài nắng, nấu ngoài mưa)
Rồi cuối cùng cũng mang lại cho họ những thành quả lao động cao. Họ đã tạo cho cuộc
sống mình nhiều:
- Ahar crih bauh bingi
( Bánh lạ quả ngon)
- Adauh yỏu anủk halak
( Gạo trộng như con sâu)
Bên cạnh những con người say mê trong công việc, bỏ công sức lao động của mình
để thu lại kết quả cao thì lại có những con người chỉ làm cho có làm với mọi người mà
không có kết quả gì trong lao động. Họ luôn bị xã hội và mọi người lên án, phê phán:
- Ngap pabak drei jan
( Làm cho có)
- Ngap mưin bbơng biak
( Làm chơi xơi thiệt)
- Ngap yơu urang pauh blah
( Làm như ăn cướp)
Tất yếu sẽ đến với họ là cái đói, nghèo:
- ỏk đong talang
( Đói trơ xương)
Hay:
- Asơn kaih klaih iku”
( Khố rách áo ôm)
Tóm lại, lao động sản xuất đã đi vào trong thành ngữ một cách đặc sắc như vậy đó.
Nó tồn tại như một sự vĩnh hằng, trường tồn theo thời gian. Lối so sánh giản dị, giàu hình
ảnh, người dân lao động đã thể hiện những khía cạnh trong hoạt động sản xuất. Tất cả
được người dân nhận thức và thể hiện như một cái gì đó tất yếu phải có. Để rồi, trong cuộc
sống vất vả ấy, họ vẫn tươi cười để chúc nhau:
“ Ngap hamu hu padai, nau raglai hu jiên”
( Làm ruộng được mùa, đi buôn được bạc)
3.4. Hình ảnh biểu trưng về hôn nhân trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu với thành
ngữ dân tộc.
Hôn nhân là cái gì cao đẹp về tinh thần, cái gì hòa hợp của tình yêu giữa trai gái, vợ chồng.
Từ xa xưa thành ngữ Việt Nam và các dân tộc thiểu số đã nói nhiều về lĩnh vực hôn nhân
như quan niệm về hôn nhân, ý thức sống chung của đôi trai gái, ước vọng tạo lập gia đình,
gây dựng sự nghiệp, hay hôn nhân hạnh phúc, hôn nhân bất hạnh cũng như phong tục
thách nhau trong hôn lễ, tập quán, lễ giáo hôn nhân,quan niệm hiếu đạo và bổn phận làm
con
Như trong thành ngữ tiếng Việt có:
Dựng vợ gả chồng (cưới vợ, gả chồng cho con).
Phải duyên vừa lứa.
Phải duyên phải số.
Trai tài gái sắc (trai gái xứng đôi).
Chồng loan vợ phượng (vợ chồng đẹp đôi, đằm thắm hạnh phúc).
Đồng cam cộng khổ (trong mọi hoàn cảnh đều có bên nhau).
Con bế con bồng (cảnh gia đình có nhiều con nhỏ).
Con đàn cháu đống.
Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.
Già kén kẹn hom (kén chọn kỹ quá,cuối cùng vẫn không được như ý).
Tiếng Chăm có những thành ngữ về lĩnh vực hôn nhân như:
Haitai bà yava twei (tim dẫn hồn theo): khi bọn trẻ đã yêu nhau, mặc dùng không thuận
nhưng cha mẹ cũng phải chiều theo con cái.
Akauk thu bbuk pathah (đầu khô tóc ướt): ngoài sự chịu đựng nỗi cơ cực của người mẹ
trong việc nuôi nấng đàn con. Thành ngữ này còn biểu thị sự che chở của chồng đối với
vợ.
Ikak tian ralan hwa (thắt lưng buộc bụng): tình yêu thương gắn bó của người phụ nữ
(người vợ, người mẹ) với chồng con khiến họ quên mình, vừa chịu lao động vất vả, thắt
lưng buộc bụng và đôi khi còn lòn lõi kẻ giàu có để chồng con được yên ấm.
Hadơm oh muwda kaik, amraik oh muwda duc (kiến chẳng hề đốt, bồ nhọt chẳng hề
châm): sự chăm sóc, nuôi dưỡng kĩ lưỡng đầy lòng hi sinh cao cả của người mẹ đối với
con cái.
3.6. Hình ảnh biểu trưng về văn hóa đạo đức trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu với
thành ngữ dân tộc
Từ bao đời nay, văn học dân gian nói chung và thành ngữ nói riêng luôn là một kho tàng
lưu giữ những giá trị của mỗi dân tộc. Đó có thể là những khái niệm đơn thuần nhằm định
danh sự vật và cũng có khi là những giá trị truyền thống riêng biệt.
Ông bà ta có câu “Học ăn học nói, học gói học mở”, dù rằng việc ăn việc nói rất đỗi bình
thường, quá quen thuộc đối với mọi người nhưng ông cha ta vẫn có lời nhắc nhở.
Từ lúc bé cho tới khi trưởng thành mỗi con người chúng ta đều phải “học nói”. Trong cuộc
sống hằng ngày, nói giữ vai trò rất quan trọng trong giao tiếp. Thông qua cách nói năng,
cách ứng xử của một người ta có thể đánh giá được con người đó. “Nói” là một hoạt động
rất đa dạng và “cách nói” cũng rất khác nhau. Chính vì vậy từ ngày xưa ông bà ta đã nhận
thấy và để lại cho con cháu qua rất nhiều câu thành ngữ.
Mỗi dân tộc có một cách ứng xử riêng, chúng ta thử đi tìm hiểu cách ứng xử, giao tiếp của
ba dân tộc: Việt, Chăm, Tày qua những câu thành ngữ còn lưu giữ
Nội dung Tiếng Việt Tiếng Chăm Tiếng Tày
Nói không
đúng chủ đề,
hai người có
thể hiểu hai
vấn đề khác
nhau
Ông nói gà bà nói
vịt
Ong đom limauw, muk lac
kabaw- ông nói bò, bà nói
trâu
Phuối gằn nà, lòa kha cấy-
nói chuyện bên bở ruộng
lại nói chuyện quật chân

Nói thẳng, Ăn ngay nói thẳng Đom sà bauh klauh sà Phuối đây xây vần rại- nói