Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

517 Phát triển dịch vụ tài chính của ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thời kì hậu WTO


5

phải chuẩn bò gì để không bò đẩy ra ngoài cuộc chơi? Phát triển dòch vụ ngân
hàng như thế nào để đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế của cả
nước nói chung, của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng , vừa phải đảm bảo hoạt
động ngân hàng an toàn, hiệu quả? Phát triển dòch vụ ngân hàng như thế nào để
đảm bảo nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng đồng thời đảm bảo yêu
cầu chuẩn mực hội nhập kinh tế quốc tế? Đó là những câu hỏi cần phải đi tìm
lời giải đáp.
Với mong muốn tìm một lời giải đáp, góp phần nâng cao chất lượng dòch
vụ tài chính ngân hàng thương mại, đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài trên đòa bàn thành phố thời kỳ hậu WTO, tác giả chọn đề tài : “Phát triển
dòch vụ tài chính của ngân hàng thương mại trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
thời kỳ hậu WTO ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp cao học kinh tế. Hy vọng đề
tài sẽ góp phần nhỏ giúp cơ quan hữu quan của thành phố đònh hướng và có cơ
sở giải quyết các vấn đề về hoạt động dòch vụ tài chính ngân hàng trong giai
đoạn mới.
2. Tình hình nghiên cứu.
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu , đã có một số công trình, một số sách
và các cuộc hội thảo, bài viết bàn về các khía cạnh khác nhau như nâng cao
năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam, xây dựng thương hiệu
cho các ngân hàng thương mại, nâng cao hoạt động tín dụng, hoạt động thanh
toán…. Các bài viết, đề tài có thể khai thác, kế thừa đó là:
- Phát triển thò trường dòch vụ tài chính Việt Nam trong tiến trình hội
nhập – Tác giả PGS-TS Thái Bá Cần – Nhà xuất bản Tài Chính – Năm 2004


6

- Những hạn chế và thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tác giả Đoàn Ngọc Phúc – bài viết đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 6 tháng 6 năm 2006.
- Hệ thống ngân hàng Việt nam: đặc điểm và một số dòch vụ cơ bản , tác
giả Nguyễn Hồng Sơn – bài viết đăng trên tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới
số 11 tháng 11 năm 2005.
- Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt nam trong xu
thế hội nhập – tác giả PGS-TS Nguyễn Thò Quy – Trường đại học ngoại thương.
- Các bài viết của các tác giả trong thông tin nghiên cứu của trang Web
WWW.tapchiketoan.com.vn bàn về phát triển hoạt động dòch vụ ngân hàng trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương trình mục tiêu lộ trình phát triển dòch vụ ngân hàng trên đòa
bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2010 của ngân hàng nhà nước chi
nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các nghò quyết của Đảng bộ thành phố gần đây cũng bàn nhiều về
phương hướng, giải pháp phát triển dòch vụ ngân hàng trong thời kỳ mới đáp ứng
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, để có những giải pháp cơ bản, sâu sắc, sát với tình hình thực
tế của dòch vụ ngân hàng của thành phố thời kỳ hậu WTO thì chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách căn bản, hệ thống. Hơn nữa, đây lại là vấn đề đang đặt
ra cấp thiết. Chính vì vậy, tác giả tiếp cận và lựa chọn chủ đề đi sâu vào giải
pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dòch vụ ngân hàng thương mại trên đòa
bàn thành phố thời kỳ hậu WTO.
3. Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu.


7

Trên cơ sở lý thuyết về phát triển dòch vụ ngân hàng thương mại, đế tài
phân tích thực trạng, cơ hội, thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại trên
đòa bàn thành phố, từ đó đưa ra được những giải pháp cơ bản nhằm phát triển
dòch vụ ngân hàng thời kỳ hậu WTO.
Nhiệm vụ:
- Trình bày luận cứ khoa học và thực tiễn về sự phát triển dòch vụ tài
chính ngân hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện
nay.
- Điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống NHTM trên đòa bàn
thành phố , tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân của những hạn
chế yếu kém, những bài học kinh nghiệm trong phát triển dòch vụ tài chính ngân
hàng giai đoạn 2001-2006.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển dòch vụ tài chính ngân
hàng đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
4. Nội dung đề tài:
Nội dung của đề tài được thể hiện qua kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dòch vụ tài chính của ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.2. Các sản phẩm dòch vụ tài chính của NHTM
1.3.Một số yếu tố cơ bản về cạnh tranh và phát triển dòch vụ tài chính hậu WTO
1.4. Ý nghóa của phát triển dòch vụ tài chính.
1.5. Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển dòch vụ tài chính
Chương 2: Thực trạng hoạt động dòch vụ tài chính ngân hàng thương mại
trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2006


8

2.1. Tình hình và chủ trương hoạt động của ngân hàng thương mại trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Thực trạng hoạt động và phát triển các dòch vụ tài chính của NHTM
khu vực thành phố Hồ Chí Minh những năm vừa qua.
2.3. Kinh nghiệm bước đầu và những vấn đề đang đặt ra.
Chương 3 : Một số giải pháp phát triển dòch vụ tài chính ngân hàng thương
mại trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO
3.1. Các căn cứ đề xuất giải pháp phát triển dòch vụ tài chính NHTM trên
đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO.
3.2.Một số giải pháp cơ bản phát triển dòch vụ tài chính của ngân hàng
thương mại trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO
3.3. Những kiến nghò với cơ quản lý vó mô
5. Phương pháp nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở của phương pháp luận của chủ nghóa duy vật biện chứng
và chủ nghóa duy vật lòch sử để nghiên cứu.
Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, điều tra xã hội học,
phỏng vấn, thu thập tư liệu trong phòng, phân tích, kế thừa, tổng hợp để đưa ra
những kết luận theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
6. Điểm mới của đề tài.
Đề tài đã phân tích tương đối toàn diện thực trạng dòch vụ tài chính ngân
hàng thương mại trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đã đưa ra những giải
pháp thiết thực có tính chiến lược lâu dài cũng như những giải pháp cần làm
ngay sát với tình hình kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu
WTO. Những đóng góp của đề tài là những tư liệu để tham khảo thiết thực giúp
cho các cơ quan hữu quan nghiên cứu và vận dụng.


9

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại là gì?
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một sản phẩm được hình thành và
phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Hoạt động của
NHTM trong lónh vực tiền tệ và dòch vụ ngân hàng được coi là một loại đònh
chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thò trường. Cùng với sự phát triển của kinh
tế thò trường, hệ thống NHTM ngày càng được hoàn thiện, hoạt động của NHTM
đã và đang góp phần to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Theo Thomas P.Fitch : “Tổ chức ngân hàng là một công ty nhận tiền
gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc và thực hiện dòch vụ liên quan cho công
chúng…. NHTM đầu tư quỹ từ các người gửi tiền để cho vay”
1
.
- Trong cuốn sách “Tiền tệ ngân hàng” do phó giáo sư tiến só Nguyễn
Đăng Dờn chủ biên xuất bản tháng 9 năm 2005 có đònh nghóa: “NHTM là loại
ngân hàng giao dòch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá
nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay,
chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dòch vụ ngân hàng
cho các đối tượng nói trên”
2
.
NHTM có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Trong các hoạt
động của nền kinh tế đều có mặt của NHTM đã chứng minh rằng ở đâu có một
hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao.

1
Thomas Pfitch, Dictionnary of Bangking terms, barron’s Educational Series, Inc, 1997
2
Sđd trang 126


10

- Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam sửa đổi, điều 20 khoản 2 và
khoản 7 có khái niệm: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
“hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng với
nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,
cung ứng các dòch vụ thanh toán”.
Tóm lại, NHTM là một đònh chế tài chính trung gian quan trọng vào loại
bậc nhất trong nền kinh tế thò trường. Nhờ hệ thống đònh chế tài chính trung gian
này mà nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung
lại để phát triển kinh tế xã hội thông qua các dòch vụ về tiền tệ, tín dụng, thanh
toán và các dòch vụ tài chính khác của ngân hàng.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế thò trường và hệ thống ngân hàng phát
triển, các ngân hàng thương mại thực hiện 3 chức năng sau đây:
* Trung gian tín dụng:
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM ,
nó không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính
yếu của NHTM. Thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là người trung
gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế , biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn
kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của
xã hội.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, các NHTM thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vò kinh tế, các tổ
chức , cá nhân.


11

- Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân.
- Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội .
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các đơn vò và cá nhân.
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn vò, cá nhân.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng này mà các NHTM huy động và
tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền
nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích luỹ trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế.
* Trung gian thanh toán:
NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dòch thanh
toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán… để hoàn tất các quan hệ
kinh tế thương mại giữa họ với nhau.
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM trở thành người thủ
quỹ và là trung tâm thanh toán của xã hội. Thực hiện chức năng này cho phép
làm giảm bớt khối lượng tiền mặt lưu hành, tăng khối lượng thanh toán bằng
chuyển khoản, giảm bớt chi phí cho xã hội về in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền
tệ… góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền hàng, tạo điều kiện thúc đẩy
kinh tế xã hội phát triển.
* Cung ứng dòch vụ ngân hàng:
Dòch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ
thuần tuý để hưởng hoa hồng và dòch vụ phí mà dòch vụ ngân hàng còn có tác
dụng hỗ trợ các hoạt động chính của NHTM.
1.2. Các sản phẩm dòch vụ tài chính của ngân hàng thương mại
1.2.1. Sản phẩm dòch vụ tài chính?
Dòch vụ tài chính là một khái niệm mới, và cũng chưa có một đònh nghóa
thống nhất. Tuy nhiên do tính chất quan trọng của nó đối với phát triển kinh tế ,
nhất là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì cần có


12

cách hiểu chung và thống nhất, từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong việc nghiên
cứu, tìm giải pháp cho sự phát triển lónh vực này trong thời gian tới.
Thò trường dòch vụ tài chính là một khái niệm mới do tổ chức thương mại
thế giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành
viên WTO trong hoạt động thương mại dòch vụ. Theo WTO:: “Một dòch vụ tài
chính là bất kỳ dòch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dòch
vụ tài chính cung cấp. Dòch vụ tài chính bao gồm mọi dòch vụ bảo hiểm và dòch
vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dòch vụ ngân hàng và dòch vụ tài chính khác
(ngoại trừ bảo hiểm)”
1
.
Theo GATS: Các dòch vụ tài chính ngân hàng là: Nhận tiền gửi, cho vay,
cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán, thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết,
mua bán các công cụ thò trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền
tệ, quản lý tài sản, dòch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông
tin tài chính, dòch vụ tư vấn và trung gian, hỗ trợ tài chính.
Trong bảng danh mục phân loại các dòch vụ theo khu vực của WTO thì
dòch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dòch vụ.
Trong dòch vụ tài chính có tất cả dòch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm,
các dòch vụ ngân hàng và dòch vụ tài chính khác. Như vậy, dòch vụ ngân hàng là
một bộ phận cấu thành trong dòch vụ tài chính nói chung.
Nói đến dòch vụ ngân hàng, người ta thường gắn nó với hai đặc điểm:
Thứ nhất: đó là các dòch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế
của nó mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Thứ hai: Đó là các dòch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không
những cho phép NHTM thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ

1
PGS-TS Thái Bá Cần - Phát triển thò trường dòch vụ tài chính Việt nam trong tiến trình hội nhập –
NXB Tài chính – 2004 – trang 21


13

trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và trung
gian thanh toán của NHTM
1
.
Như vậy, chúng ta có thể cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng dòch
vụ tài chính cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dòch
vụ ngân hàng trong dòch vụ tài chính của WTO và hiệp đònh thương mại Việt –
Mỹ cũng như nhiều nước phát triển khác.
Nhìn nhận một cách tổng thể thì các NHTM hoạt động kinh doanh trên
3 mảng nghiệp vụ lớn : Nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụng và đầu tư, và
nghiệp vụ kinh doanh dòch vụ ngân hàng. Mỗi nghiệp vụ đều có một vò trí và tác
dụng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ
NHTM nào đó là đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất
thông qua các sản phẩm dòch vụ mà ngân hàng mang lại cho khách hàng. Sản
phẩm dòch vụ tài chính của NHTM gồm 2 loại: sản phẩm dòch vụ tài chính
truyền thống và sản phẩm dòch vụ tài chính hiện đại.
1.2.2 Dòch vụ tài chính ngân hàng truyền thống
Khi nói đến dòch vụ tài chính ngân hàng truyền thống của ngân hàng,
chúng ta thường ngụ ý nói đến hoạt động của các sản phẩm đã thực hiện trong
nhiều năm trên nền công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng. Có thể kể đến
một số sản phẩm dòch vụ truyền thống của ngân hàng như sau:
* Dòch vụ huy động vốn: Các NHTM triển khai dòch vụ huy động vốn
trong tất cả các thành phần kinh tế để nhận tiền gửi và bảo quản hộ người gửi
tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Vốn huy động theo tính chất được phân loại
thành 2 nhóm:

1
Sđd trang 141


14

- Nhóm 1: Vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của
các tổ chức kinh tế cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng
khác. Với loại tiền gửi này khách hàng có thể linh hoạt sử dụng , được lập thư
chuyển tiền, phát hành séc rút tiền từ tài khoản một cách tự do. Các chủ tài
khoản gửi tiền vào tài khoản không nhằm mục đích hưởng lãi, mả nhằm phục
vụ nhu cầu giao dòch thanh toán cho chính mình. Do đó đối với loại sản phẩm
dòch vụ này ngân hàng cần phải có những thủ tục nhanh chóng, thuận lợi, an
toàn thì khả năng thu hút khách hàng càng cao.
- Nhóm 2: Vốn huy động đònh kỳ, gồm tiền gửi đònh kỳ, tiền gửi tiết
kiệm của cá nhân, tổ chức , tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu… Đặc điểm của
loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong
điều kiện bình thường các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước
kỳ hạn. “Đối với vốn huy động đònh kỳ, người gửi tiền có mục đích xác đònh là
hưởng lãi, vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, chứ không đòi
hỏi hệ thống dòch vụ hiện đại như đối với nguồn vốn hoạt kỳ”
1
. Với lý do đó
các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất để thu hút nguồn vốn này. Cạnh
tranh lãi suất trở thành một trong những loại cạnh tranh hợp lý và gay gắt trong
giai đoạn hội nhập hiện nay, ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, khuyến mãi
nhiều hơn, tiếp thò tốt hơn thì sẽ có lợi thế trong việc thu hút tiền gửi của khách
hàng.
* Dòch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Việc ngân hàng
mua các thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán gọi
là chiết khấu. Nghiệp vụ chiết khấu giúp các chủ sở hữu chứng từ khôi phục
năng lực thanh toán. Đây là nghiệp vụ được ưa chuộng không những đối với

1
Sđd trang 148

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét