Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Đổi mới chính sách thương mại quốc tế của VN trong quá trình hội nhập ASEAN

Trong nền kinh tế hiện đại, các ngành dịch vụ có hàm lợng tri thức
cao nh tài chính, phát thanh truyền hình, chăm sóc y tế, đào tạo nhân lực,
luật pháp, xử lý số liệu .sẽ rất phát triển . Đồng thời việc thay đổi các yếu
tố, các điều kiện sản xuất, việc cấu trúc lại nền kinh tế các quốc gia, tác
động sâu sắc đến chiều hớng phát triển và cơ cấu thơng mại thế giới theo h-
ớng:
Các loại hình dịch vụ (XK vô hình) và quyền sở hữu trí tuệ không
ngừng gia tăng về tỷ trọng trong tổng doanh số thơng mại quốc tế.
Các sản phẩm (XK hữu hình) có hàm lợng công nghệ cao, có giá trị
gia tăng lớn sẽ không ngừng tăng về giá trị và tỷ trọng trong tổng số kim
ngạch buôn bán thế giới.
Ngày nay xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
đang bớc sang 1 giai đoạn mới triệt để hơn. Với các phơng tiện thông tin
hiện đại các dịch vụ phát thanh truyền hình , đặc biệt là dịch vụ Internet đã
làm cho thế giới hình nh nhỏ bé lại trong bối cảnh đó bất cứ công ty nào
cũng có thể trở thành đa quốc gia với ý nghĩa mọi sản phẩm đều có thể sản
xuất và đợc bán ở mọi nơi , mọi lúc. Đối với Việt Nam, sự trao đổi và phân
công lao động quốc tế đang còn ở giai đoạn sơ khai, những định hớng chiến
lợc và chính sách phát triển thơng mại, vừa phải tính đén xu hớng toàn cầu
hoá, vừa phải tính đến xu hớng khu vực hoá kinh tế nhất là sau khi Việt Nam
đã trở thành, thành viên chính thức của ASEAN.
Một đặc điểm quan trọng khác của nền kinh tế thơng mại thế giới hiện
nay là tính cạnh tranh khốc liệt. Các tập đoàn kinh tế lớn coi thị trờng thế
giới là sân chơi riêng của mình với luật chơi tự do thơng mại nhằm đạt
mục tiêu duy nhất là tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận. Chính
họ có lợi thế nhất trong việc thu nhập, xử lý thông tin, tạo ra và áp dụng trớc
nhất các công nghệ mới, vì vậy họ chiếm địa vị chi phối. Những tập đoàn
siêu quốc gia này làm cho các chính phủ lúng túng phải lo bảo hộ mậu dịch,
bảo hộ nền kinh tế quốc gia và xảy ra cạnh tranh gay gắt giữa các công ty.
Dù là quốc gia nào hùng mạnh đến đâu, cũng vẫn bị sự cạnh tranh khốc liệt
lôi kéo dồn ép. Trong cuộc cạnh tranh này, hố ngăn cách giữa nớc giàu và n-
7
ớc ngoài ngày càng thêm rộng ra, có nguy cơ các nớc nghèo bị bỏ rơi lâu
vào thế tụt hậu. Trong số những nớc nghèo, chỉ có những nớc đủ năng lực
nội sinh và đủ khôn khéo để tận dụng những cơ hội đi tắt, đón đầu mới hy
vọng thoát khỏi nguy cơ bị loại trừ trong cạnh tranh.
1.1.2.2. Xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá và tự do hoá thơng mại
Từ đầu những năm 90, khái niệm khu vực hoá , toàn cầu hoá bắt
đầu đợc đề cập một cách rộng rãi, không chỉ trong các công trình nghiên cứu
có tính chất học thuật của cá nhà khoa học, mà còn đợc xem nh cách đề cập
mới, một cách suy nghĩ mới của nhiều nớc trong việc đề ra chiến lợc phát
triển của mình.
Khu vực hoá, toàn cầu hoá đều là sản phẩm của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ, nhất là công nghệ tin học, giao thông vận tải, bu chính
viễn thông và là xu thế phát triển mới nảy sinh trong kỷ nguyên mới của
khoa học và công nghệ hiện đại. Xu thế này đẩy sự vật phát triển vợt ra khỏi
phạm vi biên giới của một quốc gia riêng lẻ để trở nên một hiện tợng bao
trùm lên toàn thế giới. Khu vực hoá, toàn cầu hoá dùng để chỉ tập hợp những
hiện tợng vốn cha có tính chất khu vực và toàn cầu nhng đang vận động để
vơn lên thành hiện tợng toàn khu vực và thế giới nhờ sử dụng những thành
tựu mới của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Cũng cần phân biệt các cụm từ: Chủ nghĩa toàn cầu, toàn cầu hoá và
quốc tế hoá. Chủ nghĩa toàn cầu là chính sách có tính toán cầu của các nớc
lớn khi đề ra chiến lợc đối ngoaị trong cuộc cạnh tranh giữa họ với nhau,
cũng nh trong cuộc đấu tranh của họ chống lại các nớc nhỏ bé hơn nhằm áp
đặt ảnh hởng của mình trên toàn thế giới. Còn toàn cầu hoá là xu thế tất yếu
phát triển mới nẩy sinh trên cơ sở trong cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ. Quốc tế hoá là một quá trình trong đó mối quan hệ đợc thể chế hoá
giữa các dân tộc dựa trên những tiêu chuẩn và hệ thống chung đã đợc cộng
đồng quốc tế chấp nhận và thực hiện thông qua việc ký kết các điều ớc, hiệp
định và qua các tập quán quốc tế. Trên một số mặt hoạt động của xã hội loài
ngời quốc tế hoá là bớc đầu để đi đến toàn cầu hoá . Ví dụ chế độ mậu
dịch tự do đã đợc quốc tế hoá bằng việc ký kết hiệp định GATT, chế độ này
8
sẽ đợc toàn cầu hoá trong tơng lai với viẹc tham gia của đại bộ phận các nớc
trên thế giới. Còn toàn cầu hoá kinh tế là việc hình thành một thị trờng thế
giới thống nhất, một hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu; là sự phát triển và
mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu; là sự mở rộng giao lu
kinh tế và khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên toàn cầu; là việc giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội có tính toàn cầu nh vấn đề dân số, tài nguyên
thiên nhiên, môi tròng và sinh thái. Trong khi đó khu vực hoá kinh tế chỉ
diễn ra trong một không gian địa lý nhất định dới nhiều hình thuức nh khu
mậu dịch tự do, đồng minh thuế quan, đồng minh kinh tế, đồng minh tiền tệ,
thị trờng chung nhằm mục đích hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Xoá bỏ
những cản trở trong việc di chuyển đầu t, lực lợng lao động, hàng hoá, dịch
vụ tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa các n ớc
thành viên trong khu vực.
Nền kinh tế thế giới đợc thúc đẩy bởi cả hai xu hớng toàn cầu hoá lẫn
khu vực hoá, mậu dịch thế giới và buôn bán khu vực đan xen cùng phát triển.
Sự xuất hiện tổ chức mậu dịch thế giới (WTO) với quyền hạn rộng lớn hơn
GATT và đợc luật pháp quốc tế công nhận (điều mà GATT không có) đã và
đang làm cho các hoạt động thơng mại quốc tế có đợc ngời điều khiển, lãnh
đạo (vì trong cơ cấu của WTO có hệ thống giải quyết tranh chấp nhất quán).
Trong tơng lai khi hội tụ đợc đầy đủ tất cả các nớc, WTO sẽ thực sự trở
thành tổ chức mậu dịch chung cho toàn thế giới. Tuy nhiên WTO xuất hiện
sẽ thúc đẩy xu hớng đa phơng hoá nhng không ngăn cản đợc xu hớng hình
thành các tổ chức khu vực. Trên thế giới cho đến nay đã có tới 12 khu vực
kinh tế khác nhau nh: khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hợp tác
kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC), khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội kinh tế châu Âu (EEA), sáng
kiến thành lập nhóm kinh tế Đông á (EAEC) làm làn sóng chủ nghĩa khu
vực dâng cao vừa giúp giải quyết đợc các vấn đề khu vực, vừa bổ sung và có
tác động thúc đâỷ, củng cố xu hớng toàn cầu.
Sự liên minh kinh tế trên thế giới bao gồm nhiều mức độ khác nhau.
Thứ nhất, bớc đầu tiên của quá trình liên kết kinh tế quốc tế là thành
lập khu vực mậu dịch tự do. Trong đó các nớc tham gia xoá bỏ hàng rào thuế
quan nhng vẫn giữ chính sách riêng đối với các nớc nằm ngoài khu vực.
9
Thứ hai, tiến tới hình thành liên minh thuế quan, theo đó các nớc
thành viên cũng thực hiện một chính sách thuế quan chung với tất cả các nớc
bên ngoài khu vực.
Thứ ba, ở mức độ liên kết kinh tế cao hơn sẽ hình thành một thị trờng
chung, trong đó các nớc thành viên cho phép lu chuyển mọi hàng hoá lẫn
nhau.
Thứ t, hình thành liên minh kinh tế, trong đó các nớc thành viên áp
dụng chính sách tài chính, tiền tệ chung, thành lập một ngân hàng phát hành
chung, thậm chí sử dụng một đồng tiền chung.
1.1.3. Các nhân tố bên trong yêu cầu đổi mới chính sách thơng
mại quốc tế của Việt Nam :
1.1.3.1. Chính sách thơng mại quốc tế còn nhiều bất cập hạn chế đến
hội nhập khu vực và quốc tế.
Chính sách thơng mại cha tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa thị trờng
xuất khẩu với thị trờng nhập khẩu.
Chúng ta cha xây dựng đợc chính sách thị trờng và chính sách sản
phẩm xuất khẩu phù hợp với điều kiện nớc ta và bối cảnh bên ngoài.
Tính đồng bộ và hoàn thiện hệ thống chính sách thơng mại của nớc ta
còn thấp.
1.1.3.2. Chính sách thơng mại quốc tế còn thiếu tầm chiến lợc cho hội
nhập khu vực và quốc tế.
Chính sách thơng mại khi tham gia khu vực và quốc tế cũng nh những
quy định trong các hiệp định thơng mại khu vực cha có chiến lợc hội nhập và
cha đợc tuyên truyền thông tin đầy đủ và chính xác đến các doanh nghiệp.
Những mâu thuẫn và bất cập trong chính sách thơng mại vẫn còn phổ
biến từ luật pháp đến triển khai của chính phủ.
Tính ổn định của chính sách thơng mại cha cao. Sự thay đổi thờng
xuyên trong chính sách đã gây khó khăn cho các hoạt động thơng mại quốc
tế. Nhiều khi nó còn làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu t và gây cản trở
trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó cũng có những chính sách đã lạc hậu
lại chậm sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế đã gây khó khăn trong
quá trình hội nhập.
10
Các nớc trong ASEAN đều đã phục hồi nhanh chóng trong cuộc
khủng hoảng kinh tế và đã phục hồi và tăng trởng nhanh chóng nh
Xingapore, Thái Lan
Các doanh nghiệp Việt Nam cha sẵn sàng thực hiện AFTA và hội
nhập: có t tởng cho rằng việc tham gia vào ASEAN; APEC; WTO là công
việc của nhà nớc, ở tầm vĩ mô còn các doanh nghiệp Việt Nam không có
trách nhiệm. Điều này thật là nguy hiểm vì khi thực thi các doanh nghiệp lại
là ngời trực tiếp thực hiện và tác động rất lớn tới sự tồn tại, hiệu quả kinh
doanh. Do không biết hoặc cha sẵn sàng tham gia và hội nhập nên các doanh
nghiệp không chủ động đầu t, thay đổi cách quản lý và chuẩn bị kỹ lỡng nên
bị động thua thiệt. Có thể khẳng định rằng khả năng chống lại tác động tiêu
cực khi thực hiện hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam là rất yếu.
Tổ chức điều hành thực hiện chính sách còn nhiều nhợc điểm tính
đồng bộ và hoàn thiện hệ thống chính sách ở nớc ta còn cha cụ thể và còn
thấp. Điều này một mặt do cơ sở luật pháp cha có hệ thống, mặt khác do hệ
thống hành chính của ta còn cồng kềnh, quan liêu còn nặng, sự phối hợp
giữa các cơ quan quản lý cha đợc chặt chẽ và cụ thể. Những mâu thuẫn và
bất cập trong chính sách thơng mại vẫn còn phổ biến từ luật pháp đến triển
khai của chính phủ, hớng dẫn của các bộ, ngành có liên quan vừa cha kịp
thời, để kéo dài vừa cha đồng bộ có khi cản trở áp dụng có chính sách ban
hành xa thực tiễn nên không áp dụng đợc. Có chính sách lại không nghiên
cứu kỹ và dự báo đợc thực tiễn áp dụng chính sách nên hiệu quả kém.
1.1.4. Những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập ASEAN
1.1.4.1. Những cơ hội trong quá trình hội nhập ASEAN
Tham gia hợp tác kinh tế thơng mại với khu vực và quốc tế Việt Nam
có thể có đợc một số cơ hội sau:
Có điều kiện để thu hút đợc nhiều vốn đầu t từ những nớc thừa vốn và
đang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh sang các ngành có hàm lợng kỹ thuật
cao, sử dụng ít nhân công trong khu vực nh Singapor, Thái lan, Nhật bản,
Hàn Quốc
11
Có điều kiện tiếp thu công nghệ và đào tạo kỹ thuật cao ở các ngành
cần nhiều lao động mà các nức đó đang cần chuyển giao.
Tận dụng u thế về lao động nhàn rỗi và có hàm lợng chất xám cao để
đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các nớc trong khu vực.
Sử dụng vốn và kỹ thuật cao của các nớc trong khu vực để khai thác
khoáng sản và xây dựng cơ sở hạ tầng .
Nếu đợc nhận những u đãi về thuế quan hàng xuất khẩu của Việt Nam
có điều kiện tăng xuất khẩu.
Học hỏi đợc kinh nghiệm của các nớc về kinh tế và hội nhập.
1.1.4.2. Những thách thức trong quá trình hội nhập:
Khi tham gia vào quá trình hội nhập Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó
khăn mà trớc hết đó là những hậu qủa nặng nề của quá khứ điều này dẫn đến
sự khác nhau về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế. Nớc ta đang ở trong giai
đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trờng. Các quan hệ thị trờng trong nền kinh tế Việt Nam thực sự cha đủ lớn
(cái bảo thủ của cung cách quan liêu bao cấp trong quản lý còn nặng nề)
điều này thể hiện mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA cha cao xét về
mặt cơ chế quản lý.
Quan trọng hơn nữa là khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa
Việt Nam và các nớc ASEAN (về thu nhập, bình quân trên đầu ngời, dự trữ
ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu t , trình độ công nghệ ) cho thấy sự cách
biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam là mối lo ngại cho quá trình hoà nhập,
trình độ công nghệ sản xuất nh hiện nay, đặc biệt trong các ngành chủ chốt
nh công nghệ chế biến, chế tạo máy còn ở mức yếu kém thì sẽ không đủ sức
để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trờng và có thể sẽ là nơi tiêu thụ hàng hoá của
các nớc ASEAN thậm chí có thể nhiều doanh nghiệp bị phá sản.
Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và các nớc ASEAN
là tơng đối giống nhau vì vậy có thể gây ra sự cạnh tranh trong khu vực,
trong việc thu hút đầu t, tìm kiếm thị trờng và công nghệ (ở mức độ khác
nhau) và còn phải nói đến sự cạnh tranh của Việt Nam và cả khối với Trung
Quốc trong lĩnh vực thơng mại lẫn thu hút đầu t nớc ngoài.
12
Ngoài ra, khó khăn lớn nhất mà Việt Nam sẽ phải đơng đầu trong quá
trình hội nhập sẽ là nhân tố về con ngời do trình độ kể cả cán bộ quản lý
kinh tế và của các doanh nhân còn cha đáp ứng đợc với nhu cầu đặt ra của
tình hình mới.
Môi trờng vĩ mô của Việt Nam cha đợc ổn định (trong đó có thủ tục
hành chính con ngời, cơ chế hạ tầng cơ sở) vẫn cha sẵn sàng hội nhập.
Một thách thức lớn nữa là cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam luôn
luôn bị nhập siêu trong khi đó có một số nớc trong khu vực mong muốn hội
nhập quốc tế nhanh hơn đó là: Singapo, Thái Lan, Inđônexia
1.2. chính sách thơng mại quốc tế và Nội dung đổi mới chính
sách thơng mại quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội
nhập khu vực ASEAN.
1.2.1. Các chính sách thơng mại quốc tế
1.2.1.1. Khái niệm về chính sách thơng mại, thơng mại quốc tế và
vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc .
* Khái niệm về chính sách thơng mại: Chính sách thơng mại là hệ
thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà nhà nớc áp dụng để điều
chỉnh hoạt động thơng mại trong một thời kỳ nhất định phù hợp với lợi ích
chung của xã hội. Nó là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã
hội của đất nớc. Có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Nó ảnh hởng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, cải tiến
cơ cấu kinh tế, đến quy mô và phơng thức của nền kinh tế quốc dân tham gia
vào phân công lao động và thị trờng quốc tế.
* Vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc: trong quá trình phát triển kinh
tế của đất nớc thì nhà nớc luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý
kinh tế đó là ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc, điều tiết kinh tế cả về
vi mô và vĩ mô để đa nền kinh tế nớc nhà đi đúng hớng.
* Chính sách thơng mại quốc tế : Chính sách thơng mại quốc tế là một
hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nớc áp
dụng quản lý, điều chỉnh các hoạt động thơng mại quốc tế của một quốc gia
13
trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt đợc các mục đích đã định trong chiến
lợc phát triển kinh tế - xã hội trong một quốc gia.
Việc tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch
quốc tế, đang đa lại nhiều lợi ích to lớn nhng với nhiều lý do khác nhau, mỗi
quốc gia có chủ quyền đều có chính sách thơng mại quốc tế riêng thể hiện ý
chí và mục tiêu của nhà nớc đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt
động thơng mại quốc tế có liên quan đến nền kinh tế quốc gia.
Chính sách thơng mại quốc tế của một quốc gia có ảnh hởng đến nhiều
quốc gia khác. Bởi vậy nó chịu ảnh hởng của nhiều nguyên tắc nhằm chống
lại sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia hợp tác
và buôn bán quốc tế.
Do môi trờng kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vì
mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách
thơng mại quốc tế của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứng với nhiều mục tiêu cụ
thể khác nhau của từng thời kỳ. Những mục tiêu chung của chính sách thơng
mại quốc tế là nhằm điều chỉnh các hoạt động thơng mại quốc tế theo chiều
hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong điều kiện
mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công lao động quốc tế.
14
* Nội dung của chính sách thơng mại quốc tế.
Chính sách thuế quan và hạn ngạch
Chính sách tài trợ xuất khẩu
Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu
Chính sách điều chỉnh về thể chế thơng mại
Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp
Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ
* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nớc quản lý và điều
tiết hoạt động thơng mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính
sách quản lý. Chính sách quản lý thơng mại quốc tế của nhà nớc là các nghị
định, quyết định, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về
lĩnh vực thơng mại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu .
* Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu là:
Chính sách quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về cơ chế giá cả
Chính sách quản lý về quota và giấy phép xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về tỷ giá hối đoái
Chính sách quản lý về đối tợng kinh doanh xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về thuế xuất nhập khẩu
15
Chính sách quản lý về cán cân thơng mại và cán cân thanh toán quốc tế
Chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuất khẩu.
1.2.1.2. Chính sách thuế xuất nhập khẩu
Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất nhập khẩu
hoặc quá cảnh.
Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo
đó ngời mua trong nớc phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản
lớn hơn mức mà ngời xuất khẩu ngoại quốc thu đợc.
Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có
liên quan. Nhng thuế xuất khẩu khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó
đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó
làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế vợt quá xa giá cả trong nớc
(chứ không phải ngợc lại), hay nói cách khác nó hạ thấp tơng đối mức giá cả
trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế.
Điều đó sẽ làm cho sản lợng trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu giảm
đi và sản xuất trong nớc sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này. Trong một số
trờng hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lợng xuất khẩu giảm
đi nhiêù mà vẫn có lợi nhiều cho nớc xuất khẩu. Vì vậy mà các nớc công
nghiệp phát triển hiện nay hầu nh không áp dụng thuế xuất khẩu. Còn thuế
nhập khẩu đợc áp dụng phổ biến ở các nớc, tuy rằng mức thuế có khác nhau.
Đơng nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làm cho giá trị hàng hoá
trong nớc vợt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính ngời tiêu dùng trong nớc
phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này. Bởi vậy, việc quy định tỷ lệ
thuế nhập khẩu luôn là đề tài quan tâm từ nhiều phơng diện.
Thuế xuất nhập khẩu tác động đến hoạt động xuất khẩu trong hai trờng
hợp sau:
Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu: Xem xét trong trờng hợp một nớc
nhỏ, khi không có thuế, nớc này sẽ sản xuất ở mức So, tiêu dùng ở mức Do
và cần phải nhập khẩu một khối lợng là Do-So (hình a). Nếu chính phủ đánh
thuế nhập khẩu, giá hàng hoá trong nớc sẽ tăng lên tới Pw(1+t), tiêu dùng sẽ
giảm xuống D1, sản xuất trong nớc sẽ tăng lên S1 và khối lợng nhập khẩu là
16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét