Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

255 Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

dụng mô hình này để phân tích định lợng mức NK hàng hoá cho phép và chỉ
ra mức độ thâm hụt CCTM cho phép để vừa bảo đảm an ninh tài chính, vừa
đảm bảo nhu cầu NK cho phát triển kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến CCTM và điều tiết CCTM
trong điều kiện CNH, HĐH;
- Đánh giá thực trạng CCTM của Việt Nam trong những năm qua và dự
báo đến năm 2010;
- Đề xuất giải pháp điều chỉnh CCTM trong điều kiện CNH, HĐH.
Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tợng: Nghiên cứu CCTM Việt Nam trong mối quan hệ với các
yếu tố khác có ảnh hởng nh chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách đầu t
nhằm chỉ ra tình trạng CCTM trong thời gian qua và dự báo khả năng chịu
đựng của nó đến năm 2010. Từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh CCTM
trong thời gian tới, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trởng kinh tế.
- Phạm vi:
+ CCTM đợc nghiên cứu trong bối cảnh hội nhập kinh tế và đẩy mạnh
CNH, HĐH. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ, nghiên cứu này không
đi sâu phân tích mối quan hệ giữa CCTM và quá trình thực hiện CNH, HĐH
theo lộ trình và mục tiêu thực hiện CNH, HĐH do Đảng ta đề xớng. Đây là
một chủ đề lớn nên nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung phân tích tình trạng
hiện tại và khả năng chịu đựng của CCTM trong giai đoạn tới theo các tiêu chí
nh ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trởng
XK
+ Tập trung chủ yếu vào thơng mại hàng hoá
+ Thời kỳ nghiên cứu tính từ 1991-2004 và dự báo xu hớng đến 2010
Phơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp tổng hợp
- Phơng pháp so sánh, phân tích

4
- Mô hình phân tích nợ động của Jaime de Pine
- Phơng pháp chuyên gia, hội thảo khoa học
Nội dung nghiên cứu:
Đề tài đợc kết cấu thành 3 chơng (ngoài phần mở đầu, kết luận), nội
dung nghiên cứu cụ thể của từng chơng nh sau:
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về cán cân thơng mại và điều tiết cán
cân thơng mại
Chơng II: Thực trạng cán cân thơng mại Việt Nam giai đoạn 1991-
2004.
Chơng III: Quan điểm, định hớng và các giải pháp điều chỉnh
cán cân thơng mại trong điều kiện CNH, HĐH ở Việt Nam









5
Chơng I

Những vấn đề cơ bản về cán cân thơng mại và
điều tiết cán cân thơng mại
1.1. Cán cân thơng mại và ảnh hởng của nó đối với phát
triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá
1.1.1. Khái niệm, bản chất của cán cân thơng mại
CCTM (cán cân trao đổi) là bảng đối chiếu giữa tổng giá trị XK hàng
hoá (thờng tính theo giá FOB) với tổng giá trị NK hàng hoá (thờng tính theo
giá CIF) của một nớc với nớc ngoài trong một thời kỳ xác định, thờng là
một năm.
CCTM là một phần của Cán cân thanh toán của quốc gia, theo dõi các
hoạt động XK hay NK hàng hoá thơng phẩm (hay hữu hình) và đợc phản
ánh chi tiết trong cán cân tài khoản vãng lai. Khi tính đến cả hàng hoá vô
hình hay dịch vụ (gồm cả thu nhập yếu tố ròng và các khoản chuyển giao) thì
tổng lợng XK hàng hoá và dịch vụ đợc gọi là cân đối tài khoản vãng lai.
Bảng 1: Tóm tắt cán cân thanh toán của Mỹ năm 1994,
Đơn vị: tỷ USD
Có Nợ
Tài khoản vãng lai

(1) XK 832,86
(1.1) Hàng hoá 502,73
(1.2) Dịch vụ 172,29
(1.3) Yếu tố thu nhập 157,84
(2) NK -954,42
(2.1) Hàng hoá -669,09
(2.2) Dịch vụ -128,01
(2.3) Yếu tố thu nhập -157,32
(3) Chuyển tiền đơn phơng thuần -34,12
(3.1) Chuyển tiền đơn phơng khu vực t -18,42
(3.2) Chuyển tiền đơn phơng khu vực công -15,70

6
Có Nợ
Số d tài khoản vãng lai -155,68
[ (1)+(2)+(3) ]


Tài khoản vốn:

(4) Đầu t trực tiếp 1,64
(5) Đầu t chứng khoán 33,43
(6) Vốn khác 112,12
Số d tài khoản vốn 147,19
[ (4)+(5)+(6) ]
(7) Sai số thống kê -33,25
Số d tài khoản vãng lai và tài khoản vốn -41,74
Tài khoản dự trữ Chính phủ

(8) Tài sản dự trữ Chính phủ của Mỹ 5,34
(9) Tài sản dự trữ Chính phủ của nớc ngoài 36,40
Số d giao dịch dự trữ 41,74
Nguồn: IMF, International Financial Statistics, 5/1995.
CCTM hàng hoá và dịch vụ (X-M)
1
cùng với các yếu tố khác nh chi
cho tiêu dùng (C), chi tiêu đầu t (I), chi tiêu của chính phủ (G) cấu thành
tổng thu nhập quốc dân (GDP). Nh vậy, CCTM là một bộ phận cấu thành
tổng thu nhập quốc dân, thặng d hay thâm hụt CCTM ảnh hởng trực tiếp đến
tăng trởng kinh tế.
Y = C + I + G + (X-M)
Nh vậy, CCTM có mối quan hệ mật thiết với các chỉ số kinh tế vĩ mô
cơ bản. Trạng thái của CCTM thể hiện động thái của nền kinh tế ở những thời
điểm khác nhau. Chính vì vậy, biến động của CCTM trong ngắn hạn và dài
hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến lợc và mô hình phát triển kinh
tế, chính sách cạnh tranh, phơng thức thực hiện CNH, HĐH.
CCTM chỉ đơn thuần là phần chênh lệch giữa XK và NK/ của một quốc
gia. Do đó, khi một quốc gia có thặng d thơng mại thì XK vợt NK. Doanh
thu từ việc bán hàng ở nớc ngoài mà lớn hơn phần dùng để mua hàng từ nớc


1
X- Xuất khẩu, M- Nhập khẩu

7
ngoài sẽ đợc ngời nớc ngoài trả. Do vậy, thặng d thơng mại làm cho một
quốc gia có thể tích luỹ của cải và làm cho nớc đó giàu lên.
Ngợc lại, CCTM thâm hụt (tức là tiền trả cho NK vợt quá tiền thu
đợc từ XK) kéo dài nhiều năm, điều này đồng nghĩa với việc phải cắt bớt NK
nh là một phần của những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ. Kết quả là
làm giảm tăng trởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng tình trạng thất
nghiệp.
Tuy nhiên, tình trạng của CCTM thặng d hay thâm hụt trong ngắn hạn
cha nói lên đợc trạng thái thực của nền kinh tế. Chẳng hạn, để giữ cho
CCTM trong trạng thái thặng d hay cân bằng mà chính phủ áp dụng các biện
pháp cứng rắn để hạn chế NK (nhất là NK cạnh tranh
2
) thì việc hạn chế này có
thể làm giảm tăng trởng kinh tế trong dài hạn và việc cải thiện CCTM sẽ hết
sức khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh tự do hoá thơng mại. Kinh nghiệm của
các nớc tiến hành CNH ở các nớc XHCN trớc đây và các nớc bảo hộ cao
cho thấy rõ điều này. Khảo sát thực tiễn của một số nớc (Thái Lan, Hàn
Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ) cho thấy trong tình trạng thâm hụt CCTM, nền kinh
tế vẫn có thể ổn định và đạt đợc sự tăng trởng cao. Vấn đề là ở chỗ thâm hụt
CCTM ở mức có thể đảm bảo sức chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai và
nợ nớc ngoài.
Một vấn đề cần lu ý là tình trạng cân bằng CCTM chỉ là hiện tợng
tạm thời. Trạng thái cân bằng CCTM cũng giống nh các trạng thái khác của
nền kinh tế nh cân bằng cung cầu, cân bằng giá cả, cân bằng tiền tệ Trên
thực tế, CCTM luôn biến động xoay xung quanh trạng thái cân bằng. Động
thái này của CCTM giúp chúng ta nhận thấy đợc trạng thái của nền kinh tế để
từ đó điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thâm hụt CCTM đợc bù đắp bởi thặng d trong tài khoản về XNK
dịch vụ, các yếu tố thu nhập, các khoản chuyển giao và cán cân tài khoản vốn.
Trong trờng hợp ngợc lại, thâm hụt CCTM phải bù đắp bởi nguồn dự trữ
ngoại tệ của chính phủ hoặc các khoản vay khác.


2
Khái niệm này sẽ đợc phân tích sâu trong các mục sau của đề tài

8
1.1.2. Mối quan hệ và ảnh hởng của Cán cân thơng mại đối với
các biến số kinh tế vĩ mô
Thứ nhất, CCTM cung cấp những thông tin liên quan đến cung cầu tiền
tệ của một quốc gia, cụ thể là thể hiện sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội
tệ so với ngoại tệ. Chẳng hạn, nếu một nớc NK nhiều hơn XK nghĩa là cung
đồng tiền quốc gia đó có khuynh hớng vợt cầu trên thị trờng hối đoái nếu
các yếu tố khác không thay đổi. Và nh vậy, có thể suy đoán rằng đồng tiền
nớc đó sẽ bị sức ép giảm giá so với các đồng tiền khác. Ngợc lại, nếu một
quốc gia XK nhiều hơn NK thì đồng tiền của quốc gia đó có khuynh hớng
tăng giá.
Khi cung tiền trong nớc tăng do thặng d thơng mại, xuất hiện một
nguy cơ tiềm ẩn là ngời ta có thể cố gắng mua nhiều hàng hoá hơn. Điều này
làm cho giá trong nớc tăng và cuối cùng gây ra thua lỗ XK do hàng sản xuất
trong nớc trở nên đắt đỏ hơn khi bán ở nớc ngoài. Để bảo đảm luồng tiền
vào từ nớc ngoài thật sự làm lợi cho quốc gia thì tất cả khoản tiền đó phải
đợc tái đầu t. Tái đầu t cũng sẽ tạo ra nhiều hàng hoá hơn cho XK trong
tơng lai. ở đây, CCTM dờng nh là một cách để tích luỹ t bản sản xuất.
Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá sẽ làm tăng giá NK tính bằng
đồng tiền nớc này. Giá tăng nên khối lợng NK giảm. Tuy số lợng NK
giảm, song giá trị NK lại có thể tăng. Sau khi đồng tiền giảm giá, chi tiêu bằng
đồng nội tệ cho NK có thể tăng, song do giá XK tính bằng ngoại tệ giảm đã
kích thích tăng khối lợng XK, do đó không làm cho CCTM xấu đi. Tuy giá
NK tăng, nhng việc điều chỉnh u tiên hàng thay thế cần phải mất một thời
gian nhất định. Do đó, có thể nói rằng cầu trong ngắn hạn có độ giãn thấp hơn
so với cầu trong dài hạn. Điều này lại càng đúng đối với đờng cầu NK, bởi lẽ
đờng cầu NK đợc bắt nguồn từ đờng cung và đờng cầu hàng hoá của một
nớc, mà đờng cung và đờng cầu hàng hoá của một nớc thờng không co
giãn trong ngắn hạn, do đó, khoảng cách giữa đờng cung và đờng cầu càng
không co giãn trong ngắn hạn. Vì vậy, sau khi đồng tiền giảm giá, tuy giá
hàng hoá NK tăng, nhng ngời tiêu dùng trong nớc vẫn tiếp tục mua hàng
NK, bởi 2 lý do: (1) Ngời tiêu dùng vẫn cha điều chỉnh ngay việc u tiên
mua hàng nội thay vì mua hàng NK (vì đờng cầu NK là đờng không co
giãn), và (2) Các nhà sản xuất trong nớc cần phải có một thời gian nhất định
mới sản xuất đợc hàng thay thế NK (vì đờng cung cũng là đờng không co

9
giãn). Nh vậy, chỉ sau khi những nhà sản xuất trong nớc thực sự cung cấp
hàng thay thế NK và ngời tiêu dùng quyết định u tiên dùng hàng nội thay vì
mua hàng ngoại thì cầu về NK lúc này mới giảm. Tơng tự nh vậy, sau khi
đồng tiền giảm giá, việc mở rộng XK chỉ trở thành hiện thực khi các nhà sản
xuất đã sản xuất đợc nhiều hơn hàng hoá để XK và ngời tiêu dùng nớc
ngoài đã thực sự chuyển hớng u tiên mua các hàng hoá trong nớc.
Thứ hai, CCTM phản ảnh khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
của một quốc gia. Giả định nh một quốc gia bị thâm hụt thơng mại nhiều
năm liền, dữ liệu này báo hiệu các ngành sản xuất trong nớc thiếu khả năng
cạnh tranh quốc tế. Có nghĩa là tăng trởng XK không thể bù đắp đợc khoản
NK. Và ngợc lại, thặng d CCTM, có nghĩa là XK lớn hơn NK, phản ánh khả
năng cạnh tranh cao của hàng XK trên thị trờng quốc tế. Tuy nhiên, trong
nhiều trờng hợp cũng cần phải tính đến yếu tố là nếu một nớc hạn chế NK
(bảo hộ cao cho sản xuất trong nớc), ở trong giai đoạn đầu của quá trình tự do
hoá thơng mại, XK có thể tăng mạnh nhờ khai thác đợc lợi thế so sánh tĩnh
(các sản phẩm thô, lao động rẻ). Do đó, có thể xảy ra trờng hợp thặng d
thơng mại. Tuy nhiên, việc hạn chế NK quá mức sẽ làm cho khả năng cạnh
tranh của hàng sản xuất trong nớc kém sức cạnh tranh trong dài hạn, có nghĩa
là không khai thác đợc lợi thế cạnh tranh động của việc mở cửa hội nhập
3
.
Thứ ba, tình trạng của CCTM phản ánh tình trạng của cán cân tài khoản
vãng lai và nợ nớc ngoài, do đó có ảnh hởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Đây
là ảnh hởng quan trọng nhất của CCTM đối với nền kinh tế và dựa vào đó
ngời ta có thể điều chỉnh CCTM đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Nh đã trình
bày ở trên, CCTM là một bộ phận của cán cân thanh toán vãng lai. Đặc biệt
đối với các nớc đang phát triển, khi XK dịch vụ còn chiếm tỷ trọng nhỏ bé
trong tổng kim ngạch XK, các khoản chuyển giao còn cha đáng kể, CCTM
quyết định tình trạng cán cân tài khoản vãng lai. Thâm hụt hay thặng d
CCTM thể hiện mức độ thâm hụt hay thặng d của cán cân tài khoản vãng lai.
Để đánh giá khả năng chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai ngời ta
thờng sử dụng các chỉ tiêu nh tỷ lệ giữa giá trị XK và thu nhập quốc dân, chỉ
số nợ trên XK, tỷ lệ tăng trởng NK trên tăng trởng XK, tỷ lệ mức lãi suất trả


3
Xem: Ngân hàng thế giới: Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông á, NXB CTQG, Hà Nội, 2002, tr. 478-509

10
nợ trên mức tăng XK. Chẳng hạn, chỉ số nợ trên XK của một nớc giảm dần
theo thời gian phản ánh sự cải thiện thiện cán cân tài khoản vãng lai
(CCTKVL). Ngợc lại, nếu chỉ số nợ trên XK có xu hớng tăng, điều này cho
thấy tình trạng của CCTKVL đang xấu đi. WB đa ra chỉ số tuyệt đối là nếu
chỉ số nợ lớn hơn 275%, tại thời điểm đó, một nớc đang ở trong tình trạng
khủng hoảng nợ. Hoặc, nếu mức tăng XK của một nớc lớn hơn mức lãi suất
trả nợ, nớc đó có khả năng thanh toán các khoản nợ mà không ảnh hởng đến
phát triển kinh tế Những mối quan hệ này sẽ đợc phân tích sâu hơn ở
những phần sau của nghiên cứu (Mô hình động về nợ của Jaime de Pine).
Thứ t, CCTM thể hiện mức tiết kiệm, đầu t và thu nhập thực tế. Nếu
CCTM bị thâm hụt (X-M<0), điều đó có nghĩa là quốc gia chi nhiều hơn thu
nhập của mình. Ngợc lại, CCTM thặng d (X-M>0), quốc gia đó chi tiêu ít
hơn so với thu nhập của mình.
CCTM còn biểu thị cho tổng tiết kiệm ròng của quốc gia, chính là chênh
lệch giữa tiết kiệm và đầu t của quốc gia đó. Mối quan hệ giữa CCTM và đầu
t và tiết kiệm đợc biểu thị bằng biểu thức:
X - M = (S -I) + (T - G)
Trong đó, S là mức tiết kiệm, I là mức đầu t, T- thu nhập từ thuế và G
là chi tiêu của chính phủ. CCTM thâm hụt, có nghĩa là quốc gia tiết kiệm ít
hơn đầu t, và ngợc lại, nếu CCTM thặng d, quốc gia tiết kiệm nhiều hơn so
với đầu t .
Nh vậy, từ phân tích trên đây có thể thấy rằng CCTM có mối quan hệ
với các biến số kinh tế vĩ mô nh thu nhập, đầu t, tiêu dùng. Việc điều chỉnh
CCTM do đó sẽ ảnh hởng đến các yếu tố này và ngợc lại, điều chỉnh các yếu
tố đó sẽ ảnh hởng đến CCTM.
Tóm lại, trạng thái của CCTM thể hiện tình trạng của nền kinh tế, các
chính sách kinh tế vĩ mô. Chẳng hạn, nếu thặng d sẽ góp phần thúc đẩy tăng
trởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm mới, tăng tích luỹ quốc gia dới
dạng dự trữ ngoại hối, tạo uy tín và tiền đề để đồng nội tệ đ
ợc tự do chuyển
đổi Nếu CCTM thâm hụt trong dài hạn sẽ de doạ sự ổn định kinh tế vĩ mô

11
nh tăng nợ nớc ngoài, cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế, chính sách tiền tệ
và đầu t kém hiệu quả Chính vì vậy, trạng thái CCTM mà thực chất là hoạt
động XNK, luôn đợc những nhà kinh tế và quản lý quan tâm phân tích, tìm ra
những nguyên nhân tác động làm cho CCTM thặng d hay thâm hụt, từ đó đề
ra giải pháp đa CCTM về trạng thái có lợi cho nền kinh tế.
Từ những khía cạnh ảnh hởng khác nhau của CCTM đợc phân tích ở
trên có thể rút ra kết luận rằng: Một CCTM lành mạnh là tình trạng thặng d
hay thâm hụt của nó không gây ra tình trạng bất ổn đối với nền kinh tế,
trong khả năng chịu đựng của cán cân tài khoản vng lai và nợ nớc ngoài,
thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế của quốc gia, kích thích đầu t và tiêu
dùng, tăng thu nhập và tăng việc làm, không gây lạm phát và rối loạn tiền
tệ.
1.1.3. Cán cân thơng mại và việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
Điều chỉnh CCTM, về thực chất là cân đối XNK thông qua các chính
sách nh thơng mại, đầu t, tiết kiệm, tài khoá, tỷ giá hối đoái Động thái
của CCTM trong ngắn hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh
phơng thức thực hiện CNH, HĐH. Vai trò của việc điều tiết CCTM đối với
việc thực hiện CNH, HĐH thể hiện ở một số điểm sau đây:
Thứ nhất, điều chỉnh cân đối XK và NK trong khả năng chịu đựng của
cán cân tài khoản vãng lai và nợ nớc ngoài nhằm ổn định kinh tế vĩ mô là
điều kiện cần thiết để thực hiện CNH.
Thứ hai, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia thực hiện CNH
thành công là các nớc có nền kinh tế mở. Nh vậy, có thể khẳng định rằng,
hoạt động ngoại thơng là điều kiện quyết định sự thành công của việc thực
hiện quá trình CNH. Điều này dễ dàng nhận thấy qua thực tiễn CNH ở các
nớc XHCN trớc đây, các nớc gần đây thực hiện CNH thay thế NK (thất
bại) và các nớc mới CNH theo hớng XK (thành công).
Thứ ba, điều chỉnh hợp lý cân đối giữa XK và NK trong từng thời gian
nhất định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác lợi thế so sánh và lợi thế
cạnh tranh để phát triển kinh tế bền vững trong điều kiện toàn cầu hoá và hội

12
nhập KTQT. Chẳng hạn, trong thời gian đầu của quá trình CNH (giai đoạn
chuẩn bị tiền đề), mức độ hội nhập của nền kinh tế cha cao, khả năng cạnh
tranh và sức chịu đựng của nền kinh tế trớc các cú sốc từ bên ngoài còn kém,
khuyến khích XK đi đôi với các biện pháp hạn chế NK hợp lý sẽ tạo điều kiện
khai thác lợi thế so sánh sẵn có để tăng trởng XK, tạo tiền đề ổn định kinh tế
và tích luỹ ban đầu cho CNH. Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, đi đôi với việc
khuyến khích XK cần tự do hoá NK nhằm tận dụng vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý, marketing từ các nớc tiên tiến để khai thác lợi thế cạnh
tranh, tăng năng suất, thúc đẩy tăng trởng kinh tế nhanh. ảnh hởng rõ nét
nhất của việc điều tiết CCTM ở đây là góp phần đổi mới công nghệ, năng lực
quản lý, do đó đẩy nhanh quá trình CNH và HĐH nền kinh tế.
Kinh nghiệm của các nớc CNH mới cho thấy các nớc thực hiện CNH
theo hai mô hình là CNH thay thế NK và CNH định hớng XK .
Nội dung cơ bản của chiến lợc CNH thay thế NK là đẩy mạnh sự phát
triển của các ngành công nghiệp trong nớc, trớc hết là công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng, sau đó là các ngành công nghiệp thay thế các sản phẩm NK.
Có nhiều lý do để biện minh cho việc thực thi chiến lợc này, đó là lợi tức tăng
theo quy mô, các lợi ích kinh tế bên ngoài, vay mợn công nghệ, ổn định đối
nội và những lập luận khác về thuế quan.
Mặc dù chiến lợc này có vẻ hấp dẫn về mặt lý thuyết song lại không
mấy thành công trong thực tế. Việc thay thế NK thành công đòi hỏi nền kinh
tế phải thực hiện đợc hai bớc chuyển đổi rất khó khăn. Đầu tiên là tạo ra
một cơ cấu kinh tế năng động và có hiệu quả đằng sau các hàng rào thuế quan
và các phơng thức bảo hộ khác. Thứ hai là chuyển từ bảo hộ sang một môi
trờng buôn bán cởi mở hơn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc đối phó
với cả hai thách thức này đều rất khó khăn. Những sai lệch do sự bảo hộ gây ra
thờng nghiêm trọng đến nỗi không thể đạt đợc sự tăng trởng cao ngay cả
khi nền công nghiệp trong nớc đợc bảo vệ trớc sự cạnh tranh quốc tế và
quá trình chuyển từ bảo hộ sang mậu dịch tự do thờng vấp phải sự phản đối
quyết liệt từ các nhóm lợi ích xã hội.
Những nền kinh tế theo định hớng sản xuất thay thế hàng NK có thuế
quan cao cùng với các hàng rào thơng mại khác và thờng có tỷ giá hối đoái
đợc định giá cao, lãi suất bị kiểm soát. Điều này làm cho nền kinh tế nội địa

13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét