Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả thẩm định cho vay DNVVN tại các NHTM trên địa bàn TPHCM

- 5 -
Mục đích của việc phân loại: do việc phân loại để có chính sách hỗ trợ về thuế
(chú trọng vào tiêu thức lợi nhuận) sẽ khác với việc phân loại nhằm mục đích
khuyến khích đổi mới công nghệ ( chú trọng tiêu thức số lao động ), hay là phục
vụ cho một mục đích mang tính xã hội của Chính phủ như giải quyết việc làm.
Từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế: kinh tế càng phát triển, các tiêu
chuẩn về DNVVN cũng thay đổi theo cho phù hợp với thực tế.
Mỗi một yếu tố đều có một ý nghóa, tùy theo quan điểm và điều kiện cụ thể mà
mỗi quốc gia có một sự phân loại riêng.
1.1.2 DNVVN theo tiêu chí phân loại tại một số nước trên thế giới:
Bảng 1.1: Các tiêu thức áp dụng để xác đònh DNVVN ở một số quốc gia
hiện nay.
QUỐC GIA
CÁC TIÊU THỨC ÁP DỤNG
SỐ LAO ĐỘNG TỔNG SỐ
VỐN
TÀI SẢN DOANH
THU
ÚC < 500 trong CN &
DV
CANADA < 500 cho cả CN &
DV
< 20 triệu
CAD
MĨ < 500
MEXICO < 250 < 7 triệu USD
EU < 250
NHẬT < 300 trong ngành
khác hoặc
< 100 trong bán
buôn hoặc
< 50 trong bán lẻ
hoặc
< 100 triệu yên
< 30 triệu yên
< 10 triệu yên
- 6 -
KOREA < 300 trong chế
tạo, khai thác, xây
dựng và
< 20 trong thương
mại và
0.6 triệu USD
< 0.5 triệu
USD/năm
(nếu bán lẻ)
và < 0.25
triệu
USD/năm
(nếu bán
buôn)
HONGKONG < 100 trong DN và
50 trong DV
PHILIPINE - DN nhỏ : 10-99
-DN vừa: 100 - 199
1.5-15triệu
Peso
15-60 triệu
Peso
SINGAPORE < 100 < 500 triệu
SGD
MYANMAR < 100
MALAYSIA <150 <25 triệu
Ringit
THAILAND - DN nhỏ :< 50
- DN vừa :50-200
< 20 triệu Bath
20-100 triệu
Bath
INDONESIA < 100
CHINA - DN nhỏ: 50-100;
- DN vừa : 101-500
- 7 -
[Nguồn: - Sách tài chính hỗ trợ các DNVVN
- APEC website http://www.actetsme.org ]
Qua số liệu bảng trên ta thấy, đa số các nước trên thế giới đều chọn hai tiêu thức
chủ yếu là số lượng lao động và lượng vốn sản xuất kinh doanh như là hai thước
đo chính để phân biệt qui mô DNVVN. Độ lớn trong từng tiêu thức của mỗi quốc
gia cũng không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và đặc điểm riêng có
của từng nước.
1.1.3 DNVVN tại Việt Nam:
1.1.3.1 Tiêu chí xác đònh DNVVN tại Việt Nam :
Theo Điều 3, Nghò đònh số 90/2001/NĐ-CP về việc trợ giúp DNVVN ngày
23/11/2001 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, đã đònh nghóa DNVVN như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người” . Đây chính là cơ
sở pháp lý chính thức hiện nay để ta có thể tiến hành phân loại DNVVN.
1.1.3.2 Đặc điểm các DNVVN tại Việt Nam :
Từ khi Luật DN có hiệu lực thi hành (01/01/2000) cho tới nay thì số DN nói
chung và DNVVN nói riêng tăng rất nhanh, cụ thể như sau :
- 8 -
Bảng 1.2 : Số lượng DN và DNVVN tại Việt Nam qua các năm.
Đơn vò : doanh nghiệp
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tháng
6/2008
DNVVN theo
tiêu chí về vốn
(< 10 tỷ )
36.305 44.670 54.216 61.977 79.420 98.232 114.340 307.388
DNVVN theo
tiêu chí về số
lao động ( <300
lao động )
39.897 49.062 59.853 68.687 88.222 109.336 127.600 328.207
Tổng số DN 42.288 51.680 62.908 72.012 91.756 112.950 131.332 349.305
( Nguồn : Báo cáo thường niên DNVVN VN năm 2008 của Bộ KH&ĐT )
Qua thống kê trên cho thấy, đến cuối năm 2006 số DN tại VN đã tăng
311% so với năm 2000, DNVVN theo tiêu chí về vốn tăng 315% và theo tiêu chí
về số lao động là 320%. Đồng thời, số lượng DNVVN cũng chiếm tỷ lệ áp đảo
trong tổng số DN với 97% ( nếu theo tiêu chí lao động ) và 87% ( theo tiêu chí về
vốn). Mới đây, theo số liệu báo cáo của NHNN gửi Thủ tướng Chính phủ ngày
29/09/2008 thì tính đến tháng 06/2008, đã có 349.305 DN đăng ký kinh doanh với
tổng số vốn đăng ký trên 1.389.000 tỷ đồng, trong đó, khoảng 93,96% DN là
DNVVN ( theo tiêu chí lao động ), và 88% DN là DNVVN ( theo tiêu chí về
vốn).
TPHCM tiếp tục là đòa phương dẫn đầu trong cả nước có số lượng DN
đăng ký kinh doanh nhiều nhất, chiếm gần 30% tổng số DN đăng ký kinh doanh
trong cả nước đến cuối năm 2007, với 17.313 DN trên tổng số 58.196 DN và con
- 9 -
số đó tiếp tục tăng cao trong quý 1/2009 với 4.050 DN thành lập mới, bất kể nền
kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái như hiện nay.
Việc số lượng các DN ngày một tăng là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên
bên cạnh đó, chất lượng của DN vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều DN ra đời nhưng
có khả năng cạnh tranh rất thấp, thậm chí không thể hoạt động.
Trong bối cảnh VN hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng và tình hình kinh
tế thế giới cũng như VN đang trải qua giai đoạn khó khăn, DNVVN VN đang
đứng trước thách thức rất lớn dưới áp lực cạnh tranh của các công ty, tập đoàn
xuyên quốc gia. Trong khi đó, bản thân các DNVVN của VN hiện nay tuy đã có
những cải tiến, đổi mới nhất đònh để đáp ứng với tình hình mới, nhưng vẫn đang
tồn tại những hạn chế vốn có của mình. Các hạn chế đó là :
- Hạn chế về vốn:
Vốn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các DNVVN nước ta, rất nhiều
doanh nghiệp hiện nay thiếu vốn. Mặc dù đã có những chuyển biến lớn về vốn
của DNVVN nếu như so số vốn đăng ký kinh doanh bình quân của năm 2006 là 7
tỷ đồng với năm 2000 là 962 triệu đồng, nhưng với áp lực cạnh tranh ngày càng
cao, số vốn đó ( nếu thực tế DN góp đúng như đăng ký ) cũng khó có thể đáp ứng
được nhu cầu phát triển của đơn vò.
Do thiếu vốn, dẫn đến hàng loạt các khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh và sự tồn tại của DN như : không có điều kiện mở rộng sản xuất kinh
doanh, phát triển và duy trì thò phần, khả năng đầu tư vào phương tiện kỹ thuật,
trang bò, cải tiến máy móc thiết bò hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm bò hạn chế, khó thu hút được lực lượng lao động và nhân sự có trình độ,
tay nghề cao.
- 10 -
Mặc dù hiện nay các DNVVN có thể khai thác và huy động vốn từ ba
nguồn chính thức là thò trường chứng khoán, ngân hàng và các chương trình hỗ trợ
phát triển của Chính phủ từ NSNN như Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ hỗ trợ phát
triển, nhưng việc tiếp cận các nguồn tài chính trên đều gặp khó khăn. Quỹ bảo
lãnh tín dụng hiện có 9 quỹ, nhưng chỉ hoạt động có 3 quỹ, vừa yếu lại vừa thiếu.
Huy động từ thò trường chứng khoán thì đòi hỏi nhiều điều kiện mà nhiều DN khó
có thể đáp ứng như hoạt động có lãi nhiều năm liền, có uy tín trên thò trường, báo
cáo tài chính có kiểm toán, phải là công ty cổ phần đại chúng có quy mô lớn. Vay
vốn từ ngân hàng thì yêu cầu về tài sản thế chấp, thủ tục rườm rà, số tiền vay và
thời gian vay thường không đáp ứng được nhu cầu của DN…Đặc biệt trong năm
2008 vừa qua, các DN còn phải hứng chòu mức lãi suất cho vay rất cao và không
phải DN nào cũng được vay do chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ để
phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Chính vì vậy, để có vốn duy trì hoạt động kinh doanh, các DN buộc phải
vay mượn từ kênh tài chính phi chính thức, đặc biệt là từ bạn bè, người thân và
thậm chí chấp nhận vay tín dụng nặng lãi với lãi suất rất cao. Theo điều tra của
Cục Phát triển DNVVN thuộc Bộ Kế hoạch& Đầu tư năm 2007, chỉ có 32,38%
DNVVN có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24%
DN khó tiếp cận và 32,38% DN không tiếp cận được. Mới đây nhất, theo số liệu
báo cáo nhanh về tình hình hoạt động của các DNVVN 6 tháng đầu năm 2008 do
Viện Phát triển DN thuộc VCCI cũng cho thấy có 90,2% DNVVN có nhu cầu vay
vốn ngân hàng, nhưng chỉ có 10,5% DN thỏa mãn được 100% nhu cầu. Đây là
một thực trạng trái chiều khi mà ngày càng nhiều ngân hàng chú trọng hơn trong
việc cho vay DNVVN, nhưng các DNVVN vẫn khó có thể tiếp cận được vốn vay
ngân hàng do các hạn chế vốn có của mình.
- 11 -
- Trình độ lao động và quản lý còn thấp :
Trình độ và tay nghề của người lao động và đội ngũ quản lý trong các
DNVVN cũng là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay. Một nghiên cứu vào
tháng 03/2008 của Bộ KH&ĐT đối với 63.000 DN trên cả nước cho thấy 43% chủ
DN có trình độ trung học trở xuống, 63% DN không tuyển dụng được người tài,
55% DN gặp khó khăn trong việc giữ chân người giỏi. Tình trạng trên là do
nguồn vốn hạn hẹp, các DNVVN khó có thể chiêu mộ được lực lượng lao động
và quản lý giỏi, có tay nghề. Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông,
ít được đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít được chủ doanh
nghiệp quan tâm đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao tay nghề, trình độ cho lao
động trong khi chất lượng nguồn lao động có ý nghóa quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của DN.
Bản thân các lãnh đạo của DN cũng có trình độ rất hạn chế. Đội ngũ chủ
DN, Giám đốc, cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản
lý. Số lượng DNVVN có chủ DN, giám đốc giỏi, chuyên môn cao và năng lực
quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn các chủ DN, Giám đốc chưa được đào
tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế xã hội và kỹ
năng quản trò kinh doanh, từ đó, dẫn đến khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt
động quản lý chủ yếu trên kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến
thức dẫn đến kinh doanh dễ phát sinh rủi ro.
- Kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu :
Công nghệ là yếu tố quyết đònh đến năng suất, chất lượng của sản phẩm,
giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thò trường. Với việc hội nhập
ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, nhìn chung, trong những năm qua các
DNVVN ở nước ta đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất đònh. Tuy nhiên, do
- 12 -
nguồn vốn tài chính bò giới hạn và sự nhìn nhận tầm quan trọng của khoa học
công nghệ còn hạn chế, dẫn đến các doanh nghiệp chưa thể tự mình đổi mới cũng
như áp dụng mạnh mẽ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.
Theo báo cáo mới đây của Cục phát triển DN ( thuộc Bộ KH &ĐT ) tháng
04/2009 cho thấy, vẫn còn 80% số lượng DNVVN không có chiến lược đầu tư cho
khoa học công nghệ, và hầu hết các DNVVN hiện đang sử dụng công nghệ lạc
hậu 3-4 thập kỷ so với thế giới, năng lực nghiên cứu rất hạn chế, chỉ có 0,1%
doanh thu hằng năm của DN được dành để đổi mới công nghệ thiết bò. Ngoài ra,
báo cáo cũng cho biết việc nhập khẩu công nghệ hằng năm của các DN là dưới
10% tổng kim ngạch nhập khẩu, chỉ bằng ¼ so với các nước phát triển.
Bên cạnh nguồn vốn ít nên ngại đổi mới, nhiều DN không hiểu công nghệ
nào đã có và làm thế nào để tiếp cận, áp dụng công nghệ vào sản xuất do chưa
thực sự xem yếu tố công nghệ là yếu tố cạnh tranh, tồn tại sống còn của DN.
- Thiếu thông tin thò trường :
Một trong những yếu tố làm cho khả năng cạnh tranh của DNVVN bò hạn
chế là tình trạng thiếu thông tin thò trường về sản phẩm, thò trường công nghệ,
máy móc thiết bò. Vì vậy, sản phẩm làm ra có mẫu mã, kiểu dáng không thật hấp
dẫn, chất lượng hạn chế, dẫn đến khó cạnh tranh do không đáp ứng được nhu cầu
của thò trường và DN khó có thể chủ động thay đổi chiến lược kinh doanh khi thò
trường thay đổi.
Việc thiếu thông tin thò trường một phần xuất phát từ bản thân DN và một
phần do chưa nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các cơ quan chức trách của Chính
phủ.
- 13 -
Ngày nay, việc nắm bắt các thông tin thò trường không chỉ dựa vào công ty
tư vấn, nghiên cứu tìm hiểu thò trường mà còn có thể thực hiện dưới nhiều hình
thức rất đa dạng thông qua CNTT.
Tuy nhiên, các DNVVN tại nước ta vẫn chưa xem trọng và thật sự khai
thác hết tính năng của CNTT trong việc tìm hiểu thò trường. Theo khảo sát của
VCCI năm 2007, có khoảng 23% DN thừa nhận có dưới 40% nhân viên có kỹ
năng sử dụng những chương trình ứng dụng cơ bản trong khi gần 63%DN có dưới
20% nhân viên có thể sử dụng các chương trình ứng dụng chuyên dùng hỗ trợ
kinh doanh. Bên cạnh đó, các DN chỉ dành 4,8% tổng chi tiêu ứng dụng CNTT
cho việc đào tạo nhân viên. Cũng theo kết quả khảo sát này, 24% DN không sử
dụng bất cứ một dòch vụ CNTT nào, 76% số DN sử dụng dòch vụ CNTT nhưng
chủ yếu tập trung vào dòch vụ sửa chữa, bảo trì, lắp đặt và đặc biệt có đến 96,4%
tổng số DN không sử dụng dòch vụ tư vấn. Qua đó cho thấy, một phần do nguồn
vốn kinh doanh có hạn nên việc đầu tư vào công tác tìm hiểu, thăm dò, nắm bắt
thông tin thò trường trong và ngoài nước còn hạn chế. Bên cạnh đó, một bộ phận
DN cũng chưa xem trọng công tác tìm hiểu thông tin thò trường cho dù họ có đủ
năng lực tài chính để thực hiện việc đó. Các DN chỉ quan tâm sản xuất những gì
họ có thể mà ít quan tâm đến những gì thò trường cần.
Ngoài lý do về bản thân DN, sự hỗ trợ về thông tin của Chính phủ đối với
các DNVVN cũng rất thấp. Các cơ quan ban ngành vẫn chưa làm hết vai trò của
mình trong việc xúc tiến đầu tư, cung cấp thông tin thò trường cho DN, đặc biệt là
tại các thò trường xuất khẩu. Có rất nhiều trường hợp sản phẩm do các DN VN
làm ra, có chất lượng tốt, được thò trường nước ngoài chấp nhận nhưng vẫn phải
bán hàng dưới thương hiệu khác do không thể xâm nhập vào thò trường nước
- 14 -
ngoài một cách trực tiếp. Vì vậy, khả năng nắm bắt thò trường, xâm nhập và mở
rộng thò trường để tăng cường năng lực cạnh tranh của DNVVN là không cao.
1.1.3.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam :
Mặc dù loại hình DNVVN còn tồn tại những hạn chế nhất đònh, nhưng tầm
quan trọng và sự đóng góp của DNVVN đối với nền kinh tế VN là rất lớn, thể
hiện qua một số điểm sau :
- Tạo thêm nhiều việc làm. Theo thống kê của Hội DNVVN VN năm 2008,
các DNVVN đóng góp 40% đến 50% việc làm mới hằng năm cho người lao
động.
- Đóng góp vào tăng trưởng GDP. Theo Báo cáo của NHNN ngày
29/09/2008, mức đóng góp của DNVVN hằng năm khoảng 40%GDP của cả nước,
33% giá trò sản lượng công nghiệp.
- Góp phần tăng thu NSNN. Theo cổng thông tin điện tử Chính phủ tháng
10/2008, riêng 7 tháng đầu năm 2008, các DNVVN nộp ngân sách là 5.721 tỷ
đồng, bình quân nộp ngân sách là 48 triệu đồng/DN. Còn theo Báo cáo của
NHNN ngày 29/09/2008, các DNVVN nộp ngân sách chiếm 17,46%.
Qua các số liệu trên cho thấy DNVVN giúp thu hút công ăn việc làm cho
người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn đònh an sinh xã hội. Ngoài ra,
với việc huy động các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế đất nước, các
DNVVN còn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc
dân.
1.1.3.4 Các nhu cầu tài chính cần vay vốn của DNVVN :
Với áp lực cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển, nhu
cầu tài chính của một DNVVN cũng đòi hỏi gia tăng không ngừng. Các nhu cầu
chính về vốn vay của DN bao gồm :

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét