Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Đông Anh

như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Chính vì vậy, mở rộng và
phát triển hoạt động TTQT là việc các Ngân hàng cần phải chú trọng quan
tâm.
1.2. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong các điều kiện thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán có một
vị trí quan trọng. Quan hệ TTQT được thực hiện thông qua các phương thức
thanh toán. Phương thức thanh toán là phương pháp, cách thức tiến hành
nghiệp vụ nhất định, thông qua đó người nhập khẩu trả tiền, nhận hàng và
người xuất khẩu giao hàng, nhận tiền thanh toán.
Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, mỗi phương thức đều có
những ưu, nhược điểm riêng biệt. Để phù hợp với từng mối quan hệ thương
mại và trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, các bên sẽ thỏa thuận và lựa
chọn một phương thức thanh toán nhất định sao cho có lợi nhất.
Sau đây là một số phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng trong
thương mại quốc tế:
1.2.1. Thanh toán quốc tế theo phương thức Chuyển tiền
Khái niệm : Phương thức thanh toán chuyển tiền là một phương thức
thanh toán trong đó một khách hàng (người có yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu
Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác
(người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định.
Các hình thức chuyển tiền:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer), gọi tắt là M/T (phải gửi địa
chỉ tên những người có quyền ký ở ngân hàng);
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer), gọi tắt là T/T (phải quy
định khoá mật mã điện tử);
- Chuyển tiền bằng Fax (trong phạm vi giới hạn Fax được sử dụng như
là một phương tiện chuyển tiếp trong thanh toán quốc tế);
- Chuyển tiền bằng điện thoại (thường có nhiều sai sót nên ít được sử
dụng);
- Chuyển tiền qua hệ thống SWIFT: SWIFT (Society for Worldwide
Interbank Financial Telecommunication). Đây là một tổ chức hoạt động theo
đạo luật của Bỉ, có trụ sở tại Brucxen. Mục đích hoạt động của SWIFT là
chuyển những thông tin thanh toán, giá thành hạ, an toàn, nhanh chóng,
không dùng chứng từ giữa ngân hàng với ngân hàng. Mọi thông tin của
SWIFT đều được mật mã hoá mà chỉ những người có phận sự mới được tiếp
nhận.
Dùng nghiệp vụ chuyển tiền trong thanh toán xuất nhập khẩu thường
không an toàn nên ít khi sử dụng. Người ta thường sử dụng phương thức
chuyển tiền trong các trường hợp sau:
- Thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan
đến xuất nhập khẩu hàng hoá, trị giá hợp đồng nhỏ, đối tác quen biết, tín
nhiệm;
- Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư;
- Chuyển kiều hối;
- Thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu (khi hai bên mua bán có quan hệ
lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn).
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng đóng vai trò
trung gian thực hiện dịch vụ chuyển tiền và thu phí chuyển tiền.
1.2.2. Thanh toán quốc tế theo phương thức Nhờ thu
Khái niệm: Nhờ thu (ủy thác thu) là phương thức thanh toán, trong đó
người xuất khẩu (bên bán hàng) sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao
hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho Ngân hàng
phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu (người mua hàng), trên cơ sở
tờ hối phiếu do người xuất khẩu kí phát hành.
Căn cứ vào nội dung chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà
người ta chia phương thức thanh toán này thành hai loại:
- Nhờ thu trơn (Clean Collection): là phương thức thanh toán, trong
đó người xuất khẩu ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở
người nhập khẩu, chỉ căn cứ vào hối phiếu do nhà xuất khẩu lập ra mà không
kèm theo các chứng từ hàng hóa.
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Credit): là một phương thức
thanh toán, trong đó người xuất khẩu ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình
thu hộ số tiền ở người nhập khẩu, không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn
cứ vào bộ chứng từ gửi kèm theo, yêu cầu ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ
hàng hóa cho người nhập khẩu sau khi họ đã thanh toán tiền (phương thức
thanh toán D/P) hoặc ký chấp nhận thanh toán lên tờ hối phiếu có kỳ hạn
(phương thức thanh toán D/A).
Phương thức thanh toán quốc tế qua nhờ thu, nhất là nhờ thu hối phiếu
trơn thường gặp rất nhiều rủi ro trong thanh toán. Người ta thường sử dụng
phương thức nhờ thu trong các trường hợp sau:
- Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau;
- Trị giá hợp đồng không lớn.
1.2.3. Thanh toán quốc tế theo phương thức L/C
Theo “ quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ” (UCP
No.600) Tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau:
“Tín dụng chứng từ là bất cứ một thỏa thuận nào, dù cho được gọi hoặc
mô tả như thế nào, theo đó một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động
theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát hành Thư tín
dụng) hoặc đại diện cho chính bản thân Ngân hàng mình: thực hiện thanh toán
theo lệnh của một người thứ 3 (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh
toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát hành; hoặc ủy quyền cho Ngân
hàng khác thực hiện việc thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu;
hoặc cho phép Ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong Thư tín
dụng với điều kiện chứng từ phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của
Thư tín dụng”.
Đây là phương thức thanh toán phức tạp nhất nhưng lại có độ an toàn
cao và phổ biến nhất hiện nay. Chính vì sự phức tạp trong quá trình thực hiện
mà phí dịch vụ của loại hình này cao, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu nhập về thanh toán quốc tế của ngân hàng. Với loại hình này, ngân hàng
vừa có thể cung cấp dịch vụ thu phí, vừa có thể kinh doanh thu lãi.
Các loại Thư tín dụng
- Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C): là loại Thư tín dụng
sau khi được mở vẫn có thể bị sửa đổi một số điều khoản hoặc hủy bỏ toàn bộ
mà không cần báo trước cho người thụ hưởng. Việc sửa đổi, hủy bỏ L/C này
chỉ được thực hiện trước khi người xuất khẩu chuyển giao hàng hóa và vận
đơn chưa được chuyển nhượng.
Loại L/C này không bảo đảm quyền lợi cho người xuất khẩu, do vậy
ngày nay hầu như không sử dụng nó trong thương mại quốc tế.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C): là loại L/C sau
khi được mở, mọi việc liên quan đến sửa đổi, hủy bỏ, bổ sung… chỉ được
thực hiện bởi Ngân hàng phát hành khi có sự đồng ý của các bên có liên quan.
Loại L/C này được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, nó bảo đảm
quyền lợi cho các bên tham gia.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed
Irrevocable L/C): là loại L/C không thể hủy ngang được một Ngân hàng có uy
tín xác nhận đảm bảo việc thanh toán cho người thụ hưởng theo yêu cầu của
Ngân hàng phát hành. Loại Thư tín dụng này là phương thức thanh toán đảm
bảo quyền lợi cho người xuất khẩu nhưng người xuất khẩu đương nhiên phải
chịu một khoản phí xác nhận tương đối cao.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable
Without Recourse L/C): là loại Thư tín dụng không thể hủy ngang mà sau khi
người thụ hưởng đã được thanh toán tiền thì Ngân hàng phát hành không có
quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất cứ tình huống nào. Loại Thư tín
dụng này cũng được sử dụng rộng rãi trong TTQT.
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): là loại Thư tín
dụng không thể hủy ngang cho phép Ngân hàng trả tiền được quyền trả toàn
bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của
người hưởng lợi đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một
lần, chi phí chuyển nhượng do người thụ hưởng đầu tiên chịu trách nhiệm.
Loại L/C này áp dụng trong trường hợp người thụ hưởng đầu tiên
không có đủ số lượng hàng hóa để xuất khẩu hoặc không có hàng, họ chỉ là
người môi giới thương mại.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại Thư tín dụng không
thể hủy ngang sau khi đã sử dụng xong hoặc hết thời hạn hiệu lực lại tự động
có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời gian nhất định.
L/C tuần hoàn thường được dùng khi các bên có sự tin cậy lẫn nhau,
sau khi mua hàng thường xuyên, định kì, khối lượng lớn và trong thời hạn dài.
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): là loại L/C được mở dựa
trên giá trị của L/C đã được mở trước đó. Loại L/C này thường được sử dụng
nhiều trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chiết khấu. Quy
trình thanh toán loại L/C khá phức tạp, đặc biệt là những điều kiện chặt chẽ
về bộ chứng từ và thời hạn.
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại L/C chỉ bắt đầu có
hiệu lực khi L/C của bên đối tác đã được mở. L/C đối ứng được sử dụng trong
phương thức hàng đổi hàng (Barter) và phương thức gia công thương mại
quốc tế.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C): là loại L/C do người nhập
khẩu mở cho bên thụ hưởng. Trong trường hợp người xuất khẩu vi phạm hợp
đồng thương mại đã ký kết, gây thiệt hãi cho người nhập khẩu thì Ngân hàng
mở L/C dự phòng sẽ thanh toán tiền, đền bù những thiệt hại, tổn thất đó. Loại
L/C này được phát hành với mục tiêu trực tiếp bảo vệ quyền lợi của người
nhập khẩu. Điều kiện mở L/C này rất chặt chẽ.
- Thư tín dụng thanh toán dần (Deferred Payment L/C): là loại L/C
không thể hủy ngang mà Ngân hàng phát hành sẽ cam kết thanh toán dần dần
giá trị L/C cho người thụ hưởng theo tiến trình hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
của họ. Loại L/C này thích hợp với các hợp đồng giao hàng nhiều lần.
- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause Credit): là loại L/C có kèm
theo một điều khoản đặc biệt thể hiện ở: người yêu cầu mở L/C cho phép
người thụ hưởng được nhận một số tiền nhất định trong tổng giá trị của L/C,
ngay cả khi người này còn chưa thực hiện nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa.
Đây là một hình thức tài trợ vốn cho nhà xuất khẩu.
1.3. HIỆU QUẢ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế: là một phạm trù hiệu quả kinh
tế phản ánh chất lượng kinh doanh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng thương mại. Nó được đo bằng hiệu số giữa doanh thu hoạt động thanh
toán quốc tế và chi phí hoạt động thanh toán quốc tế.
Hiệu quả hoạt động TTQT được thể hiện qua công thức sau:
H
ttqt
= D
ttqt
- C
ttqt
Trong đó:
H
ttqt
: Hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế
D
ttqt
: Doanh thu hoạt động thanh toán quốc tế
C
ttqt
: Chi phí hoạt động thanh toán quốc tế
Hiệu quả hoạt động TTQT trong cơ chế thị trường hiện nay không chỉ
đơn thuần ở việc đo lường hữu hình bằng hiệu số giữa doanh thu và chi phí
mà còn được đánh giá thông qua mối liên hệ giữa hoạt động TTQT và các
hoạt động khác, là hiệu quả mang lại do sử dụng dịch vụ TTQT làm đòn bẩy
để phát triển các hoạt động kinh doanh khác như: Tín dụng, kinh doanh ngoại
hối. Hơn thế nữa, nó còn là uy tín và mối quan hệ rộng lớn của NHTM trên
thương trường quốc tế, là thị phần hoạt động TTQT của NHTM, là hiệu quả
của hoạt động TTQT tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế xã hội.
Như vậy, bản chất hiệu quả hoạt động TTQT phản ánh chất lượng các
hoạt động này. Nâng cao hiệu quả hoạt động này cũng chính là nâng cao chất
lượng các hoạt động này.
1.3.2. Các chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT tại
NHTM
Hiệu quả hoạt động TTQT tại NHTM có thể được đánh giá qua một số
chỉ tiêu định tính sau:
Một là, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc góp
phần tạo hiệu quả và chất lượng hoạt động tín dụng:
Khi Ngân hàng cho vay thu mua hàng xuất khẩu, hoặc cho vay trên cơ
sở đảm bảo bằng bộ chứng từ xuất khẩu theo L/C, Ngân hàng sẽ thu lãi trên
khoản vốn đã đầu tư tín dụng này, nếu nghiệp vụ TTQT được thực hiện an
toàn thì đồng vốn tín dụng sẽ được thu hồi cả gốc và lãi, sẽ làm tăng hiệu quả
cho hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng. Đồng thời việc thu nợ
đúng hạn sẽ phát sinh nợ quá hạn, nâng cao chất lượng của công tác tín dụng,
góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động Ngân
hàng.
Hai là, hiệu quả hoạt động TTQT được mang lại thông qua việc tăng
cường hỗ trợ nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu:
Bên cạnh các khoản thu phí dịch vụ trên, Ngân hàng còn có thể thu
được lãi trong các nghiệp vụ tài trợ thương mại trên cơ sở phương thức thanh
toán Nhờ thu, phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ, tài trợ thương mại
trên cơ sở bảo lãnh Ngân hàng… Các khoản phí dịch vụ Ngân hàng thu được
thông qua dịch vụ tài trợ XNK như: Phí chiết khấu chứng từ hàng xuất miễn
truy đòi, Ngân hàng mua đứt bộ chứng từ hàng xuất khẩu của khách hàng,
mọi rủi ro trong thu hồi tiền hàng từ nước ngoài thuộc về Ngân hàng. Do vậy
tỷ lệ phí chiết khấu trong trường hợp này thường cao hơn phí chiết khấu truy
đòi.
Khi hoạt động này càng phát triển thị hiệu quả mang lại từ hoạt động
TTQT càng cao.
Ba là, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá qua việc góp phần tăng
cường và tạo hiệu quả kinh doanh ngoại hối:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, Ngân hàng bán ngoại tệ
cho khách hàng có nhu cầu thanh toán tiền hàng nhập khẩu, hoặc mua của
khách hàng có nguồn ngoại tệ thu về trong thanh toán hàng xuất. Khi nghiệp
vụ thanh toán XNK qua Ngân hàng ngày càng phát triển sẽ tạo điều kiện cho
hoạt động kinh doanh ngoại tệ nâng cao được doanh số. Như vậy, nhờ vào
hoạt động TTQT các Ngân hàng phát triển được hoạt động kinh doanh ngoại
tệ, tạo khả năng tăng doanh thu dịch vụ, đạt hiệu quả trong kinh doanh Ngân
hàng.
Bốn là, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc làm
tăng và củng cố nguồn vốn cho Ngân hàng:
Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, mọi nguồn thu ngoại tệ từ nước ngoài
hoặc chi ngoại tệ để thanh toán cho nước ngoài, các NHTM phải thực hiện
thông qua tài khoản NOSTRO – Tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài.
Trong khi đó, hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng phát triển, doanh số
thanh toán hàng xuất càng cao thì nguồn ngoại tệ thu về trên tài khoản
NOSTRO càng lớn, số dư tiền gửi ngoại tệ của NHTM cũng sẽ tăng. Như
vậy, hoạt động TTQT đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tiền
gửi ngoại tệ ở nước ngoài. Đây chính là hiệu quả mà hoạt động thanh toán
quốc tế mang lại cho quá trình kinh doanh của Ngân hàng.
Năm là, hiệu quả mà hoạt động TTQT đem lại còn được đánh giá thông
qua sự phát triển mạng lưới Ngân hàng đại lý, phát triển quan hệ hối ngoại,
nâng cao uy tín của Ngân hàng:
Để quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh đối ngoại của mình
trên lĩnh vực thanh toán, bảo lãnh được nhanh chóng, an toàn và thuận lợi, các
Ngân hàng trong nước phải có quan hệ với các Ngân hàng đại lý ở nước
ngoài. Mối quan hệ này phải dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời
gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ này ngày càng được mở rộng
đồng thời uy tín của Ngân hàng trên thương trường quốc tế được nâng cao.
Đây chính là hiệu quả mà hoạt động TTQT đem lại cho Ngân hàng.
Tóm lại, hoạt động TTQT phải gắn liền với hoạt động kinh tế quốc tế
của quốc gia, phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế đối ngoại của đất
nước trong từng thời kì. Hiệu quả hoạt động TTQT không chỉ thể hiện ở phần
lợi nhuận của hoạt động này mang lại cho Ngân hàng cao hay thấp mà còn
thông qua nó tạo hiệu quả cho các hoạt động khác tại Ngân hàng cũng như
khách hàng và cho nền kinh tế phát triển.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TTQT
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TTQT có
vai trò quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của nó. Chúng ta có thể tập trung vào một số nhân tố chủ yếu sau:
a) Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan có thể được chia thành:
- Môi trường kinh tế khu vực và trong nước: Bao gồm trình độ phát
triển của nền kinh tế, sự tham gia của mọi thành viên vào hoạt động của thị
trường với một trình độ phát triển nhất định của sức sản xuất. Một nền kinh tế
với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ… đồng nghĩa với việc nâng cao về đầu tư quốc tế, xuất nhập khẩu. Nhu
cầu đó đòi hỏi hoạt động TTQT của các NHTM trong khu vực, quốc gia đó
càng lớn cả về quy mô, chất lượng cũng như phạm vi hoạt động.
- Môi trường chính trị: Một sự ổn định về chính trị sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho lĩnh vực kinh tế đối ngoại của một nước phát triển, trên cơ sở đó
các hoạt động thương mại quốc tế sẽ phát triển, nhu cầu thanh toán XNK sẽ
tăng theo.
- Môi trường pháp lý: Bất cứ hoạt động kinh doanh nào vượt ra ngoài
biên giới một quốc gia sẽ phải tuân thủ hai loại luật pháp: đó là luật pháp
trong nước và luật pháp của nước chủ nhà nơi tiến hành hoạt động kinh
doanh.
- Môi trường tài chính quốc tế: Sự tác động của các cuộc khủng hoảng
tài chính đã gây vỡ nợ, phá sản một số doanh nghiệp hoặc Ngân hàng, sẽ tác
động đến hoạt động đến hoạt động TTQT: tiền hàng trong thanh toán XNK
hoặc vốn tín dụng không thu hồi được, nợ đọng…
- Sự ổn định của đồng tiền trong thanh toán: Nếu đồng tiền thanh toán
bị mất giá thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác xuất khẩu, nó làm cho hoạt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét