Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

KTNN và vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN việt nam

quyền Nhà nớc lại là đặc trơng của nền kinh tế thị trờng của các nớc TBCN.
Giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản sau đây:
Thứ nhất, quan điểm lý luận của các nớc XHCN thừa nhận rộng rãi
tính chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế là đặc trng cơ bản để phân biệt thể
chế kinh tế thị trờng XHCN và kinh tế thị trờng TBCN. Trên cơ sở đó KTNN
hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng, then chốt của xã
hội. Không những thế KTNN còn nắm vai trò chủ đạo trong những ngành
hoạt động khác, vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là phục vụ cho lợi ích toàn
xã hội nh: quốc phòng, giáo dục, y tế vvở các nớc TBCN ở thời kỳ độc
quyền Nhà nớc thì Nhà nớc luôn phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền, các
hoạt động của Nhà nớc tác động vào các quá trình kinh tế nhằm đêm lại lợi
nhuận độc quyền, các tổ chức này luôn hoạt động trong lĩnh vực độc quyền
của mình và thu đợc lợi nhuận độc quyền cao.
Thứ hai, nếu xét về bản chất sự ra đời của t bản độc quyền Nhà nớc
không làm thay đổi quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, mà chỉ là sự kết hợp về
con ngời giữa tổ chức độc quyền và Nhà nớc, các tổ chức độc quyền chỉ đem
lại lợi ích chủ yếu cho một số ngời trong xã hội. Còn KTNN ở nớc ta là
thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất trong đó Nhà
nớc là ngời đứng ra đại diện sở hữu cho toàn dân. Do đó các thành phần
KTNN đợc tổ chức sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kế toán
kinh tế, phân phối theo lao động và theo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng
thời thành phần KTNN còn có vai trò hỗ trợ các thành phần kinh tế khác
cùng phát triển, tạo ra cơ sở và tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế xã
hội theo định hớng XHCN.
II. Sự hình thành và phát triển KTNN ở Việt Nam
Sau cách mạng tháng tám nớc ta quá độ từ chế độ nửa phong kiến thực
dân lên XHCN bỏ qua giai đoan TBCN. Với chủ nghĩa Mác Lenin và t tởng
Hồ Chí Minh là kim chỉ nam.
Cùng với công cuộc xây dựng đất nớc. KTNN đã đợc ra đời với mục
đích:
5
- Quốc hữu hoá XHCN. Xoá bỏ toàn diện triệt để chế độ t hữu t nhân
về t liệu sản xuất, xoá bỏ chế độ ngời bóc lột ngời, tịch thu, quốc hữu hoá đất
đai tài sản của địa chủ, t bản. Thực nguyên tắc tài sản thuộc về giai cấp công
dân và nhân dân lao động.
- Cải tạo XHCN: cải tạo, xoá bỏ tàn d của chế độ cũ xây dựng một
Nhà nớc của dân do dân và vì dân.
- Đầu t xây dựng mới: trong giai đoạn qua độ lên CNXH thì KTNN là
lực lợng lòng cốt chủ lực đi đầu trong công cuộc công nghiệp háo hiện đại
hoá đất nớc, xây dng cơ sở vật chất cho XHCN.
Từ đó đến nay KTNN ở Việt Nam đã đợc hình thành và phát triển qua các
giai đoạn:
1. Giai đoạn 1945-1960
Sau khi hoà bình lặp lại ở miền Băc, Đảng và Nhà nớc ta đã lựa chọn
con đờng xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền
Nam. Theo chủ trơng đó công cuộc cải tạo XHCN bắt đầu đợc thực hiện ở
miền Bắc với nhiệm vụ thủ tiêu kinh tế t nhân, xây dựng kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể.điều đó đã dẫn đễn việc thu hẹp và xoá bỏ kinh tế t nhân và
chuyển sang hình thức sở hữu toàn dân, xây dựng các xí nghiệp quốc doanh,
tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và sản xuất nhỏ ở thành thị. Kết quả đến
năm 1960 đã có:
-Trong công nghiệp:
+ Số xí nghiệp quốc doanh thuộc KTNN: 1012
+ Các xí nghiệp quốc doanh tạo ra 53,3% giá trị tổng sản lợng
công nghiệp.
- Trong nông nghiệp:
+ Số nông trờng quốc doanh: 56
+ Sử dụng 74800 ha đất nông nghiệp.
+ Kinh tế quốc doanh tạo ra 2% giá trị tổng sản lợng nông
nghiệp.
- Thơng nghiệp quốc doanh chiếm:
+ 93,6% tổng mức bán buôn.
+ 51% tổng mức bán lẻ.
Kinh tế quốc doanh đã thu hút và sử dụng lực lợng lao động gồm
477000 ngời. Nh vậy, kinh tế quốc doanh từ chỗ rất nhỏ bé vơn lên trở thành
6
lực lợng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Với chủ trơng xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi lên CNXH, vai trò chủ đạo, chủ lực đã đợc
giao cho kinh tế quốc doanh.
2. Giai đoạn từ 1960-1975
Với chủ trơng công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc u tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý nhà nớc tiếp tục đầu t xây dựng kinh tế
quốc doanh ngày càng lớn mạnh về số lợng. Bên cạnh các khu công nghiệp
cũ đã đợc cải tạo ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, 1 loạt các khu công
nghiệp mới ra đời nh Thợng Đình, mỏ Minh Khai, Đông Anh Hà Nội, Việt
Trì, Thái Nguyên, VinhTrong giai đoạn này KTQD phát triển mạnh mẽ
trong các ngành điện lực, cơ khí, hoá chất khai thác. Đến năm 1975 lĩnh vực
sản xuất công nghiệp đã có 1357 xí nghiệp quốc doanh, lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp có 72 nông trờng quốc doanh, tổng số cán bộ công nhân viên là
1753400 ngời. Lực lợng kinh tế quốc doanh đã cùng với kinh tế tập thể đã ra
84,4% thu nhập quốc dân.
Xét trên phơng diện kinh tế, vai trò của kinh tế quốc doanh trong giai
đoạn này đợc thể hiện không chỉ nh là một công cụ quan trọng để nhà nớc
thực hiện chủ trơng công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc theo hớng u tiên
phát triển công nghiệp nặng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và chiến đấu
cho cả hậu phơng và tiền tuyến mà còn nh là một tấm gơng phản ánh sự
thành công của quá trình xây dựng CNXH ở nớc ta. Còn xét trên phơng diện
chính trị, xã hội, kinh tế quốc doanh luôn đợc quan niệmk là lực lợng tiến bộ
xã hội, là đội quân tiên phong trong việc tăng cờng và mở rộng quan hệ sản
xuất mới và quan hệ sản xuất XHCN.
3.Giai đoạn từ 1975 đến đầu những năm 80.
Cùng với chủ trơng tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất
XHCN và công nghiệp hoá XHCN công cuộc cải tạo XHCN ở miền Nam đã
làm cho số lợng xí nghiệp quốc doanh ở tất cả các lĩnh vực sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp đều tăng lên một cách nhanh chóng, đến
năm 1980 nớc ta đã có:
+ Công nghiệp: 2627 xí nghiệp quốc doanh.
+ Nông nghiệp: 232 nông trờng quốc doanh.
+ Thơng nghiệp: 10915 điểm bán hàng của thơng nghiệp quốc doanh.
7
Trong giai đoạn này kinh tế quốc doanh vẫn đóng vai trò quan trọng
trong công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và phát triển quan hệ
sản xuất mới XHCN, cũng nh trong công cuộc phát triển kinh tế. Tuy nhiên,
xét trên giác độ kinh tế, sức đóng góp của kinh tế quốc doanh đã giảm so với
trớc. Đến năm 1980 công nghiệp quốc doanh chỉ tạo ra đợc 68,6% giá trị
tổng sản lợng công nghiệp, thơng nghiệp quốc doanh chiếm 29,8% tổng mức
bán lẻ.
4. Giai đoạn từ 1980-1985.
Trong những năm 1980-1985 mặc dù nền kinh tế nớc ta gặp rất nhiều
khó khăn so với trớc, năng lực sản xuất của kinh tế quốc doanh nói riêng và
sức sản xuất xã hội nói chung không đợc sử dụng hết do thiếu vật t một cách
nghiêm trọng song xuất phát từ quan niệm truyền thống về quan hệ sản xuất
XHCN nên các giải pháp tháo gỡ trong giai đoạn này vẫn tập trung chủ yêu
vào cải tiến quản lý đối với xí nghiệp quốc doanh. ở giai đoạn này cơ chế kế
hoạch hoá tập trung thuần tuý đã đợc cải tiến dần trên nguyên tắc phi tập
trung hoá trong quản lý kinh tế, song kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò
tuyệt đối đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, các xí nghiệp quốc
doanh nắm toàn bộ các nghành then chốt nh : điện, luyện kim, khai thác, xi
măng, gang thép, hoá chất cơ bảnTuy nhiên đóng góp của các xí nghiệp
quốc doanh vào tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đã giảm, tính
đến năm 1985 kinh tế quốc doanh chỉ tạo ra đợc 37% tổng sản phẩm xã hội
và 28% thu nhập quốc dân.
5. Giai đoạn từ 1985-1990.
Giai đoạn bắt đầu thực hiện đổi mới kinh tế, t tởng xây dựng một nền
kinh tế nhiều thành phần đợc đa ra. Trong quá trình hình thành kinh tế nhiều
thành phần công tác quản lý kinh tế quốc doanh vẫn tiệp tục đợc cải tiến theo
hớng phi tập trung hoá, kế hoạch hoá và quản lý đối với kinh tế quốc doanh.
Điểm nổi bật trong cải tiến quản lý ở giai đoạn này là việc tách bạch giữa
quyền quản lý nhà nớc về kinh tế và quyền quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quan điểm mới nổi bật ở giai đoạn này là quan
niệm không phải nền kinh tế quá độ nên CNXH ở nớc ta chỉ có kinh tế quốc
doanh, chủ trơng của đảng và nhà nớc ta không chỉ bó hẹp trong phạm vi cải
tiến quản lý đối với kinh tế quốc doanh mà còn phát huy sức sản xuất của
kinh tế t nhân, cá thể cũng nh các thành phần kinh tế khác. Trong cơ chế
8
kinh tế mới đó kinh tế quốc doanh vẫn đóng vai trò chủ đạo nhng không phải
độc tôn. Năm 1990, kinh tế quốc doanh tạo ra 66% tổng sản phẩm xã hội.
6.Giai đoạn từ năm 1990 đến nay.
Chúng ta khẳng định chủ trơng lâu dài là xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Chủ
trơng này đợc biến thành thực tế bởi quá trình ban hành và hoàn thiện hệ
thống luật pháp, đặc biệt là pháp luật về kinh tế, nhằm tạo ra hành lang pháp
lý thuận lợi bình đẳng cho các doanh nghiệp. Đặc trng cơ bản của giai đoạn
này là doanh nghiệp nhà nớc chỉ là một bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc
dân thống nhất.
Đến năm 1996, Trong công nghiệp còn 6032 DNNN số doanh nghiệp
này tạo ra 41% GDP (doanh nghiệp ngoài quốc doanh tạo ra 59%). Trong cơ
chế kinh tế mới DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và chủ lực: Trên giác độ kinh
tế, DNNN nắm giữ toàn bộ những ngành trọng yếu nh điện, than sạch, thép
cán, xi măng, dầu thô, giấy
Nh vậy, lịch sử phát triển của KTNN từ sau cách mạng tháng tám đến
nay đã hình thành một hệ thống DNNN trên khắp đất nớc. Hệ thống các
doanh nghiệp nhà nớc này nhiều về số lợng, nắm giữ các lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế quốc dân, sử dụng lực lợng lao động kỹ thuật có trình độ cao,
lực lợng DNNN đã đóng vai trò rất quan trọng, mở đờng và hớng dẫn đối với
việc phát triển nền kinh tế nớc ta trớc đây và ngày nay. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần, hệ thống DNNN vẫn đóng vài trò chủ đạo đối với sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
9
III. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
1. Tính tất yếu của vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nớc
Trong nền kinh tế thị trờng luôn luôn tồn tại đồng thời nhiều thành
phần kinh tế những nền kinh tế nhiều thành phần ở những nớc có chế độ
chính trị khác nhau lại mang những đặc điểm khác nhau rất căn bản. Nếu nh
trong nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa thành phần kinh tế t bản t nhân
giữ vai trò thống trị thì trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN nh ở nớc
ta thì thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo và KTNN cùng với kinh tế tập
thể đợc xây dựng và phát triển để ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
cho sự đi lên và phát triển của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta sở dĩ thành phần
KTNN giữ vai trò chủ đạo bởi vì những lý do chính sau:
Thứ nhất, chúng ta đều biết chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
tế . Nền chính trị của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với
mục tiêu da nớc ta tiến lên CNXH, thực hiện dân giàu nớc mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh. Thành phần KTNN của nớc ta mà trớc hết là
các doanh nghiệp Nhà nớc cũng phải phục vụ cho nhiệm vụ này.
Trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta do hạn chế của trình độ
lực lợng sản xuất phát triển còn thấp, các quan hệ sở hữu còn tồn tại dới
nhiều hình thức, do đó nền kinh tế nớc ta ở giai đoạn này là một nền kinh tế
hỗn hợp nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng. Tuy vây, cơ chế thị
trờng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo. Bên cạnh những u điểm to
lớn của nó mà không ai có thể phủ nhận thì nó cũng tồn tại những khuyết tật
nh: gây ra sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, khủng hoảng kinh tế, các tệ
nạn xã hội vv điều đó đòi hỏi cơ chế thị trờng phải có bàn tay quản lý, điều
tiết của Nhà nớc. Và công cụ hữu hiệu nhất mà thông qua nó nhà nớc thể
hiện vai trò điều tiết của mình đó là thành phân KTNN. Chỉ có KTNN mới
có thể bảo đảm vững chắc định hớng XHCN, đảm bảo cho lợi ích của ngời
lao động, khắc phục những tiêu cực, khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị tr-
ờng, phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng là động lực thúc
đẩy phát triển và tăng trởng kinh tế, gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân,
với tiến bộ và công băng xã hội. Vai trò đó của KTNN đã đợc chứng minh
10
qua thc tiễn phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở nớc ta sau đổi mới đến
nay:
Đầu những năm 1990 mặc dù gặp phải hoàn cảnh hết sức khó khăn,
khắc nghiệt nh: thể chế xã hội ở Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ. Mĩ
thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, khủng hoảng kinh tế, tài chính khu
vực 1997 1998 tác động mạnh, thiên tai liên tiếp xảy ra việc chuyển đổi
nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trờng định hớng XHCN có
những thời cơ và thuận lợi mới nhng bao hàm cả những khó khăn thách thức.
Song chúng ta vẫn đạt đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng GDP
năm 2000 tăng gấp 2 lần năm 1990, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn
định, đời sống của các tầng lớp nhân dân đợc cải thiện, quốc phòng an ninh
đợc tăng cờng, sức mạnh về mọi mặt của nớc ta đã lớn hơn nhiều so với 10
năm trớc. Kết quả trên có đợc là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong đó
KTNN góp phần rất to lớn. Năm 2000 DNNN làm ra 39,5% GDP và đóng
góp 39,2% tổng thu ngân sách, chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu DNNN là
đối tác chủ yếu trong hợp tác đầu t nớc ngoài, chiếm 98% số dự án liên
doanh với nớc ngoài. DNNN có năng lực sản xuất kinh doanh lớn, cơ cấu
ngày càng hoàn thiện và từng bớc mở rộng thị trờng trong và ngoài nớc. Các
tổng công ty có quy mô lớn tuy chỉ chiếm 24,8% tổng số DNNN nhng nắm
giữ 65% tổng số vốn và 61% số lao động, trình độ công nghệ quả lý có nhiều
tiến bộ. Chất lợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN đợc nâng lên, góp
phần chủ yếu để KTNN thực hiện đợc vai trò chủ đạo, đảm bảo ổn định
chính trị xã hội. Đây cũng là lực lợng quan trọng thực hiện các chính sách
xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và đảm bảo sản xuất dịch vụ thiết yếu
cho an ninh quốc phòng. Có thể khẳng định KTNN nói chung và các DNNN
nói riêng đã góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới
đa đất nớc thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội. Đứng vững trớc
những tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế, khu vực. Tạo tiền đề cho
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng XHCN.
Thứ hai là KTNN luôn nắm giữ những vị trí then chốt, trọng yếu trong
nền kinh tế quốc dân do đó chỉ có KTNN mới có khả năng chi phối, dẫn dắt
các thành phần kinh tế khác, đảm bảo đợc các mục tiêu phát triển KT-XH,
thực hiện CNH-HĐH trong điều kiện thị trờng vẫn cha hoàn thiện, ngời dân
có thu nhập thấp, tích luỹ không đủ tạo nguồn đầu t cơ bản, kinh tế t nhân
11
còn nhỏ bé thì DNNN có vai trò huy động vốn đầu t xây dựng những công
trình lớn, hiện đại. Mặt khác với sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế
đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng tốt để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển
nhanh, mạnh và bền vững. Nhng thờng thì những ngành này đòi hỏi phải có
vốn đầu t lớn, thời gian thu hồi vốn chậm hoặc có lãi suất thấp nh các ngành:
giao thông vận tải, giáo dục, y tế, năng lợng vvĐể thực hiện đợc điều đó
đòi hỏi Nhà nớc phải đầu t trực tiếp vào các lĩnh vực này nhằm củng cố thêm
nội lực cho thành phần KTNN để đạt đợc các mục đích: dẫn dắt nền kinh tế
phát triển theo định hớng XHCN, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển một
cách toàn diện, vững chắc, chống khủng hoảng kinh tế, ngăn ngừa những đột
biến xấu trong nền kinh tế. Ngoài ra DNNN là lực lợng vật chất chủ lực để
nhà nớc can thiệp, bình ổn thị trờng, hạn chế ảnh hởng xấu của ngành nghề
độc quyền tự nhiên có tác hại lớn cho nền kinh tế.
Thứ ba, trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ có
DNNN là những đơn vị tổ chức kinh tế lớn của quốc gia là có đủ khả năng
hợp tác liên doanh với các công ty lớn quốc tế đồng thời làm đối trọng với họ
trên thị trờng trong nớc và vơn ra thị trờng quốc tế, góp phần quan trọng xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của đất nớc.
Không chỉ riêng Việt Nam mà Trung Quốc cũng là nớc chủ trơng xây
dựng CNXH thông qua phát triển nền kinh tế thị trờng mà KTNN giữ vai trò
chủ đạo, với tỉ trọng trên70% của chế độ công hữu trong toàn bộ nền kinh tế
song Trung Quốc vẫn giữ mức tăng trởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới,
đạt khoảng trên dới 10% liên tục trong nhiều năm và đang có dự báo cho
rằng trong tơng lai không xa Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế số một thế
giới, lớn hơn cả Mỹ về giá trị tuyệt đối. Ngay chính ở các nớc t bản, DNNN
cũng còn có vai trò không nhỏ. Theo đánh giá của UNDP, DNNN trong các
nớc t bản phát triển vẫn còn chiếm khoảng 10%.
Từ những lý do trên ta có thể khẳng định KTNN có vai trò chủ đạo và
sự tồn tại của KTNN là một tất yếu khách quan và chỉ có phát huy vai trò
chủ đạo của KTNN thì chúng ta mới có một nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi
vì KTNN nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế cho nên tạo ra khối lợng
hàng hoá dịch vụ công cộng lớn chi phối giá cả thị trờng, dẫn đát giá cả thị
trờng bằng chính chất lợng, giá cả của sản phẩn dịch vụ do mình cung cấp.
Thông qua đó Nhà nớc có thể kiểm soát đợc thị trờng, xây dựng nền kinh tế
12
nớc ta trở thành một nền kinh tế vững mạnh toàn diện luôn chủ động hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và có sức cạnh tranh cao trên thị trờng quốc tế.
1.Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc
Nh chúng ta đã biết vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN là một tất yếu khách quan và trong thời kỳ quá độ
hiên nay vai trò ấy lại đợc thể hiên sâu sắc và cấp thiết hơn bao giờ hết. Đại
hội Đảng VIII đã khẳng định KTNN có 4 vai trò:
- Làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trởng kinh tế và giải quyết các vấn đề
xã hội.
- Mở đờng, hớng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát
triển.
- Là lực lợng vật chất để thực hiện chức năng quản lý điều tiết vĩ mô.
- Tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới.
Với hình thức tổ chức đa dạng và phạm vi rộng khắp ở các lĩnh vực kinh tế
trong nền kinh tế đất nớc. Tính chất chủ đạo của KTNN thể hiện qua các nội
dung chính sau đây:
Nội dung thứ nhất cũng là nội dung quan trọng nhất của KTNN đó là
KTNN thực hiện chức năng điều tiết hệ thống kinh tế xã hội thông qua các
công cụ xã hội khác nhau trong đó DNNN là công cụ thiết yếu.
ở nớc ta các DNNN đợc hình thành ở các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đ-
ợc coi là không hấp dẫn bởi khả năng sinh lời thấp. Chẳng hạn là khu vực sản
xuất sản phẩm công cộng. Thực hiện chức năng điều tiết của DNNN theo h-
ớng này tạo ra tính cân đối giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Với t
cách là công cụ điều tiết, việc hình thành và tồn tại của các DNNN trong lĩnh
vực sản xuất kinh doanh nào đó không cố định, luôn đợc nhà nớc thực hiện
theo phơng châm: ở đâu, khi nào nền kinh tế kinh quốc dân dang cần mở
rộng sản xuất kinh doanh một mặt hàng cụ thể nào đó mà các doanh nghiệp
dân doanh hoặc không đủ sức kinh doanh hoặc chối từ thì ở đó và khi đó cần
có sự có mặt của DNNN. Đến một lúc nào đó khi các doanh nghiệp dân
doanh đã đủ sức đáp ứng nhu cầu thị trờng, DNNN có thể rút khỏi thị trờng
đó nhờng chỗ cho các doanh nghiệp dân doanh, quá trình đó diễn ra một
cách liên tục, lặp đi lặp lại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế hình thành vai trò
điều tiết của DNNN.
13
Chức năng điều tiết của DNNN còn thể hiện ở việc điều tiết kinh tế
trong phạm vi từng vùng. ở từng vùng cũng diễn ra hiện tợng các doanh
nghiệp dân doanh chỉ đổ xô vào kinh doanh các mặt hàng dễ sinh lợi nhuận
nên dẫn đến những mất cân đối trong sản xuất kinh doanh của từng vùng.
Chính DNNN cũng phải xuất hiện ở các ngành mà những vùng kinh tế của
đất nớc đang đòi hỏi nhằm điều tiết cung cầu ở các vùng đó. Chức năng điều
tiết vùng của DNNN đặc biệt quan trọng đối với các vùng xa, vùng sâu và
vùng nông thôn.
Nội dung thứ hai. Do KTNN nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh tế
nên tạo ra giá trị hàng hoá và dịch vụ công cộng khả dĩ chi phối đợc giá cả
thị trờng, dẫn dắt giá cả thị trờng bằng chính chất lợng và giá cả của sản
phẩm và dịch vụ do mình cung cấp đồng thời tạo ra các sản phẩm và dịch vụ
có tác dụng thúcđẩy các ngành và các thành phần kinh tế khác phát triển.
Nội dung thứ ba. KTNN kiểm soát các hoạt động của thị trờng vốn và
thị trờng tiền tệ để đảm bảo khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nớc. Các
công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng là các công cụ chính yếu của nhà nớc
trong quản lý kinh tế vĩ mô.
Nh vậy, thành phần KTNN thể hiện vai trò chủ đạo ở chỗ: chi phối các
thành phần kinh tế khác, làm biến đổi các thành phần kinh tế khác theo đặc
tính của mình (dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hớng
XHCN) tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế hàng hoá, chiếm giữ các ngành
kinh tế then chốt và trọng yếu của xã hội, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trởng
kinh tế gắn liền với công bằng xã hội. Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của toàn xã hội. Do đó xác định nội dung chủ đạo của khu
vực KTNN theo các tính chất nêu trên sẽ giúp chúng ta trong việc định hớng
đúng việc sắp xếp lại các tổ chức kinh tế hiện có, định hớng cho hoạt động
đầu t của Ngân Hàng Nhà Nớc và thiết lập các định chế yểm trợ phát triển
chung
IV. Thực trạng của kinh tế nhà nớc hiện nay
1. Quy mô và tổ chức của các doanh nghiệp nhà nớc
Chỉ tính trong 10 năm từ 1990 2000. Chúng ta đã 3 lần thực hiện
việc cải cách đổi mới DNNN. Lần thứ nhất thực hiện vào những năm từ 1990
1993 với mục đích tổ chức lại sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
quốc doanh. Lần thứ hai từ năm 1994 1997, chúng ta đã thành lập 18
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét