Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lời mở đầu
Kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế
của hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa
chính trị toàn cầu. Ở Việt Nam kinh tế tư nhân càng có vai trò quan trọng
trong việc hình thành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát
triển kinh tế cũng có nghĩa là bảo tồn tính đa dạng phong phú của đời sống
kinh tế, xem nó như nguồn gốc của sự phát triển .
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
vấn đề phát triển kinh tế nhiều thành phần được đặt ra như một yêu cầu tất
yếu đối với nền kinh tế kinh Việt Nam. Kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã trải
qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nhưng nó có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân của nước ta. Cùng với chủ trương chuyển nền kinh tế
việt Nam sang kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước Việt Nam đã ban hành
nhiều chủ trương chính sách để phất triển các thành phần kinh tế trong đó có
nền kinh tế. Đối với nước ta kinh tế là thành phần kinh tế non trẻ của nước ta
đang phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn. Có nhiều khó khăn, chính
sách, môi trường đầu tư và cách thức tổ chức quản lý của nhà nước và xã hội
đang là trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế.
Thành phần kinh tế ở Việt Nam từ khi hình thành và phát triển đến nay
đã có rất nhiều đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam
đang đứng trước thời cơ của công cuộc CNH, HĐH phấn đấu thành một nước
có nền kính tế phát triển trong khu vực và trên thế giới chính vì thế chúng ta
đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế đóng một vai trò
quan trọng. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn nhiều hạn chế, để xây
dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế như một động lực phát
triển cơ bản là một hướng đi đúng đắn. Kinh tế tư nhân Việt Nam đã phát
triển và có vai trò quan trọng tronng kinh tế của nước ta nhưng vẫn còn nhiều
hạn chế chưa được phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó. Chính vì vậy
em đã chọn đế tài : “Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.
Tuy nhiên do thời gian có hạn và nguồn tài liệu ít nên không tránh khỏi
những hạn chế thiếu sót mong cô giáo hướng dẫn em thêm .
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cùng
các bạn đã giúp đỡ em trong qúa trình làm đề án.

1
I, LÍ LUẬN CHUNG.
1.Quan niệm về kinh tế.
Một trong những nội dung có tầm quan trọng hàng đầu trong đường lối
đổi mới của Đảng là phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế.
Đại hội IX đã khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là một trong sáu thành plhần
kinh tế của nước ta. Đây cũng là đặc trưng quan trọng của cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì không có kinh tế nhà nước sẽ không có
định hướng xã hội chủ nghĩa, không có nền kinh tế sẽ không có nền kinh tế
thị trường.
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một cơ quan chính trị nào, một cơ quan
chức năng nào xác định như thế nào là tư bản tư nhân. Ngay cả Tổng cục thốn
kê- một cơ quan chức năng “ lượng hoá” các khái niệm, các chỉ tiêu, tính
toán- cũng chỉ được gửi đến các đơn vị trong nghành khi phân loại thành
phần kinh tế trong thống kê. theo quy định này : kinh tế bao gồm các doanh
nghiệp kinh tế, công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần( mà tư
nhân chiếm 51%số vốn trở lên), công ty hợp danh tư nhân.
Các thành phần kinh tế ở nước ta là thành phần kinh tế cá thể , tiểu chủ
và thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa
trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của người lao động.
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà xuất kinh doanh dựa trên cơ
sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột người
làm thuê.
Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản.
-Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
-Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50

thành
viên góp vốn thành lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty bằng tài sản của minh.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công
ty được chia thành nhiều thành phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu
cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
2
cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. Phần góp vốn của các thành viên
trong công ty được thể hiện bằng hình thức cổ phiếu.
Công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công ty
đối nhân, trong đó ít nhất 2 thành viên đều là cá nhân hay thương nhân cùng
tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung hay hội danh và cùng
liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty.
2. Đặc điểm về kinh tế ở nước ta hiện nay.
2.1. Đặc điểm của kinh tế tư nhân.
Một là, kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân, động lực thúc đẩy xã
hội phát triến. Sự tồn tại của loài người từ trước tới nay đã chứng minh rằng
lợi ích của mỗi cá nhân là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy xã họi phát
triển. Nền kinh tế thị trường tồn tại chủ yếu dựa trên lợi ích cá nhân, tôn trọng
lợi ích cá nhân. sự hội sinh và phát triển của nền kinh tế tư nhân trong những
năm đổi mới vừa qua chính là nhờ đã kết hợp đúng lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội trong quá trình sản xuất , do đó đã tạo ra động lực quan trọng thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hai là, kinh tế tư nhân mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là mô
hình tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hoá ở giai đoạn cao. Kinh tế
thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Trong đó cơ chế
thị trường chủ yếu là dựa trên quy mô hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu
cao nhất và cuối cùng tạo ra giá trị thặng dư.
Ba là, kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường. Kinh té thị
trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế thị trường vận
hành có hiệu quả cao.
Tóm lại sự tự do tham gia kinh doanh của kinh tế tư nhân mà chủ yếu là
các doanh nghiệp vào bất kỳ lĩnh vực sản xuất nào cũng là cơ sở của kinh té
thị trường ở đó có sự cạnh tranh của những người bán và những người mua.
Đó chính là động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
2.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay.
2.2.1 Kinh tế tư nhân ở nước ta đang tồn tại và phát triển trong những
điều kiện chủ yếu sau:
Kinh tế tư nhân được phục hồi và phát triển nhờ công cuộc đổi mới do
Đảng khởi xướngvà lãnh đạo.
3
Kinh tế tư nhân hình thành và phát ttiển có nhà nước xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Kinh tế tư nhân ở nướ ta ra đời trong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị
trong xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển ở một nước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chậm phát triển, trong bối cảnh thực hiện
công nghiệp hoá hiện đại hóa, giải phóng sức lao động.
2.2.2 Kinh tế tư nhân ở nước ta có đặc điểm khác về bản chất so với kinh
tế ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay điều đó thể hiện ở chỗ:
Kinh tế ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Kinh tế ở nứơc ta phát triển theo định hướng mà Đảng Cộng Sản Việt
Nam để ra thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật của Nhà Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kinh tế tư nhân ở nước ta ngay từ khi mới ra đời đã mang trong mình
những yếu tố có tính xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân ở nước ta cũng góp
phần tăng cường khối đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì mục
tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
2.2.3 Mối quan hệ trực tiếp giữa chủ doanh nghiệp của kinh tế với công
nhân, người lao động trong từng doanh nghiệp không còn không còn là quan
hệ đối kháng, không hoàn toàn là quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa một bên là
người làm thuê, bị bóc lột, bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất như trước đây nữa
mà mang tính chất hợp tác.
2.2.4 Sự phát triển của kinh tế góp phần tăng tính cộng đồng dân tộc, yếu
tố dân tộc, hình ảnh của dân tộc trong cộng đồng quốc tế. Sự mở rộng của các
loại sản phẩm mang thương hiệu việt trên thị trường thế giới là một minh
chứng nhằm tăng cường hình ảnh Việt Nam ,yếu tố Việt Nam trong tiến hành
hội nhập kinh tê quốc tế.
2.2.5.Đặc điểm về sở hữu:
Thành phần này tồn tại gắn với sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản
xuất. Chính vì thế kinh tế tư nhân có thời kì bị coi là biểu hiện của chủ nghĩa
tư bản nên có thời gian nó đã bị cấm tồn tại ở nước ta
4
3. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của kinh tế
trong nền kinh tế thị trường
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã mô tả một cách đầy đủ và
toàn diện về sự xuất hiện của sở hữu tư nhân đã khẳng định: chế độ sở hữu tư
nhân ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất
và phân công lao động xã hội và là cơ sở làm nảy sinh, tồn tại và phát triển
của kinh tế tư nhân. Sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân
trong lịch sử đã chứng minh nó là một động lực cá nhân, thuộc tính tồn tại
lâu đời của con người và xã hội loài người.
Thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta là thời kì đấu tranh giữa
những cái cũ và cái mới, những cái nào có nhiều ưu điểm hơn thì tồn tại . Nền
kinh tế của nước ta vốn dĩ không đồng đều vế tính chất và trình độ sản xuất
của lực lượng sản xuất và theo yêu cầu của quy luật thị trường thì phải có sự
đa dạng về hình thức của quan hệ sản xuất. Kinh tế tư nhân là một trong số
những thành phần kinh tế cần phải phát triển mạnh hơn nữa để xây dựng nền
kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa nên một trong những khuyết tật của nó là nạn thất
nghiệp. Thực tế kinh tế tư nhân đã góp phần lớn vào giải quyết nạn thất
nghiệp ở nước ta tạo ra sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế.
Sự tồn tại của kinh tế tư nhân đã có tác dụng lớn đối với nền kinh tế
nhiều thành phần để giải phóng mọi năng lực sản xuất và khai thác các tiềm
năng kinh tế của đất nước, thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đẩy nhanh
quá trình phát triển và hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta.
II. THỰC TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM.
1. Tiến trình phát triển
1.1. Thời kì trước đổi mới (trước năm 1986).
Trong thời kì phát triển của đất nước được coi như là cao trào của quá
trình quốc hữu hoá và hợp tác hoá, kinh tế hầu như không tồn tại. Trong công
cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất được thực hiện trên phạm
vi cả nước. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 ngoài nhiệm vụ khắc phục hậu quả
chíên tranh, tiến hành cải tạo kinh tế xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội.
Kinh tế tư nhân vẫn tồn tại nhưng với một lượng rất nhỏ ; trong công nghiêp
5
vẫn còn có trên dưới 60 vạn người sản xuất cá thể năm 1980 :50,3 vạn , năm
1981:55,1 vạn, năm 1983 :66,6 vạn, năm 1984 :64 vạn, năm 1985 : 59,3 van.
Số lượng hoạt động trong kinh tế vẫn chiếm trên 20% tổng số lao động
ngành công nghiệp, năm 1980 :22,3% năm 1984 :26% năm1985 :23%
năm1986 :23,2%.
Giá trị sản lượng công ngiệp do khu vực kinh tế tạo ra hạng năm chiếm
trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp.
Những người kinh doanh thương nghiệp những năm 1980 cũng ở mức 60
vạn, năm 1982 :63,7 vạn, năm 1985 :63,7 vạn, năm 1986 : 56,8 vạn.
Đó là những số liệu cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự
hiện diện của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dài như một tất yếu
khách quan. Tuy bị kìm hãm, trong những điều kiện khó khăn nhưng kinh tế
cá thể vẫn tồn tại và ngày càng khẳng định chỗ đứng của mình.
1.2. Thời kì sau đổi mới (sau năm 1986).
Sự phát triển của nền kinh tế đã trải qua một quá trình nhiều biến động,
trong quá trình đó kinh tế có nhiều thăng trầm.Từ đường lối đổi mới ( đại hội
VI của Đảng 12-1986) khẳng định xây dựng, phát triển nền kinh tế nước ta
với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài.
nghị quyết trung ương khoá VI ghi rõ : chính sách kinh tế nhiều thành plhần
có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xúât nhỏ lên sản xuất lớn
XHCN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, tư nhân được kinh doanh
không hạn chế trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Nhờ có
chính sách đổi mới kinh tế đựơc thừa nhận và tạo điều kiện phát triển đóng
góp tích cực và phát triển kinh tế của đất nước.
Trong công cuộc đổi mới khu vực kinh tế đã dần khẳng định được vai
trò vị trí của mình.
Trong công nghiệp tư nhân đã mở rộng các cơ sở hiện có, hoặc xây dựng
thêm các cơ sở mới. Năm 1988 khu vực nàyđầu tư thêm 80tỷ đồng, thành lập
thêm 17000 cơ sở, trong đó có 46 xí nghiệp tư nhân, 1100 cơ sở tiểu thủ công
nghiệp và hơn 15000 hộ cá thể. Năm 1989 số vốn đầu tư tăng thêm 102 tỷ
đỗng số xí nghiệp tăng gấp 4 lần so với năm 1988 từ 102 xí nghiệp tăng lên
1284 xí nghiệp , hộ tiểu thủ công nghiệp và cá thể từ 31,85 vạn lên 33,33 vạn
6
tăng4.6%. Trong hai năm1990- 1991 số vốn tăng thêm mỗi năm khoẩng 100
tỷ đồng. Năm 1989 thành phần kinh tế thu hút thềm 39,5 nghìn lao động.
Năm 1990 nước ta ban hành Luật công ty và luật doanh nghiệp, đã tạo
động lực cho khu vực kinh tế tiếp tục phát triển. Năm 1991 so với năm 1990
tăng thêm 4000 cơ sở và lao động tăng thêm 10 nghìn người. Tỷ trọng giá trị
sản lượng công nghiệp khu vực tư nhân, cá thể chiếm trong giá trị tổng sản
lượng toàn nghành công nghiệp tăng khá nhanh năm 1986 là : 15,6% thì đến
năm 1990 là : 26,5%.
Trong thương nghiệp, lao động của thành phần kinh tế phát triển nhanh
chóng: năm19886: 64 vạn người, thì đến năm 1990 đã tăng lên 81,1. ngoài ra
còn có lực lượng thương nghiệp kkhông chuyên tham gia hoạt động, năm1990
có khoảng 16i vạn người.
Trong giao thông vận tải, năm 1990 có 97194 họ tư nhân cá thể làm dịch
vụ vận tải. Tổng số lao động vận tải 138,5 nghìn người. Năm 1990 thực hiện
vận chuyển 16,6 triệu tấn hàng hoá chiếm 36,35% khối lượng vận chuyển
hàng hoá của tất cả các thành phần kinh tế và 165,3 triệu lượt hành khách,
chiếm 28,6 % khối lượng vận chuyển hành khách toàn nghành.
Tỷ trọng doanh số bán hàn hoá và dịch vụ của tư nhân trong tổng mức
bản lẻ hàng hoá dịch vụ tiêu dùng của xã hội ngày càng lớn: năm 1986 :
45,6% thì đến năm 1990: 66,9%, và năm 1991 đạt : 73,1 %.
Sự phát triển của kinh tế vẫn tiếp tục tăng trong những năm 1991-1996,
nhưng trong 2 năm 1997-1998 tốc độ plhát triển kinh tết tư nhân châm lại do
khủng hoảng tài chính khu vực, số hộ kinh doanh cá thể năm 1997 giảm, số
doanh nghiệp năm 1998 giảm.
Năm 1999 Luật doanh nghiệp được quốc hội thông qua và năm 2000 ban
hành Luật doanh nghiệp (thay cho luật công ty và luật doanh nghiệp trước
đây). Đạo luật này đi vào cuộc sống rất nhanh, tạo ra bước ngoặt, đột phá
trong nền kinh tế của nứơc ta đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân từ năm 2000
đến nay. Theo tổng cục thống kê, đến cuối năm 2000 cả nước ta có khoảng
59473 doanh nghiệp tư nhân với số vốn 52000 tỷ đồng, sử dụng tới 60000 lao
động và góp 7,6% GDP. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này chủ yếu là do môi
trường kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực tạo điều kiện cho kinh tế phát
trỉên. luật doanh nghiệp và các nghị định số 57 và 44 có vai trò quan trọng
7
nhất, tạo ra những bước ngoặt phát triển kinh tế. Số doanh nghiệp thành lập
trong vòng một năm sau khi có luật doanh nghiệp năm 2000 tương đương với
số lượng doanh nghiệp của 5 năm trước đây.
2. Đánh giá chung về thực trạng của nền kinh tế trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.1.Thành tựu đạt được.
Khu vực kinh tế đã tồn tại trong vòng 20 năm qua , song nó đã thể hiện
đựơc vị trí của nó trong việc phát triển lực lượng sản xuất của đất nước. Khu
vực kinh tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP , huy động vốn của
xã hội, tạo được nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thu nhân
sách cho Nhà Nước, sản xuất hàng xuất khẩu, tác động tich cực tới chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cỏ chế quản lý kinh tế, xã hội.
2.1.1 Đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước.
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhìn chung tăng trưởng ổn định trong
những năm gần đây. nhịp độ tăng trưởng năm 1999 :7,5% năm 2000: 12,55%
và chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong GDP, tuy năm 2000 có giảm chút ít
so với năm 1996 còn 28,48% năm 1996 còn 26,87% năm 2000. tỷ trọng GDP
giảm đi chút ít do sự tham gia và đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài(FDI).
Vào những năm đầu đổi mới, kinh tê tư nhân hầu như chưa có gì nhưng
đã chiếm 14% trong tổng sản phẩm công nghiệp trong nước(GDP) và
năm1995 và tăng kên 23% vào năm 2003/ trong sản xuất công nghiệp, vị trí
của kinh tế tư nhân còn cao hơn:32% năm 1995 và năm 2003.
Đâu tư toàn xã hội năm 2005 đạt 39% GDP, trong đó mục tiêu đế ra là
30-32% GDP. Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 326000 tỷ đồng, trong đó đầu
tư nước ngoài chiếm 17% đầu tư tư nhân trong nước chiếm 32%, 49% thuộc
về khu vực ngoài quốc doanh là một tỷ lệ ấn tượng
Dự báo trong năm năm tới nền kinh tế quốc dân sẽ có những bưốc đột
phá : mức đầu tư trong thời gian tới khoảng trên 40% GDP , tổng đầu tư toàn
xã hội 5 năm tới khoảng 130-140tỷ USD. Trong đó, 35% vốn nước ngoài,
65% trong nước, và đặc biệt khu vực tư nhân sẽ có tỷ lệ cao hơn nhiều hiện
nay, phải chiếm 53-54%.
8
2.1.2. Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội, nộp ngân sách
cho nhà nước.trong mười năm gần đay vốn đàu tư của khu vực tư nhân tăng
nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. năm 1999 tổng
số vốn đầu tư khu vực kinh tế đạt 31,542 ttỷ đồng chiếm 24,05%, năm 2000
đạt 35894 tỷ đồng tăng 13,8% so với năm 1999, chiếm 24,31% tổng số vốn
đầu tư toàn xã hội.
Tổng số vốn sử dụng thực tế cho khu vực kinh tế tăng nhanh, đối với các
doanh nghiệp tư nhân năm1999 là 79493 tỷ đồng, năm 2000 là 110071 tỷ
đồng, tăng lên38,5%. Các địa phương tăng mạnhvốn sử dụng thực tế của
doanh nghiệp là Hà Nội từ 10164 tỷ đồng năm 2000, tăng 63,055% tương ứng
ở thành phố Hồ Chí Minh từ 36954tỷ đồng tăng lên 52,353 tỷ đồng,tăng
41,67%
Đóng góp vào ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế ngày càng tăng.
năm 2000 nộp được 5900 tỷ đồng, ước tính chiếm 7,35% tổng thu ngân sách,
tăng 12,5% so với năm 1999, năm 2001 nộp 6370 tỷ đồng vào ngân sách nhà
nước, tăng 7,96% so với năm 2000.
2.1.3.Khu vực kinh tế tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo.
Số lượng lao động trong khu vực kinh tế là 46349876 người chiếm 14%
số lao động xã hôi, bằng 1,36 lần tổn số lao động trong khu vực kinh tế nhà
nước. Lao động của hộ kinh doanh cá thể là 3802056 người, của các doanh
nghiệp tư nhân là 841787 người.
Việc toạ ra nhiều việc làm mới đã góp phần thu hút nhiều lao động, nhất
là những người trẻ tuổihàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải
quyết lao động tinh giảm biên chế từ các cơ quan nhà nước.
Khu vực kinh tế đã góp phần đáng kể vào việc xáo đói giảm nghèo, cải
thiện đời sống nhân dân ở cả khu vực thành thị và nông thôn.
2.1.4.Khu vực kinh tế đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cỏ chế
quản lý kinh tế- xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sự phát triển của kinh tế đã đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vức kinh tế
phất triển góp phần thu hút sức lao động ở các vùng nông thôn vào các ngành
phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng
địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước.
9
Tóm lại kinh tế có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của xã hội, tạo
cho cá nhân vô số cơ hôi có việc làm để khẳng định mình. Kinh tế tư nhân có
đóng góp lớn cho nến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
2.2.Những tồn tại và yếu kém.
Bên cạnh những mặt tích cực và những đóng góp quan trọng của kinh tế,
thì khu vực này còn nhiều hạn chế.
2.2.1.Quy mô nhỏ, năng lực và sức cạnh tranh hạn chế.
Bản thân khu vực kinh tế mới phát triển nên khả năng tích tụ, huy động
vốn trong xã hội còn yếu, quy mô sản xuất manh mún.
Trung bình mỗi hộ kinh doanh phi nông nghiệp có số vốn kinh doanh là
29,78 triệu đồng, sử dụng 1,78 lao động, đối với hộ kinh doanh nông nghiệp
cũng có quy mô nhỏ, sử dụng lao động lao động gia đình. Trong các doanh
nghiệp thì số doanh nghiệp có dưới 50 lao động chiếm 90,9%, bình quân vốn
của một doanh nghiệp chỉ là 3,7 tỷ đồng. Mức trang bị vốn của các doanh
nghiệp tư nhân cũng rất nhỏ bé. đa phần trong số vốn doanh nghiệp bỏ ra là
để thuê mặt bằng sản xuất, xây dựng nhà xưởng… do đó cơ sở không có điều
kiện để mua máy móc thiết bị, kỹ thuật sản xuất lạc hậu.
2.2.2.Máy móc thiết bị lạc hậu và nguồn nhân lực hạn chế.
Khu vực kinh tế còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hiệu quả sản
xuất kinh doanh trong khoảng thời gian dài đảm bảo sức cạnh tranh cần thiết,
nhất là khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế do máy móc thiết bị công
nghệ lạc hậu,trong điều kiện vốn ít doanh nghiệp ít có khả nẳng cải tiến kĩ
thuật công nghệ. Doanh số cho vay của ngân hàng thương mại đối với khu
vực kinh tế tư nhân phi nông nghiệp mới chỉ chiếm 15,7%trên tổng sở vốn
cho vay của ngân hàng 24,3%. Các hộ kinh doanh cá thể được vay chiếm tỷ lệ
rất thấp giảm từ 2,75 xuống còn 2% tổng số vốn vay của ngân hàng. Do
không tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng nên khu vực kinh tế phải
vay nóng của dân cư làm lợi nhuận kinh doanhgiảm.
Mặc dù dân số trong độ tuổi lao động của nước ta là rất lớn nhưng để
kiếm được một lao động có trình độ kỹ thuật tay nghề cao thì rất hạn chế
chính vì thế khu vực kinh tế có nguồn nhân lực hạn chế là phổ biến.
2.2.3 Thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định.
10
Đa số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc doanh mới thành lập
cách đây mấy năm phần nhiều không có mặt bằng để sản xuất kinh doanh nên
phải đi thuê mặt bằng để sản xuất kinh doanh, chi phí thuê đất phải trả giá cao
hơn nhiều so với giá qui định của nhà nước dẫn đến chi phí sản xuất cao, tỷ
suất lợi nhuận thấp. Nhà nước và TƯ nên thu hồi quí đất đã giao cho các
doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị hành chính sự nghiệp nhưng hiện vẫn
chưa sử d sử dụng sai mụch đích hoặc sử dụng kém hiệu quả cho các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế thuê với giá cả và thời gian hợp lý để họ yên
tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
2.2.4 Thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm
Mặc dù khu vực kinh tế đã được khuyến khích của nhà nước nhưng khả
năng cạnh tranh của chúng còn kém hiệu quả đặc biệt là trên thị trường quốc
tế. Do vốn ít nên làm ăn cũng chỉ ở qui mô nhỏ, làm đến đâu đòi hỏi phải tiêu
thụ sản phẩm ngay đến đó. Nếu tiêu thụ sản phẩm chậm hoặc do bên mua
thanh toán tiền chậm dẫn tới tình trạng ngừng trệ sản xuất. Vì thế khả năng
cạnh tranh kém và yếu tố ổn định trong kinh doanh rất hạn chế dẫn đến thiếu
thị trường tiêu thụ.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế
2.3.1 Luật pháp, chính sách cơ chế quản lý vĩ mô.
Cơ chế chính sách phát triển thành phần kinh tế còn thiếu đồng bộ và
chưa nhất quán nên chưa có một khung khổ pháp lý phù hợp cho kinh tế phát
triển. Trong thực tế nhà nước vẫn còn nhiều quy định phân biệt đối xử giữa
các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh không bình
đẳng giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tư nhân còn gặp khó khăn
trong tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng nhà nước, bị hạn chế về điều kiện
sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, điều kiện vay vốn tín dụng để bổ sung
cho vốn tự có, thiếu thông tin thiếu sự rõ ràng trong các chính sách của nhà
nước đối xử với các thành phần kinh tế, thiếu khuôn khổ pháp lí về quỳên sử
dụng đất. Khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài còn thấp.
Đên nay, hệ thống pháp luật của chúng ta còn thiếu chưa đồng bộ và vẫn
chưa có sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong quốc doanh và ngoài quốc
doanh. Bên cạnh đó thủ rtục đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp tư
nhân còn rất phức tạp.
11
Chính vì thế chủng ta cần ban hành các chính sách cho phù hợp để thúc
đẩy sản xuất phát triển.
2.3.2 Thiếu một môi trường ủng hộ cho sự phát triển thành plhần kinh tế.
Trở ngại lớn đối với khu vực kinh tế là trong xã hội có thành phần định
kiến đối với khu vực kinh tế, chưa nhìn đúng vai trò nhà kinh doanh tư nhân
trong xã hội. Còn tồn tại cách nhìn nhận chưa bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế khi thực hiện chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế
quốc dân. Trong bối cảnh đó có quan niệm cho rằng khu vực kinh té tư nhân
sẽ ở vị trí thế yếu. Quan nịêm coi kinh tế gắn liền với bóc lột, tính tự phát,
luôn chỉ nhìn thấy những tiêu cực của khu vực kinh tế, ít phản ánh những mặt
tích cực, những đóng góp của khu vực này trong nền kinh tế. Vấn đế đình
kiến so sánh giữa những người lam kinh tế tưnhân và người làm doanh nghiệp
nhà nước.
2.3.3 Ý chí kinh doanh, tâm lý đầu tư của các chủ doanh nghiệp còn thấp.
Với những tồn tại yếu kém trên, quy mô nhỏ, máy móc, thiết bị công
nghệ lạc hậu…Thì việc thu hút các nguồn đầu tư lầ rất khó khăn. mặc khác,
các chủ doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mà họ cho là
nguy hiểm, làm cho sự phát triển hay đổi mới trong hướng kinh doanh vẫn
chưa có những bước đột biến.
Trình độ kĩ thuật của cán bộ còn thấp kém, tay nghề chưa cao, hàng hoá
làm ra chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, mà nhất là thị trường nước
ngoài, danh tiềng thương hiệu của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ít khi
được quẩng bá hay có tiếng trên thị trường thế giới.
Việc triển khai Luật doanh nghiệp trong thời gian qua đã tạo ra môi
trường kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư, tuy nhiên trên thực tế vẫn
còn nhiều biểu hiện vi phạm. một doanh nghiệp của tư nhân lợi dụng sự cởi
mở của Luật doanh nghiệp đã khai man trốn thuế, làm hàng giả, cạnh tranh
không lành mạnh ,buôn lậu làm giảm uy tín của các doanh nghiệp tư nhân
trên thị trương.
III, MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM THÚC ĐẨYB CỦA KINH
TẾ VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
12
1.Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát
triển.
Chúng ta cần tuyên truyền, phổ bíên rộng rãi quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước về phát triển kinh tế. trong chiến
lược, quy hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân, từng ngành, từng địa phương
cần xác định rõ hướng phát triển của các thành phần kinh tế, trong đó chú
trọng tới hướng phát triển các thành phần kinh tế, trong đó chú trọng tới thành
phần kinh tế quốc tư nhânl. Ngoài ra cũng cần xây dựng và hoàn thiện đồng
bộ luật pháp, chính sách bảo đảm tính nhấtquán và ổn định. Thúc đẩy nhanh
việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản bao gồm cả quyền sử
dụng đất để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân thuê mặt bằng sản
xuất, có chính sách giúp các doanh nghiệp tư nhân được vay vốn ngân hàng
hoặc góp vốn cổ phần với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước.
Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý doanh
nghiệp, đặc biệt tăng cường sự phối hợp giữa các sở, ngành, quận, huỳện
trong quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp cấp phép hoạt động…Tiếp
tục hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo sự bình đẳng khi tiếp cận các nguông
lực và thị trường, khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, chống độc
quyền, bảo vệ môi trường, chống sản xuất hàng giả… Khuyến khích khu vực
kinh tế phi chính thức chuyển sang đăng ký hoạt động theo Luật doanh
nghiệp.
Để thúc đẩy kinh tế phát triển , yếu tố quan trọng , không khó để nhận ra
chính là do môi trường đầu tư. Năm 2005 chính là thời điểm mà các chính
sách quan trọng này phát huy cao nhất. Luật Doanh nghiệp với nhiều ưu điểm
đã thúc đấy tích cực đầu tư trong nước. Ngoài ra nhà nước có thực hiện một
số giải pháp tạo chuyển biến quan trọng trong chính sách đất đai, cảng biển,
hải quan, và nhất là thủ tục hành chính.
2. Nhà nước có những biện pháp hỗ trợ kinh tế tư nhân.
Nhà nước ta cần có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ thành phận kinh té tư
nhân hơn nữa về các mặt chính sách ưu tiên về:
2.1 Về vốn tín dụng.
Khi các doanh nghiệp tư nhân có khó khăn vế vốn, tín dụng thì cần thực
hiện các giải pháp sau:
13
Xoá bỏ tình trạng phân biệt đối xử không bình đẳng trên thực tế trong
vay vốn giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhà nước và kinh
tế tư nhân. điều này đòi hỏi cần có sự nỗ lực của cả hai phía doanh nghiệp và
các ngân hàng thương mại. đối với các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu
quả kinh doanh, tăn cường uy tín của mình trên thị trường. Còn đối với các
ngân hàng cần có các chính sách thông thoáng cho các doanh nghiệp tư nhân
vay vốn để sản xuất. Ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng theo nguyên tắc
kinh doanh, tự chịu trách nhiệm, bảo toàn và phát triển được vốn, tăng cường
khả năng tiếp thị, năng lực thẩm định dự án, đánh giá rủi ro, năng lực kiểm tra
và giám sát vốn.
Các ngân hàng thương mại tíêp tục đổi mới hoàn thiện cơ chế tín dụng và
đảm bảo tiền vay để vừa đáp ứng phát triển của kinh tế tư nhân , phù hợp với
thực trạng xã hội.
+ Bổ sung quyền sử dụng đất, là tài sản đảm bảo tín dụng. Các vấn đề thế
chấp quyến sử dụng đất, phạm vi đảm bảo tìên vay cần được xem xét , bổ
sung cho phù hợp.
+Xúc tiến việc hình thành các quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợc các doanh nghiệp được vay vốn ngân hàng.
+Củng cố , thiết lập các mối quan hệ giữa các ngân hàng và các doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển.
2.2 Các giải pháp tài chính tạo điều kiện về mặt bằng cho sản xuất kinh
doanh.
Nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ để tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp cần sớm thực hiện các giải pháp sau:
Tháo gỡ các thủ tục vướng mắc để sớm giao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với các doanh nghiệp.
Sửa đổi các thủ tục rừơm rà về đất đai, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoạt động.
3. Đổi mới cơ chế chính sách tài chính nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế tư nhân.
3.1. Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân
phát triển.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét