Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm


- Tiền quỹ tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền quỹ tiết kiệm không kỳ hạn.
- Phát hành kỳ phiếu Ngân hàng.
- Hậu tiền ký gửi
v.v
Vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nớc : vay các Ngân hàng Nhà
nớc, nhận vốn điều hoà trong hệ thống.
+ Sử dụng vốn tự có và vốn vay thông qua hoạt động tín dụng thực hiện
các dự án đầu t dới hình thức ghóp vốn hay mua trái phiếu kho bạc, tài trợ xuất
nhập khẩu, đầu t kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc đá quý
+ Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng : thanh toán hộ, thu hộ, bảo hành
thực hiện các dịch vụ t vấn khách hàng.
Ngân hàng thơng mại hoạt động theo nguyên tắc tự chủ trong kinh
doanh, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ các chế độ, chính sách của
Ngân hàng Nhà nớc và chính phủ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Bộ
Tài Chính, bảo toàn vốn và có lãi.
Thực tế đã chứng tỏ rằng, với mô hình tổ chức trên, thì đây là mô hình tổ
chức thích hợp nhất trong nền kinh tế thị trờng, vì nó đáp ứng đợc đầy đủ nhu
cầu của nền kinh tế, đồng thời phát huy đợc hết sức mạnh sẵn có trong mỗi
NHTM và phát huy đợc hết vai trò của cả hệ thống NHTM nói riêng và cả hệ
thống Ngân hàng nói chung.
II - vai trò của hệ thống NHTM đối với nền kinh tế:
Nớc ta là một nớc nông nghiệp lạc hậu, trải qua một thời gian dài trong
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nên bớc vào cơ chế thị trờng gặp rất nhiều
khó khăn. Vấn đề lo đủ vốn để phát triển kinh tế đợc đa lên hàng đầu. Đối với
một nền kinh tế nh nớc ta thì vốn cần cho đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng là hết
sức lớn và không ngừng tăng lên.
5

Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu
phải có vốn để tăng tốc đầu t, từng bớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tho chiều h-
ớng công nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trởng kinh tế
nhanh và lâu bền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với Ngân hàng thơng mại, nó thể hiện đợc sự đáp ứng này đối với
nền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :
1) Ngân hàng th ơng mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế :
Nh chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa
và sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó ngời
thì thừa tiền, trong khi lại có những ngời cần tiền. Đối với những ngời, những
tổ chức có tiền tạm thời nhãn rỗi, thì vấn để đối với họ là làm sao bảo quản đợc
số tiền đó đợc an toàn và nếu có thể sinh lợi đợc thì càng tốt. Nhng để thực hiện
đợc điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng, vào mối quan hệ của từng ngời,
và thông thờng những ngời có tiền tạm thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những
ngời hay những tổ chức đang có nhu cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất
định chứ không trực tiếp đầu t vào sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi
tiền mặt. Tuy nhiên điều này hầu nh rất khó thực hiện đợc. Do vậy, trong xã hội
luôn luôn tồn tại mâu thuẫn này. Xét về mặt kinh tế thì lợng tiền này nếu đợc
tập trung lại để cho vay với những ngời đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh
tế cho cả ngời có tiền nhàn rỗi và ngời có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại
hiệu quả kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thơng mại chính là
ngời thực hiện chức năng cầu nối này.
6

2) Ngân hàng th ơng mại với hoạt động của mình ghóp phần
tăng c ờng hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Đặc trng cơ bản của Ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức lãi
suất nhất định và với một thời hạn nhất định, chính điều này đã bắt buộc mọi cá
nhân và doanh nghiệp khi vay vốn của Ngân hàng phải cân nhắc và phải sử
dụng vốn đó một cách có hiệu quả nhất, để có thể bảo toàn vào sinh lợi đợc vốn
đó, sau đó phải trả vốn vay và lãi đúng thời hạn. Đây chính là động lực thúc
đẩy các doanh nghiệp tăng cờng công tác hạch toán, giảm chi phí sản xuất nh-
ng phải tăng chất lợng sản phẩm và tăng vòng quay của vốn. Qua đó, tăng hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trớc khi quyết định một món vay Ngân
hàng thờng tiến hành thẩm định tín dụng, chỉ thực hiện cho vay đối với những
cá nhân, doanh nghiệp phải có sự sắp xếp, bố trí tổ chức sản xuất phù hợp, để
có cơ hội vay vốn của Ngân hàng, đây chính là động lực, là cơ sở giúp cho việc
tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nền kinh tế.
3) Ngân hàng th ơng mại là tổ chức thực hiện phân bổ vốn
giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng đều
giữa các vùng khác nhau trong cùng một quốc gia.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một nớc và đặc biệt là các nớc
đang phát triển, thì hiện tợng thừa và thiếu vốn giữa các vùng diễn ra thờng
xuyên. Cho nên một vấn đề cần giải quyết đợc đặt ra là làm sao thực hiện đợc
việc tập trung vốn từ vùng có nhu cầu nhng không có nguồn vốn sẽ có đủ
nguồn vốn để phát triển kinh tế. Chính Ngân hàng thực hiện hoạt động này
thông qua hoạt động điều chuyển vốn của Ngân hàng thơng mại trung ơng.
7

4) Ngân hàng th ơng mại thông qua hoạt động của mình ghóp
phần quan trọng vào việc chống lạm phát, ổn định sức mua của
đồng tiền, ổn định tình hình kinh tế.
Trong hoạt động của mình, Ngân hàng có thể giảm bớt lợng tiền mặt
trong lu thông bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền mặt vào đồng
thời tăng lãi suất ở đầu ra để hạn chế lợng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế có
lạm phát cao, hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngợc lại khi nền kinh tế có
hiện tợng giảm sút. Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho vay
nh trên, Ngân hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn chặn đ-
ợc sự tăng giá đột ngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.
5) Ngân hàng th ơng mại là cầu nối giữa kinh tế trong n ớc và
ngoài n ớc, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong n ớc hòa nhập với
nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế trên thế giới.
Một Ngân hàng thơng mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi với
rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động đợc vốn từ các cá nhân, tổ
chức ngoài nớc hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm bảo đợc vốn
cho nền kinh tế trong nớc, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nớc có
thể mở rộng hoạt động của họ ra nớc ngoài một cách có hiệu quả hơn, thông
qua hoạt động thanh toán quốc tế, t vấn tài trợ xuất nhập khẩu. Ngân hàng có
thể làm đại lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng nớc ngoài qua đó giúp các tổ
chức kinh tế trong nớc có thể vau vốn các tổ chức này để nhập công nghệ cao,
nang cao chất lợng sản phẩm đủ sức cạnh trạnh với thị trờng quốc tế.
Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng thơng
mại hoạt động trong cơ chế thị trờng. Trên góc độ một sinh viên nghiên cứu về
hoạt động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt động huy động vốn
ta sẽ xem xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy động vốn của một Ngân
hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
8

Iii - cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại :
Cũng giống nh mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt động
đợc trớc hết phải có vốn. Nhng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc
biệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân hàng thơng
mại là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại bao gồm :
1) Nguồn vốn tự có :
Nguồn vốn này đợc hình thành từ hai bộ phần là :
+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thơng mại, là
tiêu chuẩn đợc thành lập và đi vào hoạt động của NHTM. Về mặt quy mô thì
vốn điều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định.
Vốn điều lệ có thể do ngân sách Nhà nớc cấp (đối với vốn NHTM quốc
doanh), có thể do các thành viên đóng góp dới hình thức mua cổ phiếu (đối với
NHTM cổ phần) hoặc vốn điều lệ có thể do cá nhân tự bỏ vốn ra (đối với Ngân
hàng t nhân).
Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban đầu
của Ngân hàng. Các Ngân hàng thơng mại có trách nhiệm bảo toàn và phát
triển vốn này (đối với NHTM quốc doanh).
+ Vốn tích lũy : Vốn này đợc hình thành trong quá trình hoạt động của
Ngân hàng thông qua việc trích nộp các quỹ. Cứ mỗi Ngân hàng căn cứ vào kết
quả hoạt động của mình mà trích một phần lợi nhuận nhằm bổ xung vào vồn tự
có của Ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ này lại tuỳ thuộc vào quy định của từng n-
ớc.
2) Vốn dự trữ :
Theo quy định chung của các NHTM đều phải mở tài khoản tại các
Ngân hàng trung ơng và nộp vào đó các khoản dự trữ bao gồm :
- Dự trữ tối thiểu pháp định.
9

- Dự trữ để đảm bảo các hoạt động của Ngân hàng.
- Các khoản dự trữ đặc biệt đợc pháp luật qui định.
3) Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống.
Vì các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất
hiện tình trạng ở Ngân hàng này có hiện tợng thừa vốn do huy động nhiều nhng
không sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn. Sở dĩ có tình
trạng này là do : Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở thị
trờng đầu ra dẫn đến việc không mở rộng đợc hoạt động trong khi vẫn phải duy
trì việc huy động vốn vì mục đích giữ khách hàng. Còn về phía bên Ngân hàng
thiếu vốn do thị trờng đầu ra mở rộng trong khi thị trờng đầu vào không thể mở
rộng đợc hơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn. Chính lúc này Ngân hàng trung
ơng hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối chuyển vốn từ nơi thừa
sang nơi thiếu trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp
Ngân hàng có thể mở rộng đợc thị trờng đầu ra trong điều kiện thị trờng đầu
vào vẫn còn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.
4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà n ớc:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nớc thông qua hình
thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của
khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá nh : tín phiếu, trái phiếu kho
bạc Nhà nớc, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo
kảh năng thanh toán của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :
10

Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nớc đang phát
triển, bởi vì ở các nớc này Ngân hàng muốn có đợc vốn ở nguồn này phải đợc
phép của Ngân hàng Nhà nớc và thờng dới hình thức vay theo hiệp định.
5) Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể hoạt
động để cho vay. Đây là số tiền Ngân hàng nhận đợc dới nhiều hình thức khác
nhau.
- Nhận tiền gửi của khách hàng.
- Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng.
- Vốn phát hành.
Ngân hàng có quyền sử dụng số tiền này để phục vụ cho các mục đích
của mình. Nếu nh trong thời kỳ bao cấp, việc huy động vốn của Ngân hàng
theo quy chế tập trung toàn ngành và phụ thuộc vào chủ tiêu do trên giao thì
này chuyển sang hạch toán kinh doanh, huy động vốn đuợc thực hiện một cách
linh hoạt căn cứ vào các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nớc và nhu cầu vay
vốn của nền kinh tế.
Chi tiết về các hình thức này sẽ đợc trình bầy trong phần Các hình
thức huy động vốn của Ngân hàng
IV - các hình thức huy động vốn của NHTM :
1 Tính chất vận động của nguồn vốn huy động :\
Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay. Do đó, khi
huy động vốn, giữa Ngân hàng và các tổ chức kinh tế hình thành một quan hệ
tín dụng thông qua vận động giá trị tiền gửi, vồn huy động đợc vận động trên
cơ sở hoàn trả và có lãi. Quá trình đó đợc thể hiện ở giai đoạn sau :
- Giai đoạn tập trung nguồn vốn vào ngân hàng, ở giai đoạn này tiền đợc
chuyển từ các tổ chức kinh tế, dân c, ngời cho vay sang Ngân hàng - ngời đi
11

vay. Nh vậy, ta thấy rằng đặc điểm cở bản khác với việc đi mua bán hàng hoá
là giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại. Mác viết : Đối với hàng hoá đơn giản
với t cách là hàng hoá thì ở trong tay ngời mua hay ngời bán, nó cũng vẫn là
một giá trị nh thế, chỉ dới hình thức khác nhau mà thôi. Ngời bán và ngời
mua đều có một giá trị nh trớc, giá trị này mà họ đã nhợng đi, ngời thứ 1 thì
nhợng đi dới hình thức hàng hoá, ngời thứ 2 nhợng đi dới hình thức tiền tệ
trong việc cho vay thì chỉ có một bên đợc nhận giá trị và chỉ có một bên nhợng
đi giá trị mà thôi ? ( Các Mác t bản tập 3 trang 32).
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất sau khi huy động vốn ngân hàng
(ngời đi vay) đợc quyền sử dụng vốn đó để thoả mãn những nhu cầu về vốn
nhất định ở giai đoạn nàynguồn vốn huy động đợc sử dụng tham gia trực tiếp
vào sản xuất hoặc đáp ứng những nhu cầu về tiêu dùng của ngời đi vay. Tuy
nhiên ngời đi vay không có quyền sở hữu về giá trị các khoản vay không có
quyền sở hữu về gía trị các khoản vay đó mà chỉ đợc sử dụng tạm thời trong
một thời gian nhất định.
- ở giai đoạn hoàn trả: Đây có thể nói là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn của nguồn vốn huy động. Sau khi vốn mà ngân hàng đã huy động
tham gia hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì ngân
hàng hoàn trả cho các tổ chức kinh tế và dân c.
Mác viết: Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay ngời sở hữumột thời gian
và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay ngời sở hữu sang tay nhà t bản
hoạt động. Tiền chỉ đem nhợng lại với một điều kiện là sẽ quay trở về điểm
xuất phát sau một thời gian nhất định
( Các Mác- t bản quyển 3 tập 2 trang 57).
Nh vậy, hoàn trả là đặc trng thuộc về bản chất vận động của vốn tín
dụng. Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay trở
về giá trị. Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dới hình thức giá
trị. Tuy nhiên sự vận động đó không phải vơí t cách là phơng tiện lu thông mà
12

với t cách là một lợng giá trị vận động. Chính vì lý do đosự hoàn trả luôn đợc
bảo tồn về mặt giá trị và phần tăng thêm dới hình thức lợi tức. Ngay cả trong
điều kiện lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải đợc bảo đảm và tôn
trọng thông qua cơ chế điều tiết bằng lãi xuất.
2. Những nhân tố ảnh h ởng đến quy mô nguồn vốn huy động.
Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu đợc hình thành thông qua quá
trình tập trung một bộ phận tiền tệ của dân c, của các đơn vị kinh tế . Do vậy
hoạt động huy động vốn của một ngân hàng thơng mại chịu tác động của rất
nhiều yếu tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô đến các yếu tố ở tầm vi mô.
Trong đó các yếu tố chính yếu đợc phân tích nh sau:
a. Yếu tố lãi xuất huy động:
Không phải ngân hàng cứ đa ra đợc mức lãi xuất cao là có thể thu hút đ-
ợc vốn nhàn rỗi của dân c mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi xuất cụ thể do ngân
hàng đa ra sẽ đem lại cho ngời gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu, điều đó
có nghĩa là mức lãi xuất mà ngân hàng đa ra phải đảm bảo luôn lớn hơn tỉ lệ
lạm phát.
Thông thờng quy mô của tiền gửi ngân hàng biến động tỷ lệ thuận với lãi
xuất huy động. Tuy nhiên trong những trờng hợp đặc biệt thì quy luật này bị
phá vỡ. Chẳng hạn khi lãi xuất huy động giảm nhng ngời g ửi vẫn thu đợc một
khoản lợi tức sau khi đã trừ đi tỷ lệ trợt giá thì vốn lu động ở ngân hàng vẫn có
thể tăng lên. Nh vậy, có thể nói lãi suất huy động là yếu tố ảnh hởng lơn đến
quy mô nguồn vốn thu hút vào Ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất vấn ảnh hởng
lớn nhất đến tiền gửi tiết kiệm, Chính vì lẽ đó, khi đa ra mức lãi suất huy động
cụ thể, Ngân hàng cần phải căn cứ vào tình hình nền kinh tế, vào chính sách tín
dụng phơng hớng phát triển kinh tế của Nhà nớc.
13

b) Tính chất ổn định của nền kinh tế xã hội :
Một xã hội, một nền kinh tế đợc đánh giá là ổn định khi nó không có dấu
hiệu xảy ra của làm phát, của khủng hoảng hay chiến tranh. Nếu nền kinh tế xã
hội đợc ổn định thì đời sống nhân dân đợc nâng cao. Việc sản xuất kinh doanh
của các thành phần kinh tế đợc phát triển thì vốn Ngân hàng sẽ lớn. Còn ngợc
lại trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định giá cả và do đó sức mua của đồng
tiền thau đổi thờng xuyên, dân c thờng có xu hớng giữ tiền mặt hoặc quy đổi ra
các đồng tiền khác có tính ổn định cao và cất giữ trong gia đình thay vì đem số
tiền đó đến gửi tại các Ngân hàng, các quỹ tiết kiệm. Đặc biệt là trong các nớc
mà hệ thống Ngân hàng thơng mại chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng
trung ơng trong vấn đề lãi suất thì hiện tợng trên rất phổ biến do sẹ thay đổi vủa
lãi suất huy động mà Ngân hàng đa ra không thau đổi kịp với sự biến động của
giá cả trên thị trờng.
c) Yếu tố tiết kiệm trong nền kinh tế:
Vốn huy động của một Ngân hàng thơng mại chủ yếu đợc hình thành từ
nguồn huy động trong dân c. Đây là lợng tiền tạm thời nhàn rỗi có đợc chủ yếu
là do tiết kiệm, chính vì vậy mà công tác huy động vốn của một Ngân hàng
chịu ảnh hởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm. Nếu có tiết kiệm sẽ làm tăng khối l-
ợng tiền nhàn rỗi trong xã hội, qua đó có thể làm tăng quy mô và chất lợng
công tác huy động vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên, bản thân yếu tố tiết kiệm
chịu sự tác động của các yếu tố khác nh :
*0 Tâm ly ng ời tiêu dùng trong dân c : Yếu tố này ảnh hởng rất lớn đến
yếu tố tích kiệmm, bởi vì tâm lý tiêu dùng của dân rất khác nhau giữa các vùng,
các địa phơng và các quốc gia. Có thể với cùng một mức thu nhập, cùng một
giá sinh hoạt nh nhay nhng ở nơi này lợng tiền bỏ ra vào tiết kiệm rất lớn nhng
ở nơi khác lại rất nhỏ do tâm lý thích tiêu dùng của dân c ở đây. Chính vì lẽ đó
thu nhập cao cha hẳn tiết kiệm đã cao.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét