Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
bộ và đánh giá khả năng của kiểm soát nội bộ của khách hàng trong việc ngăn
ngừa, phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính”.
Các nguyên tắc kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền
Nhân viên phải có đủ khả năng và liêm chính: Vì không thể có kiểm
soát nội bộ vững mạnh khi nhân viên không đủ khả năng, hoặc không liêm
chính và cố tình gian lận.
Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm: nghĩa là không cho bất cứ
cá nhân nào thực hiện các chức năng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
nghiệp vụ. Nói cách khác, mỗi cá nhân chỉ được phân công một nhiệm vụ
trong quá trình xử lý nghiệp vụ, bao gồm các chức năng xét duyệt nghiệp vụ;
ghi chép vào sổ kế toán; bảo quản tài sản; kiểm kê, đối chiếu các số liệu ghi
trên sổ sách kế toán với số liệu thực tế.
Tập trung đầu mối thu: nên hạn chế tối đa số người nắm giữ tiền, nghĩa
là chỉ cho phép một số ít nhân viên được thu tiền. Điều này làm giảm khả
năng thất thoát số tiền đã thu.
Ghi chép kịp thời và đầy đủ số thu: Phân công cho một nhân viên ghi
nhận kịp thời các nghiệp vụ thu tiền ngay vào thời điểm phát sinh.
Hàng ngày đối chiếu số liệu giữa thủ quỹ và kế toán, nộp ngay số thu
cho ngân hàng. Để tăng cường kiểm soát, trước khi thủ quỹ nộp tiền vào
ngân hàng, có thể phân công cho một nhân viên độc lập so sánh giữa tổng số
thu trên chứng từ, số thu trên chứng từ với số thu đã ghi vào sổ sách kế toán.
Có biện pháp khuyến khích người nộp tiền yêu cầu cung cấp biên lai
hoặc phiếu thu.
Thực hiện tối đa những khoản chi tiền bằng tiền gửi ngân hàng, hạn chế
chi tiền mặt.
Cuối mỗi tháng thực hiện đối chiếu giữa số liệu ghi trên sổ sách với
thực tế, cụ thể là đối chiếu giữa:
Sổ cái và sổ phụ về số dư và số phát sinh của tài khoản tiền gửi ngân hàng.
Tài khoản tiền mặt với biên bản kiểm kê quỹ.
Để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, Kiểm toán viên tiến
hành khảo sát thông qua các hình thức cơ bản sau: phỏng vấn, kiểm tra chứng từ,
sổ sách, báo cáo, khảo sát thực tế, lấy xác nhận… căn cứ vào ước tính về tính hiện
hữu của kiểm soát nội bộ, Kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát theo những
cách thức khác nhau theo tỷ lệ, theo mức độ…
Đối với doanh nghiệp nhỏ, Kiểm toán viên thường soạn thảo tường thuật, còn
với doanh nghiệp lớn, họ thường dùng lưu đồ để mô tả cơ cấu kiểm soát nội bộ
hiện hành. Để thiết lập, Kiểm toán viên thường dựa vào sự quan sát và sử dụng
bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ.
Bảng 1: Bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ tiền mặt và tiền gửi ngân hàng có thể
như sau:
Câu hỏi
Trả lời
Ghi
chú
Có Không
Yếu kém
Quan
trọng
Thứ
yếu
1. Khi phát sinh nghiệp vụ thu chi tiền có được
phản ảnh đầy đủ vào các sổ sách liên quan?
2. Việc xét duyệt thu chi có giới hạn ở một số
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
người mà họ không đảm nhận việc ghi chép sổ
sách kế toán hay lưu giữ chúng?
3. Việc ghi chép, kiểm tra và lưu giữ sổ sách
trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền có được
thực hiện độc lập bởi các nhân viên chuyên trách
không?
4. Kế toán quỹ và thủ quỹ có độc lập với nhau
không?
5. Nơi thực hiện quá trình thu chi và quản lý cất
giữ tiền có đủ rộng, ngăn cách khỏi văn phòng?
6. Việc thu tiền có tổ chức việc thu tại công ty?
7. Công ty có sử dụng két sắt để bảo vệ tiền mặt
chưa?
8. Mã số của két sắt có được giữ bí mật theo quy
định không?
9. Quy trình xét duyệt các khoản chi tiền mặt có
được sự phê chuẩn của kế toán trưởng và thủ
trưởng đơn vị không?
10. Biên lai thu tiền hoặc phiếu bán hàng có được
quy định đánh số trước?
11. Các khoản tiền mặt thu về có nộp vào ngân
hàng đầy đủ và kịp thời không?
12. Những khoản thu chi lớn có được thực hiện
qua ngân hàng?
13. Tiền gửi ngân hàng có được mở sổ chi tiết là
tiền Việt nam, ngoại tệ?
14. Hàng tháng quá trình tổng hợp đối chiếu cân
chỉnh về thu chi tiền gửi ngân hàng với những
ngân hàng liên quan có được thực hiện không? Và
cuối năm có sự xác nhận của ngân hàng?
Bước 5: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục vốn bằng tiền
Đánh giá tính trọng yếu:
Trọng yếu là khái niệm chỉ tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểm
toán có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm
toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lý. Để đánh
giá mức trọng yếu, nhân viên kiểm toán cần thực hiện các bước sau:
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu: Là sai số tối đa mà Kiểm toán viên
tin rằng tại mức đó các báo cáo tài chính có chứa đựng sai sót nhưng chưa
ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Việc ước
tính này đòi hỏi chủ yếu là kinh nghiệm và trình độ của Kiểm toán viên.
Phân bố ước tính ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: các khoản
mục vốn bằng tiền sẽ lần lược phân phối tính ban đầu về tính trọng yếu.
Đánh giá rủi ro:
Trong khi lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm toán
đối với từng khoản mục trong báo cáo tài chính. Kiểm toán viên thường quan tâm
các loại rủi ro sau:
Rủi ro tiềm tàng (IR): là mức rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trong
yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
soát nội bộ. Do bản chất của vốn bằng tiền nên rủi ro tiềm tàng thường có
nguy cơ xảy ra rất cao đối với khoản mục này. Rủi ro tiềm tàng của khoản
mục vốn bằng tiền phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như: bản chất hoạt động
sản xuất kinh doanh của khách hàng, tính tung thực của ban giám đốc, bản
chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kết quả các lần kiểm toán trước.
Rủi ro kiểm soát (CR): là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt
động không hiệu quả, do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm
này. Đối với khoản mục vốn bằng tiền, kiểm toán sẽ tiến hành đánh giá lại
rủi ro kiểm soát của từng sơ sở dẫn liệu. Công việc này chủ yếu là để nhận
diện các điểm yếu, điểm mạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ, nhằm điều
chỉnh chương trình kiểm toán cho phù hợp.
Nếu Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp, thì các thử nghiệm
cuối năm có thể chỉ hạn chế ở mức đối chiếu với sổ phụ ngân hàng và so
sánh số dư này với xác nhận của ngân hàng. Nếu đánh giá mức độ rủi ro
trong kiểm soát là trung bình, thì có thể áp dụng các thủ tục trên và bổ sung
thêm một số thủ tục nhằm phát hiện gian lận. Nếu đánh giá rủi ro kiểm soát
là đáng kể hay tối đa thì kiểm toán cần mở rộng các thủ tục kiểm tra chi tiết
các khoản mục.
Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính
gộp lại mà trong quá trình kiểm toán, Kiểm toán viên không phát hiện được.
Rủi ro kiểm toán (AR): AR = IR x CR x DR
DR = AR / (IR x CR)
Với mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được và các rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát xác định Kiểm toán viên sẽ tính ra rủi ro phát hiện và dựa vào đó xác
định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập.
Bước 6: Lập kế hoạch kiểm toán chung và thiết kế chương trình kiểm toán
Trên cơ sở hiểu biết về tình hình kinh doanh, nghĩa vụ pháp lý cùng hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng, Kiểm toán viên tiến hành lập kế hoạch kiểm toán
chung và thiết kế chương trình kiểm toán cho khoản mục vốn bằng tiền.
2.2.2. Thực hiện kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là thực hiện các công việc đã lập ra trong kế
hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán. Mục đích của giai đoạn này là thu
thập bằng chứng đầy đủ, tin cậy làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến của Kiểm toán
viên trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thực chất của
công việc này là thu thập các bằng chứng để chứng minh đánh giá rủi ro kiểm soát
và tính chính xác của nghiệp vụ phát sinh về vốn bằng tiền.
Để đạt được mục đích trên, Kiểm toán viên phải thực hiện ba bước công việc:
Thực hiện thủ tục kiểm soát,
Thực hiện các thủ tục phân tích,
Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết.
2.2.2.1. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền
Kiểm toán viên chỉ có thể đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm toán đối với một số cơ sở
dẫn liệu nào đó là thấp mức tối đa, khi mà đánh giá rằng các thủ tục kiểm soát liên
quan được thiết kế và thực hiện hữu hiệu. Đây là cơ sở giúp Kiểm toán viên giới hạn
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
phạm vi của các thử nghiệm cơ bản phải tiến hành đối với các khoản mục có liên
quan. Ngược lại, nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá là tối đa và xét thấy không
có khả năng giảm được trong thực tế, Kiểm toán viên không cần thực hiện các thử
nghiệm kiểm soát mà chỉ thực hiện các thử nghiệm cơ bản ở mức độ phù hợp.
Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ
Nguyên cứu, đánh giá về kiểm soát nội bộ đối với tiền mặt đòi hỏi Kiểm toán
viên tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của đơn vị và sử dụng các thể thức khảo sát về
sự hiện diện, liên tục và sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ như thế nào.
Để kiểm toán, tìm hiểu về kiểm soát nội bộ nói chung và đối chiếu với tiền mặt
nói riêng, Kiểm toán viên có thể sử dụng soạn thảo bảng tường thuật hoặc dùng
lưu đồ để mô tả cơ cấu kiểm soát nội bộ của đơn vị, trên cơ sở quan sát và đặt ra
những câu hỏi có liên quan đến kiểm soát nội bộ.
Sau khi đã có mô tả về hệ thống kiểm soát nội bộ, Kiểm toán viên áp dụng các
thể thức cụ thể như: quan sát, phỏng vấn, xem xét… để khảo sát nội bộ và đánh
giá rủi ro kiểm soát. Nội dung và thể thức khảo sát về kiểm soát nội bộ với tiền
mặt thường tập trung vào các vấn đề sau:
Khảo sát, xem xét các quy định về phân công nhiệm vụ và về trách
nhiệm của các nhân viên, các bộ phân liên quan như:
Phân công người giữ quỹ và chế độ trách nhiệm về giữ quỹ, xem
xét theo nguyên tắc “tập trung đầu mối thu” có được đảm bảo hay không.
Phân công và phân biệt giữa cán bộ có trách nhiệm duyệt chi với
kế toán và thủ quỹ có đảm bảo nguyên tắc “bất kiêm nhiệm”.
Sự phân công công việc giữa các nhân viên trong các khâu hạch
toán có đảm bảo cho việc thực hiện hạch toán tiền mặt được kịp thời và chặc
chẽ.
Thể thức các khảo sát trên đây thực hiện chủ yếu bằng việc xem xét các văn
bản quy định về phân công nhiệm vụ, trách nhiệm, thực hiện việc phỏng vấn nhân
viên liên quan, kết hợp quan sát trực tiếp sự vận hành của một số công việc như kế
toán quỹ và thủ quỹ. Nếu có sự kiêm nhiệm trong công việc không tuân theo quy
định hoặc không có sự tách biệt trách nhiệm rõ ràng thì hiệu lực kiểm soát bị giảm
đi, tiềm năng về gian lận hoặc sử dụng tiền mặt lạm dụng dễ xảy ra.
Khảo sát, xem xét các quy trình duyệt chi tiền mặt và khâu tổ chức
bảo quản chứng từ thu tiền, như:
Việc thực hiện quy trình duyệt chi tiền mặt có được giới hạn ở
một số người đảm bảo sự chặt chẽ và nguyên tắc “uỷ quyền, phê chuẩn” hay
không. Kiểm toán viên cần chú ý đến các dấu hiện của sự phê chuẩn trên các
hồ sơ và các chứng từ chi tiền của đơn vị.
Công việc tổ chức bảo quản các chứng từ tài liệu liên quan đến
tiền mặt, có được đơn vị chú ý và thực hiện như thế nào?
Nếu có trường hợp khoản chi không được phê chuẩn trước thì sự
lỏng lẻo trong kiểm soát này để gây ra gian lận của khoản chi hoặc chứng từ
không đảm bảo hợp lệ, hợp lý.
Khảo sát, xem xét việc phân công trách nhiệm trong khâu kiểm tra,
soát xét đối với các thủ tục, các chứng từ, các việc tính toán và đối với việc ghi
chép kế toán.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Kiểm toán viên cần xem xét các văn bản quy định trách nhiệm trong khâu
kiểm tra soát xét đối với từng khâu công việc, phỏng vấn các nhân viên liên
quan và thực hiện điều tra theo hệ thống một số nghiệp vụ được thực hiện ghi
chép trong sổ kế toán. Cũng có thể thực hiện việc điều tra một số các chứng từ
(phiếu thu, phiếu chi hay chứng từ bán hàng) để xem xét việc thực hiện đánh
số trước của đơn vị có được thực hiện và duy trì hay không. Trong một số
trường hợp còn áp dụng việc quan sát quá trình ghi sổ, quá trình kiểm kê quỹ…
để thấy được sự thực hiện kiểm soát nội bộ đã được đặt ra hay không.
Khảo sát, xem xét việc chấp hành quy định về kiểm tra đối chiếu quỹ
tiền mặt và việc nộp quỹ, tồn quỹ tiền mặt; bao gồm:
Xem xét việc kiểm quỹ và đối chiếu với sổ quỹ hằng ngày có
được thực hiện có nề nếp. Kiểm toán viên hỏi nhân viên kế toán nào có trách
nhiệm kiểm kê quỹ và yêu cầu cho xem các biên bản kiểm kê, đồng thời trực
tiếp phỏng vấn nhân viên đó để biết về tình hình kiểm kê tại đơn vị.
Xem xét việc thực hiện kiểm kê quỹ tiền mặt cuối tháng và đối
chiếu với sổ kế toán có được thực hiện đều đặn.
Kiểm tra việc chấp hành quy định về nộp ngay số thu tiền mặt
vào ngân hàng (gửi vào tài khoản tiền gửi ngân hàng) và chấp hành quy định
về tồn quỹ tiền mặt.
Sự lỏng lẻo trong việc chấp hành các quy định nói trên sẽ chứa dựng tiềm ẩn
sự gian lận sai sót, lợi dụng và biển thủ tiền của đơn vị.
Khảo sát, xem xét việc tổ chức bảo quản tiền mặt, kể cả việc bảo hiểm
tiền mặt và vấn đề ký quỹ của thủ quỹ (nếu có); bao gồm:
Xem xét hệ thống bảo hiểm về tiền mặt của đơn vị như két đựng
tiền, hệ thống chống cháy, hệ thống khoá, hệ thống báo động… có đảm bảo
an toàn cho tiền mặt hay không.
Xem xét đối với trường hợp đơn vị có mua bảo hiểm tài sản nói
chung để thấy được sự coi trọng của đơn vị đối với sự an toàn của tài sản
trong đó có tiền mặt. Trường hợp đơn vị có quy định và thực hiện quy định
thủ quỹ phải có ký quỹ cũng thể hiện sự ngăn ngừa gian lận, biển thủ tiền
mặt của đơn vị một cách có hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của thủ quỹ.
Những công việc khảo sát về kiểm soát nội bộ đối với tiền mặt nói trên
giúp cho kiểm toán viên đánh giá được hiệu lực của kiểm soát nội bộ và mức
độ rủi ro kiểm soát đối với tiền mặt. Từ đó xác định phạm vi và thiết kế các
khảo sát cơ bản để kiểm toán đối với các số liệu kế toán (khảo sát chi tiết các
nghiệp vụ và số dư tiền mặt).
2.2.2.2. Thử nghiệm kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
2.2.2.2.1. Tiền mặt
Tiếp theo sau việc khảo sát về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần tiến hành
các khảo sát về các nghiệp vụ tiền mặt. Dưới đây sẽ trình bày các mục tiêu kiểm
toán cụ thể và thể thức khảo sát thông thường, phổ biến mà kiểm toán viên thường
sử dụng trong khảo sát nghiệp vu tiền mặt:
Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền mặt thu, chi ghi trên sổ kiểm toán
tiền mặt đều thực tế phát sinh và có căn cứ hợp lý.
Để khảo sát mục tiêu này, kiểm toán viên thường tiến hành các thể thức chủ
yếu sau đây:
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Kiểm tra các bằng chứng về sự phê duyệt chi tiền của người có trách
nhiệm (chữ kí phê duyệt, tính đúng đắn của sự phê duyệt). Kiểm tra mẫu
những chứng từ chi tiền đối với những khoản chi lớn và bất thường về nội
dung chi, xem xét các chứng từ có đầy đủ chứng từ gốc kèm theo chứng
minh hợp lệ và hợp lý không.
Đối chiếu chứng từ thu, chi với các chứng từ chứng minh nghiệp vụ
(chứng từ gốc). Xem xét lại sổ nhật ký quỹ (thu, chi tiền mặt), sổ cái tài
khoản tiền mặt và đối chiếu với các sổ kế toán có liên quan như sổ mua hàng,
bán hàng, thanh toán…
Kiểm tra tên của những người nộp tiền, người nhận tiền trên các
chứng từ liên quan.
Kiểm tra các khoản chi tiền cho khách hàng về giảm giá, hoa hồng
đại lý… xem có đúng chính sách quy định của đơn vị hay không và đối chiếu
với các sổ kế toán liên quan để xác định các khoản tiền mặt đã được chi và có
khách hàng thực nhận hay không.
Mục tiêu kiểm toán: các khoản thu, chi tiền mặt đều được ghi sổ kế
toán đầy đủ và kịp thời
Thể thức khảo sát cho mục tiêu này có thể được áp dụng gồm:
Đối chiếu chọn mẫu các chứng từ thu, chi tiền mặt đối với sổ
nhật ký quỹ và sổ kế toán liên quan khác về số tiền và cả ngày ghi để kiểm
tra sự đầy đủ và kịp thời của việc ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh.
Tiến hành khảo sát đồng thời các nghiệp vụ mua vào và thanh
toán cũng như với chu kỳ bán hàng và thu tiền để đối chiếu, kiểm tra sự ghi
chép đầy đủ, phát hiện ghi trùng hay bỏ sót nghiệp vụ.
Trong các khảo sát trên đây có thể cho phép phát hiện được các gian lận có thể
như: người bán hàng thu tiền ngay nhưng cố tình quên ghi sổ hay ghi sổ chậm hay
chậm nộp tiền để lạm dụng sử dụng tiền của đơn vị một thời gian cho mục đích cá
nhân; khoảng cách giữa ngày ghi nhận doanh thu và thời điểm thu tiền của khách
hàng với thời điểm hạch toán tiền mặt đã thu trên sổ kế toán (hoặc thời điểm lập
phiếu thu tiền mặt) quá lớn thì có khả năng nhân viên bán hàng, thu tiền lạm dụng
sử dụng tiền của đơn vị trong thời gian đó. Kiểm toán viên cũng cần lưu ý các
khoản chi tiền cho người mua như: giảm giá, chiết khấu, hoa hồng… có được ghi
chép đầy đủ hay không. Hoặc nghiệp vụ xoá sổ các khoản thu khó đòi có thực tế
được xử lý chưa. Đôi khi, thủ tục lấp liếm trong hạch toán các khoản thu tiền mặt
(chưa ghi ngay khoản đã thu mà chờ khi thu được khoản khác để che dấu sự thiếu
hụt về tiền mặt thu được) cũng cần được Kiểm toán viên cảnh giác khi kiểm tra
ngày ghi sổ tiền mặt và sổ kế toán khác có đảm bảo kịp thời và đúng kỳ không.
Mục tiêu kiểm toán: các khoản thu, chi tiền mặt đều được đánh giá,
tính toán đúng đắn, đặc biệt đối với tiền mặt là ngoại tệ, vàng bạc và đá quý.
Kiểm toán viên cần thực hiện các khảo sát liên quan đánh giá, tính toán thực
hiện ở đơn vị đối với tiền mặt, trong đó đặc biệt đối với tiền mặt là ngoại tệ, vàng
bạc và đá quý. Các khảo sát cụ thể thường là:
Kiểm tra việc tính toán thu chi tiền mặt và việc đối chiếu số liệu giữa kế toán
và thủ quỹ.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Kiểm tra việc tính toán quy đổi ngoại tệ có phù hợp với tỷ giá ngân hàng
công bố có hiệu lực cùng thời điểm; việc sử dụng phương pháp đánh giá
vàng bạc, đá quý có đảm bảo phù hợp và nhất quán hay không.
Khảo sát việc thực hiện nghiệp vụ đánh giá ngoại tệ tồn quỹ có được duy trì
và thực hiện đúng thể thức quy định hay không.
Kiểm tra việc tính toán các khoản giảm giá, hoa hồng … đã chi bằng tiền mặt.
Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền thu được đều được
gửi vào ngân hàng kịp thời, thực hiện quy định thanh toán qua ngân hàng.
Các khảo sát chủ yếu thường được thực hiện gồm:
Khảo sát việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán,
các khoản lớn qua ngân hàng.
Đối chiếu giữa sổ kế toán tiền mặt với sổ ngân
hàng về ngày bán hàng thu tiền mặt; ngày nộp tiền mặt vào ngân hàng và số
tiền mặt nộp vào ngân hàng.
Mục tiêu kiểm toán: các nghiệp liên quan
đến tiền mặt đều được hạch toán đúng.
Kiểm toán viên thường thực hiện các khảo sát như so sánh, xem xét việc hạch
toán vào tài khoản liên quan, tham chiếu một số nghiệp vụ trong việc hạch toán
vào sổ kế toán, đặc biệt các nghiệp vụ chi tiền mặt cho các chi phí để kiểm tra việc
hạch toán có đúng hay không.
Mục tiêu kiểm toán: việc tổng hợp và chuyển đổi để ghi sổ cái là đúng
đắn và chính xác.
Khảo sát cho mục tiêu này thường được Kiểm toán viên tiến hành bằng cách
tổng hợp các sổ chi tiết liên quan đến thu, chi tiền mặt và đối chiếu sổ cái tài
khoản tiền mặt. Cũng có thể tham chiếu các sổ kế toán khác có liên quan.
2.2.2.2.2. Tiền gửi ngân hàng
Mục tiêu đặc thù kiểm toán đối với tiền gửi ngân hàng chủ yếu là:
Tính chính xác về kĩ thuật tính toán và hạch toán các khoản tiền gửi
ngân hàng vào sổ kế toán và được trình bày trên báo cáo tài chính.
Các khoản tiền gửi ngân hàng trình bày trên báo cáo tài chính đều có
căn cứ hợp lý.
Sự đánh giá đúng đắn các khoản tiền gửi ngân hàng, đặc biệt là
ngoại tệ và vàng bạc đá quý.
Các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi ngân hàng đều được ghi chép
đầy đủ, kịp thời và đúng lúc.
Sự khai báo trình bày các khoản tiền gửi ngân hàng là đầy đủ và
đúng đắn.
Quá trình kiểm toán tiền gửi ngân hàng cũng được kết hợp
với kiểm toán chu trình mua vào và thanh toán, chu kỳ bán hàng và thanh toán,
…và cùng với kiểm toán tiền mặt. Các thủ tục khảo sát chi tiết thông thường
đối với số dư tiền gửi ngân hàng cũng cơ bản tương tự như đối với kiểm toán
tiền mặt. Song, dưới đây sẽ đề cập cụ thể về vận dụng một số thủ tục đặc thù
có điểm riêng biệt hơn so với kiểm toán tiền mặt:
Lập bản kê chi tiết tiền gửi ngân hàng và đối chiếu với số dư trên sổ
cái, đối chiếu với số liệu của ngân hàng xác nhận.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Kiểm toán viên thu thập hoặc tự lập bảng kê chi tiết về các loại tiền
(tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý) gửi tại ngân hàng.
Thực hiện việc đối chiếu để xác nhận về số liệu liên quan đến tiền gửi
ngân hàng.
Kiểm toán việc quy đổi ngoại tệ và tính giá đối với vàng bạc, đá quý
gửi tại ngân hàng (thể thức khảo sát như kiểm toán tiền mặt).
Kiểm toán việc tính toán khoá sổ kế toán tài khoản tiền gửi ngân
hàng thông qua việc yêu cầu khách hàng cung cấp sổ phụ (hoặc các bản sao
kê) của ngân hàng gửi cho đơn vị ở khoản thời gian trước và sau ngày khoá
sổ để đối chiếu với số liệu trên sổ của đơn vị nhằm phát hiện chênh lệch tìm
hiểu nguyên nhân (nếu có).
Gửi thư xác nhận số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng vào thời gian
khoá sổ.
Kiểm toán viên có thể yêu cầu đơn vị kê khai hoặc tự mình thu thập
và kê khai về tiền gửi ngân hàng của đơn vị tại các ngân hàng có liên quan và
đảm nhận việc gửi đi, nhận về “thư” đề nghị các ngân hàng xác nhận số dư tiền
gửi ngân hàng vào thời điểm báo cáo. Việc xin xác nhận này không thể thiếu
trong khảo sát tiền gửi ngân hàng. Cùng với nội dung về đề nghị xác nhận số
dư tiền gửi, kiểm toán viên cũng xin ý kiến về các thông tin có liên quan khác
như:
Số dư của mọi tài khoản của đơn vị tại ngân hàng.
Các giới hạn trong việc sử dụng tiền gửi ngân hàng.
Mức lãi suất (của các khoản tiền gửi đã có lãi).
Các khoản khác: cầm cố, thế chấp, mở thư tín dụng hay các khoản tương tự.
Thư xác nhận này là một cơ sở để đối chiếu với số liệu kế toán tai đơn vị (như
đã nêu trên). Nếu thấy chênh lệch, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân có liên quan.
Khảo sát các quá trình chuyển khoản:
Nghiệp vụ chuyển khoản là loại nghiệp vụ đặc thù riêng của tiền gửi ngân
hàng. Trường hợp tiền gửi của đơn vị được chuyển từ ngân hàng này sang ngân
hàng khác hay chuyển khoản giữa các tài khoản trong nội bộ của công ty, tổng
công ty rất khó để quá trình đó được thực hiện hợp lý, đúng đắn.
Kiểm toán viên cần chú ý khảo sát loại nghiệp vụ này bằng cách lập bảng liệt
kê tất cả các khoản tiền gửi ngân hàng trong các nghiệp vụ chuyển khoản được
thực hiện trước và sau ngày lập báo cáo tài chính và đối chiếu với việc ghi sổ kế
toán của từng nghiệp vụ đó có được ghi sổ kịp thời và đúng đắn không. Việc khảo
sát này có thể phát hiện được sự che dấu của sự biển thủ bằng việc ghi chép không
đúng đắn ngày và tài khoản có quan hệ (ví dụ: thực hiện một nghiệp vụ chuyển
tiền vào cuối kỳ từ một ngân hàng này sang một ngân hàng khác nhưng chỉ hạch
toán ghi tăng tiền gửi ngân hàng đến mà chưa ghi giảm ngay ở ngân hàng chuyển
khoản đi).
2.2.3. Kết thúc kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
Giai đoạn kết thúc kiểm toán là giai đoạn rất quan trọng đối với cả cuộc kiểm
toán. Mục đích của giai đoạn này là Kiểm toán viên đưa ra ý kiến tổng quát của
mình về khoản mục vốn bằng tiền của đơn vị có trình bày trung thực và hợp lý
không xét trên khía cạnh trọng yếu. Trong giai đoạn này, Kiểm toán viên cần thực
hiện các bước sau:
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
2.2.3.1. Xem xét lại các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ
Thông thường, phần lớn các công việc quan trọng của một cuộc kiểm toán
được thực hiện sau ngày kết thúc niên độ kế toán, do vậy trong khoản thời gian kể
từ ngày kết thúc niên độ cho đến khi hoàn thành báo cáo kiểm toán có thể xảy ra
các sự kiện đánh giá hoặc công khai báo cáo tài chính. Do đó, Kiểm toán viên phải
có trách nhiệm xem xét các sự kiện này.
Có hai loại sự kiện sau ngày lập báo cáo tài chính cần sự xem xét của ban quản
trị và Kiểm toán viên là:
Những sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo
tài chính và đòi hỏi cần điều chỉnh: Những sự kiện này cung cấp thêm thông tin
cho ban quản trị khi xác định cách đánh giá các số dư tài khoản vào ngày lập
bảng cân đối kế toán và cho các Kiểm toán viên khi tiến hành kiểm tra số dư.
Những sự kiện này bao gồm: tuyên bố phá sản do tình trạng tài chính xấu của
một khách hàng có số dư khoản phải thu lớn chưa thanh toán, giải quyết một vụ
kiện với một món tiền ghi sổ, bán các khoản đầu tư với giá thấp hơn giá trị ghi sổ,
…Kiểm toán viên cần phải thận trọng để phân biệt giữa các sự kiện đã có vào
ngày lập bảng cân đối kế toán và các sự kiện mới phát sinh ngày cuối năm.
Ví dụ: Một số séc của đơn vị đã ghi vào tồn quỹ của đơn vị ngày 31/12, đầu
năm sau khi nộp vào ngân hàng mới biết là không có khả năng thanh toán. Nếu số
tiền trên séc là trọng yếu, cần phải điều chỉnh lại tồn quỹ ngày 31/12 và loại trừ
những séc không có khả năng thu tiền này…
Những sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến
báo cáo tài chính nhưng cần công khai. Các sự kiện này thường bao gồm: sự
phát hành trái phiếu hoặc các chứng khoán vốn, sự tụt giảm thị trường chứng
khoán làm giảm các khoản đầu tư, khách hàng có số dư khoản phải thu lớn bị
phá sản do gặp thiên tai, hoả hoạn,…
Các thủ tục kiểm toán của việc xem xét các sự kiện trên được chia làm hai nhóm:
Nhóm các thủ tục thường được kết hợp với
nhau thành một phần của quá trình kiểm tra các số dư tài khoản cuối năm.
Nhóm các thủ tục thực hiện đặc biệt nhằm mục
đích phát hiện các sự kiện hoặc quá trình phải được thừa nhận trong kỳ kiểm
toán.
2.2.3.2. Đánh giá kết quả của toàn bộ công việc kiểm toán khoản mục vốn bằng
tiền
Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán khoản mục vốn
bằng tiền, kết quả thu thập được và cân nhắc để đưa ra ý kiến nhận xét về khoản
mục này để nhận xét về báo cáo tài chính. Để đạt được mục đích này, Kiểm toán
viên thường thực hiện các công việc sau:
Áp dụng các thủ tục phân tích
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 chỉ rõ: “Kiểm toán viên phải thực hiện
các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét
tổng thể báo cáo tài chính. Thủ tục phân tích cũng có thể được thực hiện ở các giai
đoạn khác trong quá trình kiểm toán”. Việc áp dụng các thủ tục phân tích trong
giai đoạn kết thúc kiểm toán nhằm mục đích đánh giá tính đồng bộ và xác thực của
các thông tin tài chính thu thập được, nhất là các số liệu thu được của các khoản
mục trên báo cáo tài chính.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Đánh giá sự đầy đủ của các bằng chứng kiểm toán
Chuẩn mục kiểm toán quốc tế số 500 có nêu: “Các Kiểm toán viên phải thu
thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để đi đến kết luận hợp lý mà
căn cứ vào đó Kiểm toán viên đưa ra ý kiến kết luận của mình”. Do vậy, cần xem
xét mọi khía cạnh của khoản mục vốn bằng tiền có được kiểm soát đầy đủ không,
kiểm tra lại tính chính xác của các chứng từ. Nếu Kiểm toán viên xét thấy chưa đủ
bằng chứng về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính thì có thể tiến hành
thu thập thêm hoặc ra quyết định loại trừ.
Đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được.
Kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp các sai sót không trọng yếu phát hiện
được trong quá trình kiểm toán. Lập các bút toán điều chỉnh đối với các sai sót
trọng yếu và đánh giá lại. Sau đó so sánh với các sai sót có thể bỏ qua xem có thể
chấp nhận được khoản mục không?
Kiến nghị về những vấn đề còn tồn tại ở đơn vị khách hàng
Qua quá trình kiểm toán tại đơn vị khách hàng, Kiểm toán viên rút ra kết luận
về mục tiêu kiểm toán, chỉ ra các vấn đề còn tồn tại trong quản lý và hạch toán kế
toán tại đơn vị khách hàng.
2.2.3.3. Xem xét lại các tài liệu kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
Mục đích của công việc này là đánh giá việc thực hiện của Kiểm toán viên
chưa có kinh nghiệm và đảm bảo rằng cuộc kiểm toán thoả mãn các chuẩn mực
thực hiện của công ty kiểm toán. Vào giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán có quy
mô lớn, toàn bộ tư liệu kiểm toán sẽ được một Kiểm toán viên có kinh nghiệm và
độc lập không tham gia vào cuộc kiểm toán xem xét lại nhằm đánh giá khách quan
xem cuộc kiểm toán có được tiến hành hợp lý không, các Kiểm toán viên có khả
năng đánh giá các bằng chứng mà họ tập hợp được hay không, cuộc kiểm toán có
được thực hiện với sự thận trọng thích đáng hay không?
2.2.4. Chuẩn bị những điều cần trình bày trong thư quản lý về khoản mục vốn
bằng tiền
Thư quản lý là thông báo cho khách hàng về những bình luận của công ty kiểm
toán đối với việc cải tiến công việc kinh doanh của khách hàng. Nó giúp cho
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Việc kết hợp kinh nghiệm của Kiểm
toán viên trong nhiều ngành kinh doanh khác nhau với một sự hiểu biết sâu sắc thu
được khi tiến hành kiểm toán, giúp cho Kiểm toán viên cung cấp cho ban quản trị
khách hàng nhiều thông tin bổ ích.
Thư quản lý không bắt buộc nhưng trong hầu hết các cuộc kiểm toán đều được
lập nhằm tạo mối quan hệ tốt hơn giữa công ty kiểm toán và khách hàng. Không
có tiêu chuẩn nào trong việc viết thư quản lý. Mỗi thư phải được triển khai để đáp
ứng phong cách của Kiểm toán viên và nhu cầu của khách hàng. Nhưng thư quản
lý phải chỉ ra được các nhược điểm và yếu kém của doanh nghiệp, ảnh hưởng của
nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét