khái niệm tiền mặt trong tiếng Việt.Theo ngôn ngữ tiếng Việt Nam ,tiền mặt
không bao gồm tiền gửi ngân hàng.Khi các doanh nghiệp thanh toán bằng séc
hoặc chuyển khoản thì đợc gọi là thanh toán không dùng tiền mặt .Trong lĩnh
vực tài chính- kế toán ,tài sản bằng tiền Cash của một công ty hay doanh nghiệp
bao gồm:
+Tiền mặt(Cash on hand)
+Tiền gửi ngân hàng(Bank accounts)
+Tiền dới dạng séc các loại (Cheques)
+Tiền trong thanh toán(Floating money,Advanced payment)
+Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
b,Vàng,bạc ,đá quý và kim khí quý
Đây là nhóm tài sản đặc biệt ,chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ.Tuy
vậy,trong một số nghành nh ngân hàng ,tài chính ,bảo hiểm ,trị giá kim cơng ,đá
qúy ,vàng bạc ,kim khí quý vv có thể rất lớn
c,Các tài sản tơng đơng với tiền(cash equivalents)
Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao ,tức là dễ
bán ,dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết.Tuy nhiên, không phải tất cả các loại
chứng khoán đều thuộc nhóm này .Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới
đợc coi là TSLĐ thuộc nhóm này.Ngoài ra,các giấy tờ thơng mại ngắn hạn ,đợc
bảo đảm có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này.Ví dụ:hối phiếu ngân hàng,kỳ
phiếu thơng mại,bộ chứng từ hoàn chỉnh
d, Chi phí trả trớc(Prepaid expenses)
Chi phí trả trớc bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trớc cho ngời bán
,nhà cung cấp hoặc các đối tợng khác .Một số khoản trả trớc có thể có mức độ rủi
ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trớc
e,Các khoản phải thu(Accounts receivable)
Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp ,đặc biệt
là các công ty kinh doanh thơng mại ,mua bán hàng hoá.Hoạt động mua bán chịu
giữa các bên ,phát sinh các khoản tín dụng thơng mại.Thực ra ,các khoản phải thu
gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua bán ,quan hệ
hợp đồng
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
5
f,Tiền đặt cọc
Trong nhiều trờng hơp ,các bên liên quan đến hợp đồng phải đặt cọc một số
tiền nhất định .Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo 2 cách:
-Số tiền đặt cọc tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài sản
đợc mua bán
-Số tiền đặt cọc đợc ấn định bằng một số tiên cụ thể,hoặc một giá trị tối
thiểu cho hợp
Tiền đặt cọc là một tài sản không chắc chắn ,độ tin cậy có thể giao động
lớn,từ 90% đến 30% hay 40%.Do tính chất là một tài sản bảo đảm nh vậy nên
mặc dù tiền đặt cọc thuộc TSLĐ nhng nó không đợc các ngân hàng tính đến khi
xác định khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp
g, Hàng hoá vật t(Inventory)
Hàng hoá vật t đợc theo dõi trong một tài khoản gọi là hàng tồn kho.Hàng
tồn kho trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng,không bán đ-
ợc ,mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu,nguyên liệu đang tồn tại ở
các kho, quầy hàng hoặc trong xởng.Nó gồm nhiều chủng loại khác nhau nh:NVL
chính, NVL phụ ,vật liệu bổ trợ ,nhiên liệu và các loại dầu mở, thành phẩm
h, Các chi phí chờ phân bổ
Trong thực tế ,một khối lợng NVL và một số khoản chi phí đã phát sinh nh-
ng có thể cha đợc phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ.Những khoản này
sẽ đợc đa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp.
1.1.2.2. Kết cấu tài sản lu động.
Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại TSLĐ theo những tiêu thức
khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt đợc kết cấu TSLĐ ở từng
cách phân loại đó. Kết cấu TSLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ
giữa thành phần trong tổng số TSLĐ của doanh nghiệp. ở các doanh nghiệp khác
nhau thì kết cấu TSLĐ cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu TSLĐ của
doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ
hơn những đặc điểm riêng về TSLĐ mà mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý TSLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
6
đổi kết cấu TSLĐ trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy đợc những biến đổi
tích cực cũng nh những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý TSLĐ của từng
doanh nghiệp.
Kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều
yếu tố khác nhau. Có thể phân ra thành ba nhóm chính sau:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật t nh: khoảng cách giữa doanh nghiệp với
nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trờng; kỳ hạn giao hàng và khối lợng vật
t đợc cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật t cung cấp,
giá cả của vật t
- Các nhân tố về mặt sản xuất nh: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất
của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản
xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất
- Các nhân tố về mặt thanh toán nh phơng thức thanh toán đợc lựa chọn theo
các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hanh kỷ luật thanh toán giữa
các doanh nghiệp.
1.1.3. Nguồn hình thành tài sản lu động của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, TSLĐ đợc hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau,
do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác
nhau. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ
cấu nguồn vốn tối u vừa giảm đợc chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo sự an toàn
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác
nhau thì TSLĐ của doanh nghiệp đợc hình thành từ các loại nguồn vốn nh :
* TSLĐ hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn: gồm
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ
từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng nh: vốn
đầu t từ ngân sách nhà nớc, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phần,
vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại.Vốn chủ sở hữu thể hiện
khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong
tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
7
- Các khoản nợ: Là các khoản TSLĐ đợc hình thành từ các khoản vay của
các ngân hàng thơng mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái
phiếu, các khoản nợ khách hàng cha thanh toán
* TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn
vốn của doanh nghiệp chia thành hai loại :
- Nguồn vốn thờng xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn,
bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu TSLĐ th-
ờng xuyên cần thiết của doanh nghiệp
Nguồn vốn thờng xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản
vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn, đợc
dùng để đáp ứng nhu cầu TSLĐ có tính chất tạm thời, bất thờng phát sinh trong
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
*TSLĐ hình thành theo phạm vi huy động vốn: TSLĐ đợc hình thành từ
hai nguồn
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đợc từ
bản thân doanh nghiệp. Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh
doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhợng bán, thanh lý tài sản
Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát
huy đợc tính chủ động trong quản lý và sử dụng TSLĐ của mình.
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể
huy động từ bên ngoài, gồm: vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng th-
ơng mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ ngời cung
cấp, nợ khách hàng và các khoản nợ khác , qua việc vay vốn từ bên ngoài tạo cho
doanh nghiệp có một cơ cấu tài chính linh hoạt, mặt khác có thể làm gia tăng
doanh lợi vốn chủ sở hữu nhanh nếu mức doanh lợi tổng vốn đạt đợc cao hơn chi
phí sử dụng vốn .
1.2. hiệu quả sử dụng tài sản lu động ở doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng.
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
8
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản lu động ở doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản lu động trong
doanh nghiệp. Trong khuôn khổ chuyên đề này chúng ta đứng trên quan điểm
nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra một l-
ợng tài sản nhỏ nhất mà thu về đợc lợi nhuận lớn nhất.
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn
đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra,
làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy
mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả
tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận.
Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản lu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp
cũng nh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp
phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động.
Hiệu quả sử dụng tài sản lu động có vai trò quan trọng trong việc đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, tài sản lu
động cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem
lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử dụng tài sản lu động là một trong những căn cứ đánh
giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó
cũng có ảnh hởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp
thực hiện đợc mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý tài sản lu động không những đảm
bảo sử dụng tài sản lu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc hạ
thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, từ đó
sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lu động của doanh nghiệp có thể hiểu là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lu động của
doanh nghiệp, đảm bảo lợi nhuận tối đa với số lợng tài sản lu động sử dụng với chi
phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động là yêu cầu tất yếu khách
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
9
quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Mặc dù hầu hết các vụ phá
sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ đơn thuần do
quản trị tài sản lu động tồi. Nhng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số doanh
nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lu
động hầu nh là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động ở
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một
lợng tài sản nhất định và nguồn tài trợ tơng ứng, không có tài sản sẽ không có bất
kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng tài sản nh thế nào cho có
hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trởng và phát triển của doanh
nghiệp.Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
nói chung và TSLĐ nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý
tài chính doanh nghiệp. Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng TSLĐ phải
đợc hiểu trên hai khía cạnh:
+ Một là, với số tài sản hiện có có thể sản xuất thêm một số lợng sản phẩm
với chất lợng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Hai là, đầu t thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn
hơn tốc độ tăng tài sản.
Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt đợc trong công tác tổ chức
quản lý và sử dụng tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng .
Trớc đây, khi nền kinh tế nớc ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu
vốn,tài sản cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều đợc Nhà nớc cấp phát
hoặc cấp tín dụng u đãi nên các doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử
dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu. Kể cả hiện nay, khi mà nền kinh tế nớc ta
đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp đã phải tự tìm nguồn
vốn để hoạt động thì hiệu quả sử dụng vốn,tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng
vẫn ở mức thấp. Đó là do các doanh nghiệp cha bắt kịp với cơ chế thị trờng nên
còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng tài sản.
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
10
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý,
hiệu quả từng đồng TSLĐ nhằm làm cho TSLĐ đợc thu hồi sau mỗi chu kỳ sản
xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển
của vốn, qua đó, vốn đợc thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt đợc số TSLĐ cần
thiết mà vẫn hoàn thành đợc khối lợng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trớc.
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn có ý nghĩa quan trong trong việc giảm chi
phí sản xuất, chi phí lu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu
đợc lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt
ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSLĐ. Do đặc điểm TSLĐ
lu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái TSLĐ thờng xuyên
biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSLĐ chỉ xét trên mặt giá trị . Bảo toàn TSLĐ thực
chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đợc đủ mua một lợng vật t, hàng hoá tơng đ-
ơng với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật t
cho khâu dự trữ và tài sản lu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh
toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cờng quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp luôn có đợc trình độ sản xuất kinh doanh
phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật đợc cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công
nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng
cao chất lợng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trờng. Đặc
biệt khi khai thác đợc các tài sản, sử dụng tốt tài sản lu động, nhất là việc sử dụng
tiết kiệm hiệu quả TSLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu
vay vốn cũng nh việc giảm chi phí về lãi vay.
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác
quản lý và sử dụng tài sản lu động trong các doanh nghiệp. Đó là một trong những
nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng
trởng và phát triển của nền kinh tế.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lu động
1.2.3.1. Vòng quay tài sản lu động
Việc sử dụng tài sản lu động đạt hiệu quả có cao hay không biểu hiện trớc
hết ở tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Tài sản lu động
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
11
luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng tài sản lu động của doanh nghiệp
càng cao và ngợc lại.
Vòng quay TSLĐ
trong kỳ
=
Doanh thu thuần
TSLĐ bq trongkỳ
Chỉ tiêu vòng quay tài sản lu động phản ánh trong một năm tài sản lu
động của doanh nghiệp luân chuyển đợc bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản
lu động bình quân trong năm tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
1.2.3.2. Hiệu quả sử dụng tài sản lu động
Hệ số sinh lợi TSLĐ =
Lợi nhuận sau thuế
TSLĐ bq trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lu động có thể tạo ra đợc bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh lợi tài sản lu động
càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lu động càng cao.
1.2.3.3. Mức đảm nhiệm tài sản lu động
Hệ số đảm nhiệm
TSLĐ
=
TSLĐ
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng
tài sản lu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ
suất lợi nhuận của một đồng tài sản lu động sẽ tăng lên.
1.2.3.4. Mức tiết kiệm tài sản lu động
Mức
tiết
kiệm
TSLĐ
=
Doanh thu thuần
kỳ phân tích
360
x
(
Thời gian 1
vòng luân
chuyển kỳ phân
tích
-
Thời gian 1
vòng luân
chuyển kỳ
gốc
)
Mức tiết kiệm tài sản lu động số tài sản lu động doanh nghiệp tiết kiệm đợc
do tăng tốc độ luân chuyển vốn. Doanh nghiệp càng tăng đợc vòng quay tài sản lu
động thì càng có khả năng tiết kiệm đợc tài sản lu động, càng nâng cao đợc hiệu
quả sử dụng tài sản lu động.
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
12
Thời gian 1 vòng luân chuyển
TSLĐ
=
360
Số vòng quay TSLĐ
Thời gian 1 vòng luân chuyển tài sản lu động cho cho biết trong khoảng
thời gian bao nhiêu ngày thì tài sản lu động luân chuyển đợc một vòng. chỉ tiêu
này càng bé cho thấy tốc độ lu chuyển tài sản lu động càng nhanh.
1.2.3.5. Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu trên, hiệu quả sử dụng tài sản lu động còn đợc đánh giá
qua một số chỉ tiêu sau :
- Hệ số thanh toán ngắn hạn:
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Tài sản lu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong ngắn
hạn,nghĩa là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán dới một năm của các khoản
mục tài sản lu động của doanh nghiệp .
- Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh =
Vốn bằng tiền + các khoản phải
thu
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu
nghĩa là các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn
của doanh nghiệp .
- Hệ số thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán tức thời =
Vốn bằng tiền
Nợ đến hạn
Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán đến hạn
của doanh nghiệp .
- Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho
=
Doanh thu thuần
Giá trị hàng tồn kho
hoặc
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
13
Chỉ tiêu này phản ánh số lần hàng hoá tồn kho bình quân lu chuyển trong
kỳ. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
càng có hiệu quả.
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải
thu hồi là tốt vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách
hàng và nếu có cấp tín dụng cho khách hàng thì chất lợng tín dụng cao)
- Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu này đợc sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán trên
cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày.
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày
Nó cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu hồi
các khoản phải thu của mình. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu
tiền trung bình càng nhỏ và ngợc lại. Kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong
nhiều trờng hợp cha thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục
tiêu và chính sách của doanh nghiệp nh mục tiêu mở rộng thị trờng, chính sách tín
dụng
Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng tài sản
lu động nhng nó cũng là những công cụ mà ngời quản lý tài chính cần xem xét để
điều chỉnh việc sử dụng tài sản lu động sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.4. Một số phơng pháp quản lý tài sản lu động trong doanh nghiệp
1.2.4.1. Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt đề cập đến vấn đề quản lý tiền mặt trong két và các khoản
tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản có tính lỏng cao. Các loại chứng khoán gần
nh tiền mặt giữ vai trò quan trọng vì nếu số d tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể
đầu t vào chứng khoán có tính thanh khoản cao vì các loại chứng khoán này cho
hiệu suất sinh lời cao và lúc cần cũng dễ dàng chuyển sang tiền mặt. Vì thế mà
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét