Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bôn - Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1991). Kỷ yếu hội thảo: "Thực trạng giai cấp
công nhân dưới tác động cơ thế thị trường" (Trung tâm nghiên cứu lý luận -
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hà Nội, 1993). "Một số vấn đề giai cấp
công nhân và công đoàn Việt Nam" (GS. Văn Tạo - Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997). "Bác Hồ với giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước". (PGS. TS Đỗ Quang Hưng (chủ Biên) - Nxb Lao động
Hà Nội,1999). "Tích cực hoá nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình" (Trần Thị Bích Liên - Luận án tiến sĩ, 2001). "Vấn đề
đình công của công nhân ở nước ta hiện nay" (Phạm Thị Xuân Hương - Luận án
tiến sĩ, 2001). "Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những
năm đầu thế kỷ 21" (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Viện Công nhân và
công đoàn, Nxb Lao động Hà Nội, 2001) Các công trình nêu trên đã khai thác
tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến công nhân, xu hướng biến động
của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặt khác đã đưa ra những giải
pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu
cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Gần đây, còn một số công trình khác nghiên cứu trực tiếp đến mối quan
hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân;
vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước như: "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp
công nhân" (PGS Cao Văn Lượng (chủ biên) - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001). "Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (Trần Ngọc Sơn - Luận án tiến
sĩ, 2001). Kỷ yếu hội thảo: "Về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá". (Trường Đại học Công đoàn Việt
Nam, Hà Nội, 2002). "Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước". (PGS. TS. Dương Xuân Ngọc - Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004) Trong các công trình này đã đề cập đến mối quan hệ biện
chứng giữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển
5
của giai cấp công nhân, đặt ra những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân
cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của
thực tiễn đặt ra.
Ngoài những công trình nêu trên còn một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu
thực trạng và đưa ra những phương hướng giải pháp cơ bản nhằm xây dựng,
củng cố và phát triển đội ngũ công nhân ở các địa bàn cụ thể, chẳng hạn như:
"Công nhân Hải Phòng trong công cuộc đổi mới những vấn đề đặt ra và phương
hướng giải quyết" (Nguyễn Văn Năm, 1995). "Xu hướng biến đổi phương hướng
và giải pháp xây dựng đội ngũ công nhân Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện
nay" (Vũ Minh Thủ, 1998). "Xây dựng đội ngũ công nhân Đồng Nai đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Phạm Hồng Hải, 2002)
Riêng đối với tỉnh Thái Nguyên dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban
nhân dân tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh cũng đã tiến hành khảo sát đưa ra những
đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh. Song nhìn
chung chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn
đề phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở cấp tiến sĩ hay thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ thực trạng và xu hướng biến động của đội ngũ công nhân Thái
Nguyên, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát
huy vai trò đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những quan niệm cơ bản như: Giai cấp công nhân Việt Nam;
quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mối quan hệ giữa công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của đội ngũ công
nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
6
- Đánh giá thực trạng của đội ngũ công nhân Thái Nguyên, tìm ra những
nguyên nhân và những vấn đề đặt ra. Từ thực trạng đó, dự báo xu hướng biến động
của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và
phát huy vai trò của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu và phạm vi
nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó, về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Cơ sở thực tiễn là kết quả điều tra thực trạng công nhân ở các doanh
nghiệp trong và ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Coi trọng phương pháp logíc - lịch sử; kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, thống kê
- Kế thừa một cách chọn lọc các thành tựu nghiên cứu có liên quan đến
luận văn.
4.3.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đội ngũ công nhân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời
kỳ đổi mới từ 1986 đến nay.
5. Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng đội ngũ công nhân ở Thái
Nguyên, dự báo xu hướng biến động của nó, trên cơ sở đó đưa ra một số giải
pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò đội ngũ công nhân ở Thái Nguyên trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
6. Ý nghĩa của luận văn
7
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các
cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Thái Nguyên tham khảo, vận dụng trong việc xây
dựng chính sách nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ công nhân trên địa bàn toàn
tỉnh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy nghiên
cứu về giai cấp công nhân ở các trường chính trị tỉnh, thành phố.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia làm 3 chương, 6 tiết.
8
Chương 1. GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG
NHÂN THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1.1. Về giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm về giai cấp công nhân
Khái niệm về giai cấp công nhân được đề cập đến ngay khi giai cấp công
nhân xuất hiện trên vũ đài chính trị. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tùy thuộc ở
lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận
khác nhau đưa ra nhiều ý kiến không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Đến
nay giai cấp công nhân là gì? Nó còn hay đã "biến mất"? Địa vị kinh tế - xã hội
của nó ra sao? tất cả vẫn đang là trọng điểm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa
học trên thế giới. Thực tiễn cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
giai cấp công nhân vẫn hàm chứa tính khách quan và khoa học hơn cả bởi nó
dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng duy vật. Trong rất
nhiều tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét khái niệm giai cấp
công nhân trên tất cả các khía cạnh, các dấu hiệu đặc trưng nhất và các thuộc
tính bản chất của nó. Chẳng hạn như, ngay từ 1845, khi bắt tay vào nghiên cứu
giai cấp công nhân trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" C.Mác đã đặt câu hỏi:
"Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của
bản thân nó giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử" [33, tr.56].
Cũng trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen còn bàn nhiều và đã sử
dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về giai cấp công nhân như trong Lời nói
đầu tác phẩm: "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen" (1844). C.Mác
đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và xu hướng phát triển của giai cấp công
nhân - ở đây C.Mác sử dụng thuật ngữ giai cấp vô sản. Theo C.Mác: "Giai cấp
vô sản Đức là con đẻ của nền đại công nghiệp non trẻ đang hình thành ở Đức".
9
Quan điểm của Mác không những chỉ rõ giai cấp vô sản được hình thành từ
CNTB công nghiệp mà còn là đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ đang trong
giai đoạn hình thành và phát triển.
Trong tác phẩm "Tình cảnh những người lao động ở Anh" (1844-1845).
Ph.Ăngghen khẳng định:
Giai cấp công nhân Anh là kết quả chủ yếu của cuộc cách mạng công
nghiệp ở Anh. Lịch sử giai cấp công nhân Anh bắt đầu từ nửa thứ hai của thế kỷ
XVIII. Công nghiệp nhỏ đã làm nảy sinh ra giai cấp tư sản, công nghiệp lớn đã nảy
sinh ra giai cấp công nhân. Công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong trào
công nhân [33, tr.354].
Ngoài ra, C.Mác và Ph.Ăngghen còn sử dụng một số thuật ngữ khác
ngoài "giai cấp vô sản", "giai cấp công nhân" để biểu đạt khái niệm "giai cấp
công nhân". Chẳng hạn như: "giai cấp vô sản công nghiệp", "giai cấp vô sản
hiện đại", "giai cấp công nhân hiện đại', "giai cấp công nhân công xưởng, nhà
máy", "giai cấp công nhân đại cơ khí" Bên cạnh đó, trong một số điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử dụng một số hình thức diễn đạt khác như
"lao động làm thuê", "giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao
động của mình", "giai cấp của những người hoàn toàn không có của", "giai
cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX" Có thể khẳng định rằng, các thuật ngữ
đã nêu chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt trong những văn cảnh cụ thể
của một khái niệm: "Giai cấp công nhân" với sự thống nhất về bản chất: lực
lượng lao động trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
C.Mác, Ph.Ăngghen phân biệt giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
thế giới và bản chất cách mạng với bộ phận công nhân đã bị tha hóa, đánh
mất mình bằng những thuật ngữ đối ngược nhau: giữa một bên là "giai cấp vô
sản cách mạng" với một bên là "tầng lớp vô sản lưu manh" mất gốc, những
phần tử cặn bã của xã hội, và như vậy cũng đồng nghĩa với việc phân biệt giai
cấp công nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục, trở thành
công cụ của giai cấp tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong,
10
mưu toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật
tự của "chủ nghĩa tư bản" vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư
tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng mà ở đây các ông đã sử dụng thuật ngữ:
"Công nhân quý tộc". Theo các ông "công nhân quý tộc" và tầng lớp vô sản
lưu manh không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà đã trở thành
một bộ phận của giai cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội.
Tựu chung lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tùy từng
hoàn cảnh lịch sử. Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái
niệm giai cấp công nhân đều được các nhà kinh điển Mác xít sử dụng như một
khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân định giai cấp công
nhân với các giai tầng xã hội khác là:
Vị trí của giai cấp công nhân trong lực lượng sản xuất
Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp
hay gián tiếp vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện
đại và xã hội hóa, quốc tế hóa cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người
công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong
công trường thủ công. C.Mác chỉ rõ: "Trong công trường thủ công và trong nghề
thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì
người công nhân phải phục tùng máy móc" [36, tr.605]. Điều đó cho thấy, hai
ông luôn nói đến giai cấp công nhân với tư cách là tập đoàn người bao gồm
những công nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát
triển cùng với sự phát triển của đại công nghiệp. Theo các ông: "Các giai cấp
khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp,
còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp" [33,
tr.610] hay "Công nhân là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc
vậy". Như vậy, giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát
triển của đại công nghiệp. Chính vì thế giai cấp công nhân là hiện thân của lực
lượng sản xuất hiện đại, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và mang trong
mình những đặc trưng riêng có mà không một giai tầng nào có được đó là: Tính
11
tiên tiến, hiện đại, tinh thần khoa học và cách mạng triệt để; ý thức tổ chức kỷ
luật; tình đoàn kết giai cấp.
Vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không
có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư
bản bóc lột giá trị thặng dư.
Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công
nhân hiện đại - tức giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm,
nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo. Những công nhân ấy,
buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là món
hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết sự may rủi
của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường [34, tr.605].
Điều này đã khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với
giai cấp tư sản.
Xuất phát hai tiêu chí trên, trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản" (1847) Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân:
Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc
bán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư
bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc hay đau khổ, sống và chết toàn bộ sự
sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển
biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh
không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người
vô sản là giai cấp lao động làm thuê trong thế kỷ XIX giai cấp vô sản là do cuộc
cách mạng công nghiệp sản sinh ra [34, tr.456-457].
Như vậy, mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu lên thành một định
nghĩa hoàn chỉnh về giai cấp công nhân, nhưng qua những tác phẩm của mình,
với những cách tiếp cận khác nhau các ông đã nêu một cách khách quan nhất
những đặc trưng cơ bản, những thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân, nhờ
12
đó, khiến người ta có thể dễ dàng nhận diện được giai cấp công nhân trong xã
hội tư bản chủ nghĩa.
Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, thời
đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Lênin đã bổ sung, phát triển những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. Lênin
chỉ rõ: Sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự khác nhau
của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất,
trong quan hệ đối với quản lý sản xuất, trong quan hệ phân phối sản phẩm.
Từ nhận thức mới về giai cấp như vậy, trong rất nhiều tác phẩm của mình
như "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Nhà nước và cách mạng",
"Sáng kiến vĩ đại" Lênin đã chỉ ra rằng, sau khi cách mạng vô sản thành công,
giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền. Địa vị kinh tế - xã hội của
giai cấp công nhân đã hoàn toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành
giai cấp thống trị về chính trị, thông qua Đảng tiên phong của mình lãnh đạo
toàn xã hội cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Theo Lênin, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị, là giai
cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ tư bản, trong sự nghiệp sáng
tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai
cấp. Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân là đi tới tự thủ tiêu mình với tư
cách là giai cấp
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sự tác động mạnh mẽ của nó
vào mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội đã không những làm cho quan
hệ giai cấp, dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc dịu đi mà nó diễn ra ngày
càng gay gắt với những biểu hiện hết sức phức tạp. Điều đó đã khiến nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới trong đó có nước ta đưa ra quan niệm mới về giai cấp
công nhân trong thời đại ngày nay.
Trước hết phải kể đến định nghĩa của các tác giả trong công trình: "Một
số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: "Giai cấp công
nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công
13
nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau mà địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc
vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có
hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những
người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và
cùng hợp tác lao động cho mình [22, tr.97].
Tiếp đến là định nghĩa trong cuốn "Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học"
do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa
học Mác - Lênin đã viết: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định hình
thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại và
nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham
gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ
xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản, giai cấp công nhân là những người không
có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và
bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước XHCN, họ là người đã
cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau
hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng
của bản thân họ.
Ngoài ra, một số Trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu thông tin lý luận -
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Viện Công nhân và công đoàn Tổng Liên
đoàn lao động Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân trên cơ
sở hai tiêu chí cơ bản mà các nhà kinh điển Mác xít đã nêu.
Về phía cá nhân các nhà nghiên cứu, có một số định nghĩa sau:
GS.TS Đỗ Nguyên Phương trong tác phẩm: "Những vấn đề chính trị - xã
hội của cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
và Nhà xuất bản Khoa học - kỹ thuật phát hành năm 1993, viết: "Giai cấp công
nhân là một tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với cách mạng công
nghiệp, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét