5
2. Chú ý:
Chú ý có chủ định còn yếu, chú ý không chủ định phát triển. Những
gì mang tính mới mẻ, rực rỡ, bất ngờ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý
của học sinh.
3. Trí nhớ:
- Trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ -
lôgic.
- Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế
- Học sinh không xác định được mục đích ghi nhớ, không biết tổ
chức việc ghi nhớ có ý nghĩa.
- Những thông tin mà học sinh được tiếp xúc từ nhiều giác quan sẽ
giúp các em ghi nhớ nhanh hơn và nhớ lâu hơn.
4. Tư duy:
- Tư duy cụ thể mang tính chất hình thức, dựa vào đặc điểm của đồ
dùng trực quan
- Học sinh thường dự vào những đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiện
tượng để khái quát hoá.
- Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu được tiến
hành khi tri giác trực tiếp các đối tượng trực quan.
* Kết luận
6
Từ những đặc điểm trên của học sinh Tiểu học về quá trình nhận
thức, khi dạy học Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, giáo viên
cần:
- Quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng trực quan khi dạy hình thành
kiến thức cho trẻ. Vì hình dạng, kiểu cách, màu sắc… của đồ dùng trực quan
dễ gây sự chú ý cho trẻ, giúp trẻ tri giác tốt, dễ nhớ và nhớ lâu.
Tuy nhiên những đặc điểm trên của học sinh tiểu học cũng lưuu ý
giáo viên không nên quá lạm dụng đồ dùng trực quan. Vì hình ảnh, màu sắc
loà loẹt của nó dễ lôi cuốn học sinh làm các em quên nhiệm vụ học tập của
mình. Hơn nữa, sử dụng trực quan quá nhiều sẽ không phát triển được trí
tưởng tượng, khả năng liên tưởng khái quát của học sinh.
- Tổ chức cho trẻ hoạt động. Vì khi tham gia hoạt động trẻ có điều
kiện tri giác bằng nhiều giác quan: mắt – nhìn, tai – nghe, miệng – nói, tay –
thao tác… Đây là cơ sở để tưu duy và ghi nhớ kiến thức.
- Giáo viên phải tạo cho học sinh tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn thủ
thuật ghi nhớ, chỉ ra những điểm quan trọng, có ý nghĩa để học sinh ghi nhớ.
- Việc trẻ ghi nhớ máy móc tốt là điều kiện để giáo viên dạy học
sinh học thuộc các bẳng nhân, chia. Đây là cơ sở để giáo viên tổ chức cho học
sinh học thuộc các bảng tính bằng cách đọc nhiều lần.
II. Một số vấn đề về phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở Tiểu học
7
“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vàp thựuc tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh.”
2. Yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học là:
“ Dạy học dựa trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của học
sinh. Thông qua hoạt động học tập này, học sinh được phát huy tính tích cực,
chủ động trong học tập, tự trải nghiệm khám phá, phát hiện vấn đề và tự
chiếm lĩnh kiến thức.”
3. Thực hiện định hướng trên trong việc dạy bài mới và dạy thực
hành luyện tập, giáo viên cần:
Trong dạy bài mới: Giúp học sinh:
- Tự phát hiện và giải quyết các vấn đề của bài học.
- Tự chiếm lĩnh tri thức mới
- Hướng dẫn học sinh cách thức phát hiện, chiếm lĩnh tri thức.
- Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã
học.
- Thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng ký
hiệu.
Trong dạy bài thực hành luyện tập: Giáo viên cần tổ chức và động viên
mọi học sinh tham gia vào hoạt động thực hành luyện tập.
8
- Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học và quy trình vân dụng
các kiến thức đó trong các dạng bài tập khác nhau.
- Giúp học sinh thực hành, luyện tập theo khả năng của mình. Chấp
nhận thực tế: có những học sinh làm ít hơn hay nhiều hơn số lượng bài tập
đưa ra.
- Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau giữa các đối tượng hợc sinh
- Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành luyện tập
- Tập cho học sinh thói quen không thoả mãn với bài làm của mình,
với các cách giải mã đã có.
Tóm lại, cần thông qua các hoạt động thực hành, luyện tập làm cho các
em thấy học không chỉ để biết, để thuộc mà còn để làm, để vận dụng.
4. Giới thiệu một số phương pháp dạy học thường được sử dụng
trong dạy học Toán ở Tiểu học:
Căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, đặc điểm
ccá kiến thức Toán học và phương pháp nhận thức Toán học, các phương
pháp dạy học thường được sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học gồm:
phương pháp trực quan, phương pháp thực hành – luyện tập, phương pháp gợi
mở – vấn đáp, phương pháp giảng giải – minh hoạ.
Bên canh đó, để thực hiện định hướng đổi mới phương pháp dạy
học Toán ở Tiểu học, hiện nay người ta chú trọng sử dụng các phương pháp
dạy học theo phương hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học (các phương pháp này gọi chung bằng thuật nhữ “phương pháp tích
cực”.)
9
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÉP
NHÂN, PHÉP CHIA CÁC SỐ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH GIÁO
KHOA TOÁN LỚP 3
I. Mục tiêu dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3
Giúp học sinh:
- Học thuộc các bảng tính nhân 6, 7, 8, 9; bảng chia 6, 7, 8, 9.
- Hoàn thiện bảng nhân, bảng chia.
- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong các trường
hợp đơn giản, thường gặp về nhân, chia.
- Biết thực hiện phép nhân số có 2, 3, 4, 5 chứ số có 1 chữ số; phép
chia số có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số (chia hết hoặc chia có dư)
- Biết tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính (hoặc
không có dấu ngoặc).
- Biết tìm một thành phần chưa biết trong phép tính.
* Thông qua việc dạy học phép nhân, phép chia ở lớp 3 giúp học sinh:
- Phát triển khả năng tư duy: so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp,
trìu tượng hoá, khái quát hoá.
- Diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng thông tin.
- Tập phát hiện, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới.
10
- Chăm chỉ, cẩn then, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành
toán.
II. Nội dung dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên trong
chương trình toán lớp 3
Phép tính Biểu
thức
Bài
tập
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4,
5 (tích không quá 50).
- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9
(tích không quá 100) và các bảng chia cho
6, 7, 8, 9 (số bị chia không quá 100)
- Hoàn thiện các bảng nhân và các
bảng chia.
- Nhân, chia ngoài bảng:
+ Nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số với số
có 1 chữ số (có nhớ không quá 2 lần liên
tiếp và tích không quá 100 000).
+ Chia số có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số
có 1 chữ số ( chia hết và chia có dư)
- Thực hành tính nhẩm, chủ yếu
trong phạm vi các bảng tính: nhân số tròn
nghìn với số có 1 chữ số (không nhớ); chia
- Tính
giá trị của các
biểu thức số có
hai dấu phép
tính, có hoặ
không có dấu
ngoặc
- Giải
các bài tập
dạng
“ Tìm
x, biết a : x =
b (với a, b là
các số trong
phạm vi đã
học)
11
số tròn nghìn, tròn chục nghìn cho số có 1
chữ số và chia hết.
Như vậy: Các biện pháp nhân, chia ngoài bảng được xây dựng trên
cơ sở những kiến thức và kỹ năng về: cấu tạo thập phân của số; tính chất phân
phối của phép nhân và chia đối với phép cọng; các bảng nhân, chia; quan hệ
giữa nhân và chia. Do đó mỗi khi học mỗi biện pháp tính nên ôn lại các tính
chất liên quan để xây dựng nó.
Yêu cầu cơ bản để dạy các biện phép nhân, phép chia ngoài bảng
và chủ yếu là nắm được thuật tính và thực hành tính thông thạo. Vì vậy
phương pháp chung được sử dụng là giáo viên hướng dẫn và thực hiện trực
tiếp trên ví dụ cụ thể. Từ đó khái quát thành các bước thực hiện.
III. Một số lưu ý về phương pháp dạy học các nội dung về phép
nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3
Qua việc tìm hiểu nội dung , phương pháp dạy học các nội dung về
phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, tôi thấy: Để dạy tốt các nội
dung này, giáo viên cần lưu ý những điều sau:
1. Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:
Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều
có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu
nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Vì vậy, khi dạy học các bài học
trong giai đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm
cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:
12
- Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài
“Phép nhân”. ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo
viên phải lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp
học sinh học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bẳng
nhân (nhất là các bảng nhân đầu tiên).
- Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân
trước khi học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia. Giáo viên lưu ý học
sinh phải thuộc bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia
đều được xây dựng từ các bảng nhân tương ứng.
- Việc nhân chia trong bảng thành thạo cũng là cơ sở để học sinh
học tốt nhân, chia ngoài bảng.
2. Về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập
bảng nhân, bảng chia:
Kĩ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên
các tấm bìa có các chấm tròn. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất
quan trọng. Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn:
- Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia
6, 7, 8, 9. Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các
miếng bìa với số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây
dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận
thức của học sinh phát triển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học
sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử
dụng các đồ dùng học tập nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức
độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh.
Chẳng hạn:
13
Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà
chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4
phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép
đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.
VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu
học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép
tính:
6 x 1 = 6
6 x 2 = 12
6 x 3 = 18
Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 =
18. Cụ thể là: Với 3 tấm bìa
Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”
Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6
Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18
Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm
được kết quả của phép tính:
6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24
6 x 5 = 6 x 4 + 6 …
Hoặc dựa trên bảng nhân đã học:
6 x 4 = 4 x 6 = 24
14
6 x 5 = 5 x 6 …
Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý,
đúng mức để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển
tư duy.
3. Về phương pháp nhân, chia ngoài bảng:
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là làm mẫu trên các ví dụ cụ
thể. Từ đó phương pháp hướng dẫn học sinh cách đặt tính và tính. Đối với
những trường hợp cần lưu ý như: phép chia có chữ số 0 ở thương, ước lượng
thương chưa hết, nhớ khi nhân chưa đúng … giáo viên thường đưa ra các bài
tập dưới dạng Test để lưu ý học sinh cách làm đúng.
Tóm lại: Với nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở
lớp 3, để hình thành kiến thức mới cho học sinh thì phương pháp chủ yếu là
trực quan kết hợp làm mẫu; để rèn kỹ năng thì phương pháp chủ yếu là thực
hành – luyện tập. Tuy nhiên, trong quá trình học sinh thực hành luyện tập,
giáo viên phải tăng dần mức độ, yêu cầu, độ khó của bài tập; tạo điều kiện
cho học sinh tự huy động kiến thức sẵn có để làm bài; đồng thời rèn cho học
sinh khả năng tự kiểm tra, đánh giái mình và đánh giá lẫn nhau.
Như vậy, khi sử dụng phương pháp dạy học phép nhân, phép chia
số tự nhiên ở lớp 3 người ta đã quan tâm đến đặc điểm nhận thức của học sinh
(tư duy cụ thể phát triển hơn tư duy trừu tượng, tri giác bằng nhiều giác
quan…) và đã có sử dụng các phương pháp dạy học kích thích tư duy trừu
tượng, khả năng so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá … cho học sinh.
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÉP NHÂN, PHÉP
CHIA CÁC SỐ TỰ NHIÊN Ở LỚP 3
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét