Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
có thể có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn, uy tín
nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghĩa vụ của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào.
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn
vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữ tư
nhân về tư liệu sản xuất, Nhà nước có thể góp vốn nhưng không chiếm tỷ lệ
chi phối.
Doanh nghiệp tư nhân thành lập, hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh tế năng động, phát triển theo quy
luật kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh chủ yếu theo mục tiêu lợi nhuận,
sẵn sàng tham gia vào các lĩnh vực mạo hiểm với mức lợi nhuận vao và quan
tâm tới lợi ích của doanh nghiệp hơn lợi ích của xã hội.
1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân.
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính.
Doanh nghiệp tư nhân cũng giống như các doanh nghiệp khác là một
thực thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của doanh
nghiệp mang tính khách quan. Các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp chỉ có
thể áp đặt ý chí chủ quan của mình lên hoạt động của doanh nghiệp khi ý chí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
đó phù hợp với xu thế vận động khách quan của doanh nghiệp trong từng điều
kiện kinh tế xã hội nhất định. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được
hình dung là sản phẩm chủ quan của con người, được sử dụng để tác động lên
động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp tồn tại và thực hiện các
mục tiêu của mình.
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là tổng thế các hình
thức và phương pháp hoạt động lên hoạt động tài chính doanh nghiệp, nhờ đó
mọi nguồn lực của doanh nghiệp ( vốn, lao động, tài nguyên) được kết hợp
chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho doanh nghiệp tồn tại,
vận động để thực hiện các mục tiêu của mình.
Bởi vậy, mỗi loại doanh nghiệp khác nhau tất yếu hoạt động theo một cơ
chế riêng, phù hợp với sự tồn tại và hoạt động của bản thân mình.
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được cấu thành và chịu sự tác
động của nhiều yếu tố.
1.2.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp
tư nhân.
Theo khái niệm trên, có thể nêu một các khái quát các yếu tố chủ yếu
cấu thành cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm: pháp luật, hệ thống
các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật, quyết định quản lý của người quản
lý và mức độ phù hợp 3 yếu tố trên.
1.2.2.1 Yếu tố pháp luật:
Là yếu tố trước hết và quan trọng của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp.
Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong quản lý kinh tế
nói chung, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân nói tiêng chỉ có
thể đi vào thực tiễn khi nó được cụ thể hóa thành pháp luật. Vì, thông qua
pháp luật mọi yêu cầu của quản lý được cụ thể hóa thành các quy tắc quy định
về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến quản lý, đồng thời quy
định các biện pháp bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và đối với mỗi chủ thể khác
nhau được pháp luật quy định cho với những quyền và nghĩa vụ khác nhau,
nhờ đó trật tự trong nền kinh tế được duy trì. Ví dụ để thực hiện chủ trương
mở rộng quyết định tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp tư nhân, nhà
nước thông qua pháp luật quy định cho doanh nghiệp có các quyền rộng rãi
trong quá trình huy động vốn, quản lý sử dụng vốn….phù hợp với nhiệm vụ
của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Căn cứ vào quy định của pháp luật mà doanh nghiệp thực hiện được vai
trò tự chủ của mình. Bởi vì, chính yếu tố pháp luật đảm bảo an toàn cho hoạt
động kinh doanh có hiệu quả.
Từ những phân tích trên cho thấy yếu tố pháp luật có ý nghĩa rất quan
trọng trong cơ chế quản lý. Thực tế đã chứng minh rằng, việc chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế quản lý này sang cơ chết quản lý khác, thì điều trước hết cần
làm là thay đổi hệ thống chính sách, pháp luật trong quản lý. Đối với quản lý
hoạt động tài chính của các doanh nghiệp cũng vậy, pháp luật là cơ sở cho
hoạt động tài chính doanh nghiệp và là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền điều hành, giám sát, kiểm tra hoạt động tài chính doanh nghiệp. Tuy
nhiên nếu chỉ pháp luật không thôi thì chưa đủ, mà điều quan trọng cần thiết
phải thực hiện tiếp theo là đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.
1.2.2.2 Hệ thống các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật.
Hệ thống này bao gồm từ việc cụ thể hóa pháp luật tới việc triển khai
thực hiện pháp luật trong thực tế. Đối với mỗi chủ thể quản lý khác nhau thì
có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật.
1.2.2.3 Quyết định quản lý:
Hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá trình quản lý là quyết
định quản lý. Các quyết định quản lý phải phù hợp với quy định của pháp
luật, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp ( các điều
kiện về khoa học công nghệ, điều kiện về tài chính, điều kiện về thị trường, về
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
trình độ kỹ thuật của người lao động…), nhằm kết hợp chặt chẽ các yếu tố sản
xuất trong doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố vào mục đích kinh
doanh hoặc mục đích xã hội. Trong mọi quyết định quản lý phải luôn được
khách quan mà người quản lý ra quyết định trên cơ sở vận dụng các quy luật
khách quan.
Quyết định quản lý đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực tới hoạt động của
doanh nghiệp, còn ngược lại quyết định quản lý sai lầm sẽ làm cản trở hoạt
động của doanh nghiệp, và trong chừng mực nhất định không chỉ với doanh
nghiệp, còn làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước. Ví dụ, quyết định đầu tư
vào những ngành, những lĩnh vực mà doanh nghiệp không có khả năng về kỹ
thuật công nghệ hoặc đầu tư sản xuất bị hạn chế bởi thị trường…
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là sản phẩm chủ quan nhưng bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng.
1.2.3.1 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Là một yếu tố quyết định tới nội dung của cơ chế quản lý tài chính
doanh nghiệp. Những định hướng trong đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước là căn cứ để đặt ra yêu cầu đối với quản lý tài chính doanh nghiệp.
Sự thay đổi yêu cầu quản lý tài chính doanh nghiệp trong đường lối, chính
sách sẽ trực tiếp dẫn tới sự thay đổi trong nội dung của cơ chế quản lý tài
chính doanh nghiệp.
1.2.3.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp cũng làm ảnh hưởng tới cơ chế
quản lý tài chính. Vì thế cơ chế quản lý tài chính được đặt ra là để quản lý
hoạt động tài chính của chính doanh nghiệp. Việc thực hiện cơ chế phải bảo
đảm khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp, phát huy mọi tiềm năng của
doanh nghiệp, kết hợp hài hòa được các yếu tố của sản xuất để thực hiện tốt
nhiệm vụ kinh doanh, đồng thời, nhằm định hướng cho sự phát triển của
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
doanh nghiệp ở mức độ cao hơn.
1.2.3.3 Điều kiện thị trường trong nước và quốc tế.
Trên thực tế, các doanh nghiệp có tồn tại được hay không tồn tại được
không chỉ phụ thuộc vào sự bảo trợ của nhà nước mà điều quan trọng là sản
phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất có cung ứng được nhu cầu ngày
càng tăng lên và thường xuyên thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế
hay không. Bởi vậy, cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp phải tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có những quyền chủ động nhất định trong quản lý, sử dụng
tài sản và tiền vốn do nhà nước giao cho để có thể tập trung được nhu cầu của
thị trường, đồng thời đảm bảo sự can thiệp của nhà nước ràng buộc trách
nhiệm của nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp trong từng trường
hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích quốc gia.
1.2.3.4 Trình độ, khả năng nhận thức của người đưa ra quyết định
quản lý
Đây cũng là yếu tố làm ảnh hưởng tới cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp. Nhất là đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung trình độ
còn thấp.
Quyết định quản lý là hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá
trình quản lý tài chính doanh nghiệp, quyết định quản lý là kết quả của sự
nhận thức và kết hợp các quy định của pháp luật với thực trạng hoạt động của
doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường hoặc các đặt hàng của nhà nước.
1.2.4 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp nói chung , doanh
nghiệp tư nhân nói riêng được hiểu là tác dụng của việc thực hiện một cơ chế
quản lý nhất định đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp. Khi đề cập đến
vai trò của quản lý thông thường được xem xét tác động của cơ chế quản lý
đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp trên khía cạnh tích cực.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp tư nhân được thực
hiện ở những khía cạnh sau đây:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
- Là căn cứ để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động tài chính của
mình như: hoạt động huy động vốn, hoạt động quản lý, sử dụng vốn,
các hoạt động trong phân phối thu nhập của doanh nghiệp…
- Việc tuân theo một cơ chế nhất định, nhằm đảm bảo trật tự chung
trong hoạt động tài chính của các doanh nghiệp. Thông qua các qui
định của các văn bản pháp lý với các hoạt động tài chính của doanh
nghiệp đã tạo nên sự thống nhất, phối hợp nhịp nhàng, hài hòa trong
hoạt động tài chính của từng doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp
trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở đó nhà nước có
thể quản lý và định hướng được hoạt động tài chính doanh nghiệp.
- Trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định, đối với từng loại hình doanh
nghiệp cụ thể, cơ chế quản lý còn cho phép áp dụng các hình thức,
phương pháp quản lý mới, tiên tiến hơn. Ví dụ so với trước đây,
doanh nghiệp nhà nước có nhiều quyền rộng rãi hơn trong quản lý và
sử dụng vốn của doanh nghiệp như: được phát hành cổ phiếu, phát
hành trái phiếu, được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp…hoặc các doanh
nghiệp nhà nước được tham gia thị trường tài chính với tư cách là chủ
thể độc lập. Với những quy định đó, các hoạt động tài chính nhằm
làm cho doanh nghiệp hòa nhập với các doanh nghiệp khác trong điều
kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng phát triển.
Tất nhiên, như đã đề cập chỉ có thể nói đến vai trò của cơ chế quản lý tài
chính doanh nghiệp tư nhân khi nó phù hợp với xu hướng khách quan và tình
hình thực tế của doanh nghiệp, còn ngược lại, thì cơ chế quản lý tài chính
doanh nghiệp có thể làm cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh
nghiệp, chẳng hạn:
- Có ảnh hưởng mạnh đến các quyết định đầu tư của các doanh nghiệp
tư nhân:
Đối với bất kỳ quốc gia nào, chính sách tài chính luôn luôn là một công
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
cụ quan trọng để quản lý về mặt vĩ mô, điều chỉnh cơ chế nền kinh tế. Thông
qua chính sách tài chính, chính phủ có thể có những tác động khuyến khích
hoặc hạn chế đối với một hoặc một số lĩnh vực, lĩnh vực kinh tế phát triển
hướng theo chiến lược phát triển của quốc gia. Chẳng hạn, khi mức đánh thuế
của chính phủ tăng lên, phần thu nhập còn lại của nhà đầu tư giảm xuống, và
do đó mà sẽ có tác động hạn chế tăng trưởng nhu cầu, làm giảm sự gia tăng
đầu tư vào sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, nhất là khu vực tư nhân.
Ngược lại, khi mức đánh thuế của nhà nước giảm xuống sẽ có tác dụng
khuyến khích tăng trưởng đầu tư. Chính sách thuế còn tác động đến cơ cấu
đầu tư trong nền kinh tế. Đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân thì sự tác
động này lại càng nhạy cảm hơn, các doanh nghiệp này có ưu thế là linh hoạt,
dễ thay đổi ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, mặt khác, do quy mô nhỏ, năng
lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh hạn chế hơn các doanh
nghiệp có quy mô nên khả năng “ chống trả” với tác động từ môi trường hoạt
động của các doanh nghiệp tư nhân cũng có phần khó khăn hơn. Vì vậy các
phản ứng từ khu vực doanh nghiệp này khi chính phủ có những thay đổi trong
chính sách thuế cũng như chính sách tài chính nói chung thường nhanh hơn
các doanh nghiệp, tập đoàn có quy mô lớn.
Bên cạnh chính sách thuế, thì chính sách chi tiêu ngân sách của chính
phủ cũng có tác động đến môi trường hoạt động của các doanh nghiệp, trong
đó có doanh nghiệp tư nhân. Chằng hạn chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản…
- Là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện việc định hướng, hỗ trợ
đối với doanh nghiệp tư nhân.
Cơ chế quản lý tài chính có tác động rất lớn đến quyết định đầu tư của
các nhà đầu tư và dân cư đã phân tích ở trên, vì vậy trong chính sách hỗ trợ
với khu vực doanh nghiệp tư nhân, hầu hết các nước đều sử dụng các biện
pháp qua chính sách tài chính. Thông qua các chính sách thuế, chi tiêu chính
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
phủ, chính sách tài chính doanh nghiệp là những nhân tố có vai trò rất lớn tạo
ra các đòn bẩy kinh tế tác động đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân trên các
khía cạnh khuyến khích và định hướng phát triển doanh nghiệp thuộc khu vực
tư nhân trong những lĩnh vực mà chính phủ cần khuyến khích theo mục tiêu
phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ.
- Tác động trực tiếp đến việc tạo nguồn vốn từ kênh tín dụng ngân
hàng, giải quyết nhu cầu vốn cho hoạt động của các doanh nghiệp tư
nhân
Có thể khẳng định rằng, không một doanh nghiệp nào hoạt động mà
không có nhu cầu hỗ trợ nguồn vốn từ bên ngoài, và tín dụng ngân hàng chính
là kênh đáp ứng tốt nhất nhu cầu này của doanh nghiệp. Đối với các doanh
nghiệp tư nhân, một hạn chế mang tính phổ biến của các doanh nghiệp này là
quy mô vốn tự có nhỏ bé, thường xuyên thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Do
đó xét cả về lý luận và thực tiễn thì nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, đặc biệt
là tín dụng ngân hàng có ý nghĩa không thua kém bộ phận vốn tự có của
doanh nghiệp. Thậm chí, thực tế cho thấy, nguồn vốn vay từ bên ngoài còn
chiếm tỷ lê lớn hơn vốn tự có trong tổng vốn hoạt động của doanh nghiệp.
Ngay tại Nhật Bản, vốn tín dụng ngân hàng cũng chiếm khoảng 70% trong
tổng nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; ở Việt Nam ,
con số này lên tới 80-90%, và có thể nói doanh nghiệp đang “ sống” bằng
nguồn tín dụng ngân hàng. Từ thực trạng như trên thấy rằng, chính sách tín
dụng có tác động rất lớn đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân.
1.2.5 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân.
Chính sách tạo lập, huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn là bộ phận
quan trọng hàng đầu của cớ chế quản lý chính sách tài chính dối với doanh
nghiệp.
Việc hoạch định chính sách này phải nhằm động viên mọi nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức đầu tư trực tiếp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
và gián tiếp, như thành phần doanh nghiệp góp vốn cổ phần, liên doanh ở
trong và ngoài nước, cho vay vốn mua trái phiếu, tún phiếu, nằm khai thác
triệt để mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư và trong nền kinh tế quốc dân.
Bằng hệ thống các đòn bẩy kinh tế của cơ chế thị trường đặt các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế vào môi trường cạnh tranh, hạch toán kinh
doanh thật sự, buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tự chủ tài chính, sử
dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình tự
tích lũy vốn để phát triển.
Chính sách tạo vốn, quản lý, sử dụng vốn phải tác động đến sử dụng tiết
kiệm và có hiệu quả mọi nguồn của cải xã hội. Chính sách này cần được thay
đổi linh hoạt cho phù hợp với vị trí quan trọng của từng loại hình doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp tư nhân cũng mang những mục tiêu như vậy.
1.2.5.1 Chính sách huy động, tạo lập vốn.
Trong một môi trường và không gian kinh tế thống nhất của nền kinh tế
thị trường, nội dung chính sách huy động, tạo lập vốn đối với các doanh
nghiệp tư nhân vè nguyên tắc cơ bản giống như chính sách huy động, tạo lập
vốn đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên xuất phát từ tính đa dạng của
sở hữu vốn, các doanh nghiệp tư nhân có những điểm khác với doanh nghiệp
nhà nước trong quá trình tạo vốn.
Xuất phát từ các đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân, xuất phát từ mối
quan hệ của nhà nước với loại hình doanh nghiệp này trong việc thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước, để đảm bảo có sự quản lý trực tiếp của nhà nước đối
với doanh nghiệp tư nhân; đồng thời tạo điều kiện pháp lý để doanh nghiệp
hoàn thành các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình, nhà nước thông qua
chức năng của mình quy định nội dung mang tính nguyên tắc của cơ chế quản
lý tài chính đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân, bao gồm các vấn đề
sau:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Nhà nước không khống chế số vốn tối đa, mà khuyến khích các doanh
nghiệp tư nhân đầu tư vốn nhất là vốn tự có của bản thân vào kinh doanh càng
nhiều càng tốt, tất nhiến vốn đầu tư vào doanh nghiệp phải được đăng ký theo
pháp luật hiện hành và phải ghi vào điều lệ công ty.
Trong mọi trường hợp cần mở rộng quy mô đầu tư chiều sâu, các chủ
doanh nghiệp đều có quyền bỏ thêm vốn hoặc sử dụng lợi nhuận để lại dưới
hình thức quỹ dự trữ tài chính, để tái đầu tư hoặc phát triển các hình thức liên
kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều kinh doanh bằng hai
nguồn vốn: vốn tự có và vốn đi vay, tạo vốn từ các loại hình tín dụng cho
doanh nghiệp ( tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng của thị
trường vốn, tín dụng của các tổ chức kinh tế và cá nhân…)
Trong giai đoạn hiện nay, khả năng tạo vốn để cho vay qua thị trường vốn
còn hạn chế, thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp tư nhân là rất
quan trọng. Về lâu dài, các công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu, tín phiếu
công ty để huy động vốn bổ sung. Hình thức tạo vốn này là một điều kiện quan
trọng để hình thành thị trường vốn. Nhằm huy đông mọi nguồn vốn nhà rỗi trong
nền kinh tế và dân cư vào phát triển sản xuất kinh doanh.
1.2.5.2 Chính sách sử dụng vốn
Do đặc điểm về sở hữu vốn khác nhau, cho nên chính sách sử dụng vốn
đối với từng loại doanh nghiệp tư nhân không giống nhau. Chẳng hạn:
Các công ty cổ phần đều hoạt động theo quy định đối với công ty trong
luật doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp được thực hiện trong
phạm vi luật pháp và theo theo quyết định của hội đồng quản trị. Hội đồng
quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần.
Việc quản lý vốn và sử dụng vốn ở công ty cổ phần được thực hiện theo
quyết định của hội đồng quản trị. Ban giám đốc là cơ quan thừa hành các
quyết định của hội đồng quản trị, trực tiếp điều hành và quản lý vốn và quản
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét