Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

52 Sự phát triển của kiểm toán nội bộ Việt Nam và những yêu cầu đối với KTNB chuyên nghiệp

toán, kiểm soát kế toán, các lĩnh vực tài chính và phi tài chính, phục vụ cho
Hội đồng giám đốc và Ủy ban Kiểm toán.
KTNB hoạt động có hệ thống hơn khi Viện Kiểm toán nội bộ ( viết tắt là
IIA- Insitute of Internal Auditors) được thành lập năm 1941với 25 hội viên.
Đầu năm 1970, IIA bắt đầu việc đào tạo và cấp chứng chỉ Kiểm toán viên nội
bộ. Và đến năm 1978, IIA ban hành chuẩn mực thực hành cho KTNB đánh
dấu bước phát triển quan trọng trong KTNB. Một minh chứng khẳng định vị
trí vững vàng và sự lớn mạnh của nghề KTNB là hiện nay, IIA có trên 150000
hội viên tại 165 quốc gia, trong đó có khoảng 65000 hội viên có chứng chỉ
KTVNB.
Không thể không nhắc đến các vụ gian lận tài chính ở Công ty
Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật
Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002 ( Luật này quy định các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ
thống kiểm soát nội bộ công ty) đã thúc đẩy KTNB càng phát triển nhanh, các
KTVNB cũng có những kĩ năng nghề nghiệp cần thiết để giúp các doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả.
2. Bản chất và ý nghĩa của KTNB
Qua mỗi thời kỳ phát triển lại có thêm nhiều quan điểm về hoạt động
KTNB, nhưng ở đây xin đưa ra hai định nghĩa tiêu biểu như sau:
Định nghĩa thứ nhất, theo Viện Kiểm toán Nội bộ ( IIA ): “Kiểm toán nội bộ
là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế
nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ
chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống
và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro”.
( web: kiemtoan.com.vn)
3
Thứ hai, trong Các chuẩn mực Hành nghề KTNB ban hành năm 1978, “
KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ
chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một
sự trợ giúp đối với tổ chức đó”. ( Kiểm toán nội bộ hiện đại – đánh giá các
hoạt động và hệ thống kiểm soát- NXB Tài chính 2000).
Theo tôi, cách diễn đạt đầu tiên bao hàm đầy đủ hơn cả về phạm vi, tính
độc lập, nội dung, vai trò, và phương thức hoạt động của KTNB.
+ Về phạm vi, được chỉ ra rõ ràng ở cả hai khái niệm, công việc KTNB
do tổ chức và nhân viên trong tổ chức tiến hành.
+ Về Tính độc lập của KTNB thể hiện trong cụm từ “ độc lập” nói lên
rằng công việc KTNB không bị những ràng buộc có thể làm hạn chế đáng kể
phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra, hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những
phát hiện và kết luận trong việc đánh giá các hoạt động của Ban Giám đốc và
nhân viên.
+ Nội dung : đánh giá và tư vấn cho nhà quản lý. Điều này sẽ phản ánh
đúng và đầy đủ hơn định nghĩa thứ hai đưa ra : là một chức năng thẩm định,
chỉ thẩm định thôi thì chưa phản ánh rằng sau khi đã đánh giá, KTNB sẽ đưa
ra những kiến nghị cho người điều hành, và những kiến nghị đó mới thực sự
phản ánh chất lượng của hoạt động KTNB.
+ Định nghĩa thứ hai cũng không thể hiện được vai trò cải tiến và làm
tăng giá trị cho hoạt động của tổ chức, không chỉ ra cách thức cụ thể để
KTNB thực hiện vai trò ấy là: đánh giá và cải tiến một cách hệ thống, chuẩn
tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro mà chỉ thể
hiện rất chung chung vai trò đó là: một sự trợ giúp.
Từ hai định nghĩa đã đưa ra, có thể thừa nhận rằng KTNB là một hoạt
động kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của
những kiểm soát khác, kết quả là nêu ra căn cứ cải tiến và các kiến nghị cải
4
tiến cho những người có trách nhiệm. KTNB là một dạng đặc biệt của nghề
kiểm toán (bên cạnh kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước), mà “khách
hàng” duy nhất là chính công ty mình đang làm việc.
3. Vai trò, chức năng của KTNB hiện đại
Theo quan điểm trước đây, KTNB chịu trách nhiệm kiểm toán báo cáo
tài chính và tập trung vào công tác kiểm tra kế toán, thông tin tài chính của
công ty. Tuy nhiên vai trò của KTNB hiện đại được mở rộng, bao gồm công
tác kiểm toán tính hiệu quả và tính tuân thủ của mọi hoạt động cũng như tư
vấn hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp.
• Vai trò trong kiểm soát nội bộ:
Hướng đi chủ yếu của KTNB là cải thiện hoạt động của hệ thống Kiểm
soát nội bộ. CICA ( Viện kế toán viên công chứng Canada ) định nghĩa về hệ
thống KSNB theo quan điểm của kiểm toán quản lý như sau: “ Kiểm soát nội
bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các hệ thống phối hợp do nhà quản
lý của doanh nghiệp xây dựng để nhằm trợ giúp đạt được các mục tiêu quản
lý cho tới việc thực hành, tính tuân thủ và hiệu quả của hoạt động kinh doanh,
bao gồm cả đảm bảo an toàn cho tài sản, tính trung thực của những ghi chép
kế toán, tính đúng kỳ và sự trung thực của thông tin tài chính…” Như vậy,
KSNB được nhận diện chung như một quy trình, hiệu quả hoạt động của
BGĐ, nhà quản lý, và nhân viên khác của một tổ chức, các thiết kế để đưa ra
những bảo đảm hợp lý cho các mục tiêu đạt được trong các loại KSNB sau:
- Tính hiệu quả, hiệu năng của các hoạt động
- Tính trung thực của các BCTC
- Tính tuân thủ luật pháp và quy định
Ban quản lý chịu trách nhiệm về KSNB. Nhà quản lý thiết lập nên những
quy tắc và quy trình nhằm giúp tổ chức đạt được các mục tiêu cụ thể trong hệ
thống mục tiêu chung. KTVNB tiến hành Kiểm toán để đánh giá xem những
5
quy tắc, quy trình được thiết kế và thực hiện có hiệu quả hay không và đưa ra
những kiến nghị để cải thiện chúng.
• Vai trò trong quản lý rủi ro:
Những tiêu chuẩn KTNB chuyên nghiệp quy định chức năng điều hành
và đánh giá hiệu quả quy trình quản lý rủi ro của tổ chức. Quản lý rủi ro mô tả
cách thức một tổ chức thiết lập các mục tiêu, sau đó nhận dạng, phân tích, và
đối phó lại với những rủi ro có ảnh hưởng tiềm tàng đối với khả năng đạt
được mục tiêu của quản lý: Những rủi ro thuộc về các chiến dịch, hoạt động,
báo cáo tài chính và hệ thống luật hoặc quy định. Nhà quản lý thực hiện các
hoạt động đánh giá rủi ro như một phần trong tiến trình bình thường của hoạt
động kinh doanh trong mỗi loại đó. Các ví dụ bao gồm: kế hoạch chiến lược,
kế hoạch marketing, kế hoạch đầu tư, ngân quỹ, hoạt động vay nợ Luật
Sanbanes-Oxley cũng yêu cầu mở rộng quy trình đánh giá rủi ro của BCTC.
Hướng dẫn pháp luật thống nhất thường đặt ra những đánh giá toàn diện về
chiều hướng và khả năng mâu thuẫn tiềm tàng trong các mặt của một công ty.
Các KTVNB có thể đánh giá mỗi hoạt động hoặc tập trung vào các quá trình
mà nhà quản lý sử dụng để tường thuật và giám sát các rủi ro nhận biết được.
Chẳng hạn các KTVNB có thể đưa ra lời khuyên cho nhà quản lý về việc báo
cáo những phương pháp hoạt động tiên tiến cho Hội đồng.
Trong các công ty lớn hơn, những giải pháp mang tính chiến lược lớn
được thi hành để đạt các mục tiêu và tạo ra những thay đổi. Là một thành viên
của Ban quản trị cấp cao, Trưởng ban kiểm toán (CAE) có thể tham gia vào
những vị trí mới trong các giải pháp ấy. Điều đó đặt Trưởng Ban kiểm toán
vào vị trí phải báo cáo những mặt tổ chức rủi ro chủ yếu cho UBKT hoặc đảm
bảo rằng những thông tin của nhà quản trị là có hiệu quả cho mục tiêu đó.
• Vai trò trong sự quản lý của tổng công ty
Hoạt động KTNB gắn liền với sự quản lý của liên hiệp công ty một cách
gần gũi và trọn vẹn chủ yếu thông qua việc tham gia vào các cuộc họp và thảo
6
luận của BGĐ. Sự quản lý của tổng công ty là sự kết hợp của các quy trình và
cơ cấu tổ chức được thi hành bởi BGĐ để thông tin, hướng dẫn, quản lý và
giám sát các nguồn lực, các chiến lược, các chính sách nhằm đạt được mục
tiêu của tổ chức. KTVNB thường được xem là một trong bốn trụ cột trong sự
quản lý của tổng công ty, các trụ cột khác là BGĐ và các KTV bên ngoài.
Phạm vi trọng tâm chủ yếu của KTNB khi nó gắn với sự quản lý của liên
hiệp công ty là giúp UBKT của BGĐ thể hiện những trách nhiệm của nó một
cách hiệu quả. Điều này bao gồm việc báo cáo những vấn đề kiểm soát nội bộ
then chốt, thông tin một cách kín đáo cho UB về năng lực của những nhà
quản lý chính, đề xuất những vấn đề và chủ đề cho các cuộc họp bàn của
UBKT, kết hợp cẩn thận với KTV bên ngoài và nhà quản lý để đảm bảo rằng
UB nhận được những thông tin hiệu quả.
• Chức năng của hoạt động KTNB
Vậy cụ thể là KTNB xem xét,đánh giá những gì ? Trích dẫn trong các
Chuẩn mực hành nghề KTNB (SPPIA) số 300, phạm vi công việc là “xem xét
tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức và chất
lượng thực thi trách nhiệm được giao”. Như vậy mục đích của KTNB là xác
định sự tồn tại và có hiệu lực của hệ thống KSNB đồng thời xác định việc
thực hiện các mục tiêu của tổ chức, từ đó hỗ trợ Ban Giám đốc đạt được mục
tiêu kinh tế, hiệu quả và hiệu năng trong sản xuất- kinh doanh Hoạt động
đánh giá hệ thống KSNB sẽ dựa theo các mục tiêu của hệ thống này mà tiến
hành. Các mục tiêu đó là : tính trung thực và đầy đủ của các thông tin tài
chính, tính trung thực của những ghi chép kế toán; tính tuân thủ, tính kinh tế
và hiệu quả của hoạt động kinh doanh; bảo vệ tài sản vì thế KTNB hiện đại
thực hiện hai chức năng chính như sau:
+ Chức năng kiểm tra, xác minh các thông tin tài chính: là xác định rằng
các sổ sách, BCTC có chính xác, đáng tin cậy, kịp thời, hoàn chỉnh và hữu ích
7
không ; việc kiểm soát sổ sách ghi chép và báo cáo có đầy đủ và có hiệu lực
không.
+ Chức năng kiểm tra hiệu quả, hiệu năng của các hoạt động: chức năng
này hướng vào thẩm tra tính tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp
luật, quy định ;đánh giá tính tiết kiệm ( thể hiện bằng kết quả đạt được với
nguồn lực sử dụng ít nhất ), tính hiệu quả ( sử dụng nguồn lực một cách tối
ưu), tính hiệu năng ( có đạt được mục tiêu, mục đích đặt ra không ) của các
chương trình, hoạt động.
Trong đó chức năng thứ hai là chủ yếu. Việc đánh giá phải dựa vào đặc
điểm riêng của từng hoạt động. Kiểm toán không kết thúc với báo cáo các
phát hiện kiểm toán mà mở rộng đưa ra các kiến nghị cho các cá nhân, tổ
chức yêu cầu kiểm toán.
4. Sơ lược về một quy trình kiểm toán
Dựa trên đánh giá rủi ro của tổ chức, các KTVNB, nhà quản lý, các ban
giám sát quyết định tập trung các nỗ lực KTNB vào đâu. Hoạt động KTNB
thường được tiến hành như một hoặc nhiều kế hoạch. Một quy trình KTNB
điển hình gồm các bước sau:
- Thiết lập và thông tin kế hoạch và những mục tiêu KT tới nhà quản lý
thích hợp
- Trình bày những hiểu biết về phần kinh doanh dưới sự giám sát. Bao
gồm các mục tiêu, những khuôn khổ, và các loại nghiệp vụ then chốt. Nó đòi
hỏi phải rà soát lại tài liệu và phỏng vấn. Có thể tạo ra các biểu đồ tiến độ hay
các bảng tường thuật nếu cần thiết.
- Nhận biết các thủ tục kiểm soát để đảm bảo mỗi nghiệp vụ then chốt
được kiểm soát và giám sát đúng đắn
8
- Triển khai và thực hiện việc chọn mẫu rủi ro và phương pháp nghiên
cứu để xác định các kiểm soát quan trọng nhất có đang được thi hành như
mong đợi hay không.
- Báo cáo các vấn đề được nhận biết và thảo luận, dàn xếp với ban quản
lý để xác định nguyên nhân, tiếp tục tìm hiểu gián tiếp trong những phạm vi
thích hợp. Các ban KTNB duy trì những cơ sở dữ liệu tiếp theo cho mục tiêu
này.
Độ dài của kế hoạch phụ thuộc vào sự phức tạp của hoạt động được kiểm
toán và nguồn lực sẵn có của KTNB. Nhiều bước trong số các bước trên bị
lặp lại và có thể tất cả không xuất hiện theo một tiến trình đã được chỉ ra.
Thêm vào quá trình đánh giá hoạt động kinh doanh, có những chuyên gia
( được gọi là các Kiểm Toán công nghệ thông tin ) rà soát các kiểm soát công
nghệ thông tin.
5. Những yêu cầu đối với KTNB
Trong giới hạn phạm vi đề tài, ở đây tôi chỉ đưa ra một số ý kiến về các
công việc mà KTVNB thực hiện và tiêu chuẩn chung dành cho một KTVNB.
Do được tiếp cận với tất cả các lĩnh vực hoạt động của tổ chức để thực hiện
chức năng kiểm tra, phân tích, đánh giá và tư vấn, vô hình trung, KTVNB có
được vị thế mà nhân viên ở những bộ phận khác trong tổ chức không có được.
Vì thế, khi hoạt động KTNB ngày càng hoàn thiện và phát triển thì phòng
KTNB chính là một môi trường thực hành lý tưởng để đào tạo các giám đốc
công ty trong tương lai. Thực tế chứng minh, nhiều tập đoàn đa quốc gia trên
thế giới đã sử dụng phòng KTNB như là nơi ươm mầm và rèn luyện các tài
năng lãnh đạo của mình.
KTVNB là một nghề đòi hỏi kỹ năng và đạo đức rất cao. Vì thế chỉ khi
người làm KTNB có đủ tính chuyên nghiệp và chứng nhận đào tạo bài bản, có
thâm niên thực tế thì năng lực và danh hiệu mới được công nhận.
9
KTVNB thực hiện các công việc như sau:
- Nhà tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho giám đốc điều hành và các
giám đốc chức năng trong công ty.
- Giám sát tiến trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ và nhận dạng
mọi cơ hội cải tiến hệ thống này. Đánh giá nguồn lực công ty để sử dụng phù
hợp tránh lãng phí, thất thoát. Làm việc với kiểm toán độc lập của công ty về
những vấn đề liên quan. Đề xuất chính sách bảo vệ tài sản và quản lý rủi ro.
- Kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy và chính sách điều hành. Góp
phần đảm bảo hoạt động công ty tuân thủ quy định pháp luật, phù hợp với đạo
đức kinh doanh. Đảm bảo các chức năng của công ty được thực hiện nghiêm
chỉnh, vận hành hợp lý.
- Thực hiện một phần chức năng kiểm soát tài chính. Kiểm tra chất
lượng thông tin, báo cáo kế toán. Rà soát tính trung thực và hợp lý của báo
cáo tài chính. ( nguồn: web kiemtoan)
Tiêu chuẩn dành cho một KTVNB:
Sau khi tìm hiểu một số tài liệu KTNB, tôi tóm tắt những tiêu chuẩn đó
như sau:
Yêu cầu về kỹ năng nghiệp vụ:
Để đáp ứng được yêu cầu, mỗi KTNB chuyên nghiệp phải như một từ
điển sống với vốn kiến thức chuyên sâu về tài chính kế toán, kiến thức pháp
luật và kiến thức quản trị vì họ phải xử lý hàng loạt tình huống nghiệp vụ đòi
hỏi thông thạo chuyên môn và kinh nghiệm, sự am hiểu về các quá trình hạch
toán và kiểm soát tài chính. Sẽ rất hữu ích khi có trình độ thông thạo về
những lĩnh vực nghiệp vụ cụ thể như các kỹ năng về máy tính, quy trình sản
xuất, chuyên môn kỹ sư , am hiểu chi tiết nhưng có tầm nhìn tổng quan,
khả năng nhìn thấy “cái bất thường trong cái tưởng như bình thường”. Trong
10
đó, kiến thức về khoa học quản trị kinh doanh và pháp luật là vô cùng cần
thiết.
Yêu cầu về phẩm chất cá nhân
Nguyên tắc và tác phong đối với một kiểm toán viên nội bộ:
- Quan hệ với đối tượng kiểm toán: Lưu ý tới chất lượng chuyên môn, bảo
mật trong mối quan hệ với đối tượng kiểm toán, duy trì tính độc lập của
phòng kiểm toán nội bộ; thận trọng, khôn khéo khi quan hệ với mọi cấp nhân
viên của toàn công ty.
- Tác phong nghề nghiệp: Luôn tỏ ra là người đĩnh đạc, thận trọng và kín
đáo.
- Tính độc lập: Thể hiện được các chuẩn mực, nguyên tắc nghề nghiệp
trên sơ sở đặc thù của phòng kiểm toán nội bộ trước đối tượng kiểm toán.
- Tuyệt đối bảo mật những thông tin mà kiểm toán viên thu thập được.
Nắm vững và cam kết tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của kiểm
toán viên nội bộ (theo điều lệ đạo đức nghề nghiệp do llA ban hành).
Tôi đặc biệt ủng hộ quan điểm cho rằng KTVNB cần phải có các phẩm
chất: chính trực, công tâm; tận tụy vì lợi ích của công ty; thái độ khiêm
nhường đúng mực; có sự tự tin nghề nghiệp; sự thông cảm; kiên định với vai
trò của mình, ham tìm hiểu và sẵn sàng phê bình, chính trực, độc lập và phải
cố gắng cho khả năng nhận định hợp lý ( trích dẫn KTNBHĐ- NXB Tài
chính).
Các phẩm chất nghề nghiệp:
Để nhận thức được rằng KTNB là một hoạt động hoàn toàn chuyên
nghiệp tóm tắt một số chuẩn mực do Viện kiểm soát nội bộ ban hành:
- 100 Tính độc lập - kiểm toán viên nội bộ phải độc lập với những hoạt
động mà họ kiểm toán.
11
- 200 Tinh thông nghề nghiệp - kiểm toán viên nội bộ phải được đào tạo
thành thạo và được bồi dưỡng nghề nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ.
Đặc biệt là:
240 Tuân thủ chuẩn mực đạo đức
250 Kiến thức kỹ năng và kỉ luật
260 Quan hệ nhân sự và trao đổi thông tin
270 Học tập không ngừng
280 Thận trọng nghề nghiệp đúng mực.
- 300 Phạm vi công việc - Phạm vi kiểm toán nội bộ phải bao gồm các
việc xem xét và đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ của tổ chức và chất lượng thành tích thực hiện nhiệm vụ được giao.
- 400 Quá trình công việc kiểm toán phải bao gồm vạch kế hoạch kiểm
toán xem xét và đánh giá thông tin, thông báo những kết quả và điều tra
nghiên cứu kỹ.
- 500 Quản lý bộ phận kiểm toán nội bộ - người phụ trách kiểm toán nội
bộ, quản lý đúng đắn bộ phận kiểm toán nội bộ
(Nguồn: Kiểm toán nội bộ hiện đại - Nhà xuất bản tài chính)
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét