Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

145 Công tác kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Doanh nghiệp sản xuất - Lấy ví dụ Minh hoạ tại Công ty Dệt kim Đông Xuân Hà Nội

Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
thực hiện vòng chu chuyển vốn trong Doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong
xã hội đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội. Hoạt động tiêu thụ có ý nghĩa
quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu và chiến lợc mà Doanh nghiệp
theo đuổi, thúc đẩy vòng quay của quá trình tái sản xuất xã hội, qua đó mở rộng
quy mô kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, góp phần thực hiện
các mục tiêu kinh tế xã hội và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cuả
Doanh nghiệp. Hoạt động tiêu thụ là thớc đo để đánh giá sức mạnh và tiềm
năng trong sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Khi Doanh nghiệp sản xuất
áp dụng những biện pháp tiêu thụ đúng đắn thì doanh số bán ra sẽ tăng lên từ đó
mở rộng thị trờng, khẳng định đợc uy tín và vị thế của mình trên thơng trờng
đồng thời cũng là nguồn động viên lớn đối với ngời lao động giúp họ phát huy
đợc khả năng sáng tạo của mình trong công việc trên cơ sở đó tăng năng suất
lao động của từng nhân viên.
Mặt khác có tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp mới có điều kiện để bù đắp
những chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, bảo toàn và phát
triển nguồn vốn kinh doanh. Đồng thời thông qua tiêu thụ sản phẩm Doanh
nghiệp mới có thể thực hiện đợc giá trị của lao động thặng d, biểu hiện lợi
nhuận thu đợc từ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các Doanh
nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân. Bởi vì thực hiện tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá là tiền đề cho cân đối sản xuất và tiêu dùng, cân đối tiền
hàng trong lu thông cũng nh cân đối giữa các nghành, các khu vực trong nền
kinh tế.
2. Đặc điểm của nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm
2.1. Đối tợng khách hàng và mặt hàng tiêu thụ
2.1.1. Mặt hàng tiêu thụ.
Các mặt hàng tiêu thụ trong Doanh nghiệp sản xuất có thể là thành phẩm,
bán thành phẩm.
5
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
Thành phẩm là sản phẩm đã qua tất cả các giai đoạn chế biến trong
Doanh nghiệp đợc kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn quy định đợc nhập kho hoặc
giao cho khách hàng.
Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất trong Doanh
nghiệp nó là tài sản dự trữ cho lu thông. Những sản phẩm mới qua một số bớc
chế biến trong Doanh nghiệp có thể bán ra thị trờng hoặc có thể là đối tợng chế
biến cho các giai đoạn khác thì gọi là bán thành phẩm. Thành phẩm và bán
thành phẩm đã giao cho khách hàng và đợc khách hàng thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán thì đợc gọi là sản phẩm tiêu thụ.
Sản phẩm hàng hoá là sản phẩm đã đợc bày bán trên thị trờng và đợc ng-
ời tiêu dùng chấp nhận. Khi sản phẩm hàng hoá đợc bán cho khách hàng và
khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lúc đó sản phẩm hàng hoá
đợc coi là sản phẩm hàng hoá thực hiện.
Nh vậy, sản phẩm tiêu thụ và sản phẩm hàng hoá thực hiện là những sản
phẩm đã chuyển quyền sở hữu cho khách hàng, chênh lệch giữa giá bán và giá
vốn của bộ phận sản phẩm tiêu thụ là cơ sở tạo ra kết quả của quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
2. 1.2 Đối tợng khách hàng.
Đối tợng khách hàng của Doanh nghiệp sản xuất rất phong phú và đa
dạng. Đó có thể là các Doanh nghiệp sản xuất mua các sản phẩm về để tiếp tục
sản xuất sau đó đem bán ra thị trờng hoặc cũng có thể là các Doanh nghiệp th-
ơng mại mua về để chuyển bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Cũng có
khi đối tợng khách hàng của Doanh nghiệp lại là các Doanh nghiệp hoặc các tổ
chức cơ quan mua về để tiêu dùng nội bộ. Ngoài ra đối tợng khách hàng của
Doanh nghiệp còn là các hộ sản xuất kinh doanh mua về để tiếp tục sản xuất và
chuyển bán hoặc bán lẻ cho các đối tợng cá nhân ngời tiêu dùng có nhu cầu
hoặc là các cá nhân trực tiếp mua về để tiêu dùng. Với mỗi đối tợng khách hàng
khác nhau Doanh nghiệp có thể áp dụng các phơng thức, hình thức bán, phơng
thức hình thức thanh toán khác nhau.
6
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
Nói tóm lại đối tợng khách hàng của các Doanh nghiệp sản xuất là các
đối tợng bán buôn, bán lẻ, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm
của Doanh nghiệp. Thông thờng đối tợng bán chủ yếu của Doanh nghiệp là các
Doanh nghiệp khác. Các Doanh nghiệp này thờng mua với khối lợng lớn để làm
nguyên liệu cho sản xuất hoặc sau đó chuyển bán lại cho các đối tợng khách
hàng có nhu cầu hoặc trực tiếp bán lẻ.
2.2 Các phơng thức tiêu thụ thành phẩm
2.2.1 Phơng thức bán buôn.
Bán buôn là quá trình bán hàng cho các đơn vị sản xuất hoặc các đơn vị
thơng mại để tiếp tục chuyển bán hay đa vào quá trình sản xuất chế biến tạo ra
sản phẩm mới để bán. Đặc trng của phơng thức bán buôn là sản phẩm hàng hoá
vẫn nằm trong lĩnh vực lu thông, khối lợng hàng luân chuyển nhiều, việc thanh
toán tiền hàng đợc tiến hành thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Đối với Doanh nghiệp sản xuất do có những điểm khác biệt so với Doanh
nghiệp thơng mại nên phơng thức bán buôn của Doanh nghiệp chỉ có hình thức
bán buôn qua kho. Theo phơng thức này sản phẩm đợc đa từ kho của Doanh
nghiệp bán cho khách hàng. Khi hoàn thành thủ tục giao nhận cho bên mua thì
nghiệp vụ bán buôn coi nh kết thúc.
Bán buôn qua kho có 2 hình thức: Bán buôn theo hình thức gửi hàng và
Bán buôn theo hình thức nhận hàng trực tiếp.
- Bán buôn theo hình thức gửi hàng: Theo hình thức này căn cứ vào hơp
đồng đã ký kết, thành phẩm đợc xuất kho gửi đi cho bên mua theo địa điểm đã
thoả thuận trong hợp đồng. Sản phẩm đợc chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu
của Doanh nghiệp. Số sản phẩm này đợc xác nhận là tiêu thụ khi nhận đợc tiền
do bên mua thanh toán hoặc nhận đợc giấy báo của bên mua đã nhận đợc hàng
chấp nhận thanh toán hoặc thanh toán ngay.
- Bán buôn theo hình thức nhận hàng trực tiếp: Theo hình thức này ngời
mua căn cứ vào hợp đồng mua, bán mà hai bên đã ký kết cử đại diện tới nhận
7
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
hàng trực tiếp taị kho của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao
trực tiếp cho đại diện của bên mua. Sau khi bên mua nhận đủ hàng, đã thanh
toán hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ.
2.2.2 Phơng thức bán lẻ.
Bán lẻ là phơng thức mà sản phẩm đợc cung cấp trực tiếp cho ngời tiêu
dùng. Trong phơng thức này khối lợng hàng hoá giao dịch nhỏ, sản phẩm hàng
hoá tách khỏi lu thông đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị của sản phẩm hàng hoá
đợc thực hiện hoàn toàn. Việc thanh toán tiền hàng thờng đợc thanh toán ngay
bằng tiền mặt. Thông thờng các Doanh nghiệp tổ chức bán lẻ thông qua cửa
hàng giới thiệu sản phẩm của Doanh nghiệp.
Có 3 hình thức bán lẻ: Bán lẻ thu tiền tập trung, Bán lẻ thu tiền trực tiếp
và Bán hàng tự phục vụ.
- Bán lẻ thu tiền tập trung: Đây là hình thức bán hàng mà nghiệp vụ thu
tiền và giao hàng tách rời nhau. Nhân viên thu ngân viết hoá đơn và thu tiền
hàng. Nhân viên bán hàng giao hàng cho ngời mua. Cuối ca, cuối ngày nhân
viên thu ngân phải nộp tiền cho thủ quỹ và nhân viên bán hàng lập báo cáo bán
hàng nộp cho kế toán để tổng hợp xử lý.
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Đây là hình thức mà nhân viên bán hàng trực
tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khác. Cuối ca, cuối ngày nhân
viên bán hàng nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ đồng thời kiểm kê hàng hoá tồn
quầy để xác định số lợng hàng đã bán ra trong ca, trong ngày và lập báo cáo
bán hàng.
- Bán hàng tự phục vụ: Đây là hình thức bán hàng phổ biến tại các quốc
gia phát triển và tại Việt Nam thờng biểu hiện dới hình thức bán hàng tại các
cửa hàng tự phục vụ hoặc siêu thị. Đối với Doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là
cửa hàng tự phục vụ. Khách hàng tự chọn những hàng hoá cần mua sau đó sẽ
đến quầy thu tiền để thanh toán. Tại đây cửa hàng đã bố trí một nhân viên với
hệ thống vi tính đã đợc cài đặt mã hàng hoá và số tiền cho nên việc thanh toán
8
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
diễn ra rất nhanh vì đợc tự động hoá. Cuối ngày nhân viên bán hàng chỉ việc tập
hợp số tiền cũng nh số lợng hàng hoá bán ra đã có trên máy, lập báo cáo bán
hàng và đem nộp tiền cho thủ quỹ.
2.2.2 Phơng thức bán hàng trực tiếp.
- Hình thức bán hàng giao đại lý: Theo hình thức này Doanh nghiệp
giao hàng cho cơ sở nhận đại lý. Bên nhận đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và phải
thanh toán tiền hàng cho Doanh nghiệp và nhận đợc một khoản tiền công gọi là
hoa hồng đại lý. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp
và đợc xác định là tiêu thụ khi Doanh nghiệp nhận đợc tiền do bên đaị lý thanh
toán hoặc nhận đợc giấy báo chấp nhận thanh toán.
- Hình thức bán hàng nhận đại lý: Theo hình thức này Doanh nghiệp sẽ
nhận bán hàng đại lý cho một Doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có trách
nhiệm quản lý số hàng đã nhận, tổ chức bán hàng và thanh toán kịp thời, đầy đủ
tiền hàng cho ngời giao đại lý khi hàng hoá đã đợc tiêu thụ. Về quyền lợi,
Doanh nghiệp đợc hởng một khoản tiền hoa hồng để bù đắp toàn bộ chi phí và
lợi nhuận.
Ngoài các phơng thức bán trên hiện nay để đáp ứng nhu cầu của một bộ
phận khách hàng có thu nhập còn hạn chế nhng muốn có đợc sản phẩm hàng
hoá thoả mãn nhu cầu của mình, các Doanh nghiệp còn áp dụng hình thức bán
hàng trả góp. Theo hình thức này ngời mua hàng chỉ phải trả một phần số tiền
hàng lần đầu theo quy định. Số tiền còn lại ngời mua đợc phép trả chậm làm
nhiều lần trong một thời hạn nhất định và ngời mua phải chịu một khoản lãi
suất trên số tiền trả góp. Số tiền trả giữa các kỳ bằng nhau sẽ bao gồm cả tiền
gốc và lãi.
9
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
2.3 Các hình thức và phơng thức thanh toán tiền hàng
2.3.1 Các phơng thức thanh toán tiền hàng
Có nhiều phơng thức thanh toán tiền hàng. Thanh toán theo phơng thức
nào là tùy thuộc vào sự thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán hoặc sự tín nhiệm
giữa hai bên. Tuỳ từng trờng hợp, từng mối quan hệ mà Doanh nghiệp áp dụng
các phơng thức thanh toán khác nhau. Căn cứ vào sự vận động của hàng hoá -
tiền tệ và thời điểm phát sinh nghiệp vụ tiêu thụ trong các Doanh nghiệp có thể
áp dụng 2 phơng thức thanh toán sau:
- Thanh toán trực tiếp (thanh toán ngay): Đây là phơng thức thanh toán
mà hoạt động bán hàng và thu tiền đợc diễn ra trong cùng một thời điểm. Sản
phẩm hàng hoá đợc giao tại thời điểm nào thì số tiền bán hàng đợc thu ngay tại
thời điểm đó. Thanh toán theo phơng thức này đảm bảo khả năng thu tiền
nhanh, tránh đợc rủi ro trong thanh toán nhng đối tợng khách hàng dễ bị thu
hẹp.
- Thanh toán sau (thanh toán chậm trả): Theo phơng thức này thực chất
Doanh nghiệp đã cấp cho khách hàng một khoản tín dụng thơng mại, hàng bán
và quá trình thu tiền đợc diễn ra trong không gian và thời gian khác nhau.
Khách hàng mua hàng và chấp nhận thanh toán sau thời điểm giao hàng một
khoảng thời gian bao lâu là do bên bán và bên mua thoả thuận trong hợp đồng
mua, bán. Trong điều kiện hiện nay thì phơng thức thanh toán này đợc áp dụng
một cách phổ biến bởi vì trên thực tế không một khách hàng nào cũng có một
quỹ tiền đủ lớn để thanh toán ngay tại thời điểm mua hàng. Do đó để nhanh
chóng thu hồi tiền hàng các Doanh nghiệp thờng áp dụng nhiều khoản chiết
khấu cho các khách hàng. Phơng thức thanh toán này có lợi cho Doanh nghiệp
vì thu hút đợc khách hàng đồng thời cũng có lợi cho ngòi mua nhng sẽ gây bất
lợi cho Doanh nghiệp trong trờng hợp nêú khách hàng không có thiện chí thanh
toán hoặc đang gặp khó khăn về tài chính dẫn tới việc thu hồi tiền hàng rất
chậm.
10
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
2.3.2 Các hình thức thanh toán
Trong quá trình thu hồi tiền bán hàng, tuỳ theo điều khoản đã ký kết
trong hợp đồng hình thức thanh toán có thể khác nhau:
Thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu: Là hình thức thanh toán trực
tiếp giữa ngời mua và ngời bán. Khi bên bán chuyển giao hàng hoá, dịch vụ sau
đó bên mua xuất tiền, ngân phiếu để trả trực tiếp tơng ứng với giá cả mà hai bên
đã thoả thuận.
Thanh toán bằng hàng đổi hàng: Theo hình thức này khi bên bán
chuyển giao hàng hoá cho bên mua thì bên mua xuất giao cho bên bán một lô
hàng có giá trị tơng ứng với giá trị lô hàng đã nhận đợc từ bên bán. Trong trờng
hợp này, ngời bán đồng thời là ngời mua, mục đích không phải là thu tiền mà
mua một hàng khác tơng đơng. Việc giao hàng và thanh toán tiền hàng diễn ra
đồng thời hoặc có một khoảng cách nhất định về thời gian. Nếu còn chênh lệch
về giá trị trao đổi thì có thể dùng tiền để thanh toán nốt phần còn lại.
Thanh toán qua Ngân hàng: Là hình thức thanh toán đợc thực hiện
bằng cách trích chuyển ở tài khoản tiền gửi hoặc tiền vay của Doanh nghiệp,
hoặc bù trừ giữa hai bên thông qua các tổ chức kinh tế trung gian thờng là Ngân
hàng. Ngân hàng là tổ chức trung gian thanh toán, nó giúp cho việc thanh toán
giữa ngời mua và ngời bán đợc thực hiện đầy đủ, nhanh chóng và đúng luật.
Tuỳ vào từng thơng vụ từng đối tợng khách hàng, khi thanh toán tiền bán hàng
thu đợc có thể dới những hình thức sau:
- Thanh toán bằng séc: Séc là tờ lệnh trả tiền của ngời chủ tài khoản đ-
ợc lập trên mẫu in sẵn do Ngân hàng Nhà nớc quy định, yêu cầu Ngân hàng
trích một số tiền từ tài khoản của mình (tài khoản tiền gửi hay tài khoản tiền
vay) để trả cho ngời thụ hởng có tên ghi trên tờ séc hay ngời cầm séc.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi: Thực chất là sử dụng giấy uỷ nhiệm
của chủ tài khoản để yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản
của mình một số tiền để thanh toán cho ngời thụ hởng. Thanh toán bằng uỷ
11
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
nhiệm chi đợc thực hiện với tốc độ tơng đối nhanh nhng nếu ngời mua trả chậm
thì sẽ gây thiệt hại cho ngời bán.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu: Là hình thức thanh toán trong đó ngời
bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho ngời mua thì sẽ lập uỷ thác thu,
yêu cầu Ngân hàng thu hộ số tiền từ ngời mua.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi thờng áp dụng đối với các
Doanh nghiệp có quan hệ làm ăn thờng xuyên và tín nhiệm lẫn nhau hay dới
hình thức liên doanh, giữa công ty mẹ và công ty con.
- Thanh toán bằng th tín dụng: Là hình thức thanh toán trong đó bên
mua yêu cầu Ngân hàng của mình mở th tín dụng tiến hành trả tiền cho bên bán
nếu bên bán xuất trình đợc bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các nội dung đã
ghi trong th tín dụng. Đây là hình thức thanh toán đợc áp dụng rất phổ biến đặc
biệt trong kinh doanh xuất nhập khẩu, trong trờng hợp bên mua và bên bán cha
có mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau. Trong hình thức thanh toán này, Ngân hàng
giữ vai trò quan trọng là ngời đứng ra cam kết thanh toán vì vậy khả năng thu
hồi tiền bán hàng đợc đảm bảo, tránh rủi ro trong thanh toán.
- Thanh toán bằng thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một phơng tiện
thanh toán do Ngân hàng phát hành bán cho đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân để
thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hay
các quầy trả tiền mặt tự động của Ngân hàng.
Hiện nay việc thanh toán không trực tiếp đợc áp dụng không phổ biến
trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Phơng thức thanh toán này có ý
nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì nó tiết kiệm chi phí trong
việc in ấn, lu thông tiền tệ, đảm bảo sự an toàn về vốn bằng tiền của Doanh
nghiệp, chống lạm phát, ổn định giá cả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy vậy
việc phát huy thế mạnh của phơng thức thanh toán này còn phụ thuộc rất lớn
vào sự phát triển của hệ thống Ngân hàng, đặc điểm nền kinh tế của mỗi quốc
gia.
2.4. Giá bán của thành phẩm.
12
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
Trong cơ chế thị trờng hiện nay sự cạnh tranh ngày càng gay gắt do đó
đòi hỏi các Doanh nghiệp sản xuất cần phải có những đổi mơí nhất định vơí
những chiến lợc kinh doanh phù hợp thì mới có thể tồn tại và phát triển đợc.
Trong chiến lợc kinh doanh thì chiến lợc giá cả là rất quan trọng bởi vì giá cả là
một vũ khí cạnh tranh hữu hiệu đồng thời nó cũng có vai trò quyết định đến tốc
độ tiêu thụ hàng hoá cuả mỗi Doanh nghiệp.
Việc xác định giá cả hàng bán phải thoả mãn yêu cầu bù đắp đợc các
khoản chi phí và đem lại cho Doanh nghiệp một khoản lơị nhuận, nhng đồng
thời nó cũng phải đợc ngời mua chấp nhận. Trên thực tế giá bán của sản phẩm
trên thị trờng là sự thoả thuận giữa Doanh nghiệp với ngời bán nhng dựa trên cơ
sở giá bán chuẩn đã đợc xác định.
Các Doanh nghiệp khi định giá bán chuẩn có thể dựa trên cơ sở giá vốn
và thặng số thơng maị.
- Giá vốn hàng bán là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến quá
trình sản xuất kinh doanh cuả Doanh nghiệp bao gồm: giá vốn hàng xuất kho,
chi phí bán hàng và chi phí quản lý Doanh nghiệp.
- Thặng số thơng mại là một khoản thu nhập dùng để bù đắp chi phí và
đảm bảo có lãi cho Doanh nghiệp.
Khi đó giá bán thành phẩm đợc xác định bằng giá vốn hàng bán cộng với
thặng số thơng maị. Nó có thể đợc biểu diễn dới công thức sau:
Giá bán = Giá vốn hàng bán + Thặng số thơng mại
Trong đó:
Thặng số thơng mại = Giá vốn hàng bán ì Tỉ lệ % thặng số thơng mại
Theo quy định tài chính hiện hành nếu Doanh nghiệp áp dụng tính thuế
GTGT theo phơng thức trực tiếp thì giá bán trong công thức trên là giá đã bao
gồm cả thuế GTGT. Còn đối với những Doanh nghiệp tính thuế GTGT theo ph-
ơng pháp khấu trừ thì giá bán trên không bao gồm thuế GTGT.
2.5 Một số trờng hợp phát sinh trong quá trình tiêu thụ thành phẩm
13
Luận văn tốt nghiệp Hoàng Song Hơng K33-D4
Trờng hợp giảm giá hàng bán.
Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho khách hàng tính trên giá bán
sản phẩm để khuyến mại. Trên thực tế giảm giá hàng bán có 2 hình thức:
- Bớt giá: Là khoản giảm trừ trên giá bán thông thờng với mỗi một hợp
đồng thực hiện khi khách hàng mua với khối lợng lớn trong một lần mua hàng.
- Giảm giá đặc biệt: Là sự chấp nhận giảm giá với một tỉ lệ đặc biệt
tính trên giá bán thông thờng vì lý do sản phẩm của Doanh nghiệp sai quy cách
hoặc chất lợng kém.
Chiết khấu bán hàng
Chiết khấu bán hàng đợc hiểu là số tiền chấp nhận giảm cho khách hàng
tính cho số tiền mà họ trả nợ trớc thời hạn quy định hoặc vì một lý do u đãi
khác. Chiết khấu bán hàng đợc tính toán trên cơ sở tỷ lệ và các điều kiện chiết
khấu ghi trên các hợp đồng mua, bán hoặc các cam kết thanh toán.
Hàng bán bị trả lại
Đây là trờng hợp sản phẩm của Doanh nghiệp đã bán cho khách
hàng nhng kém phẩm chất, sai quy cách, không đúng chủng loại, mà vẫn trong
thời hạn quy định thì khách hàng có thể trả lại hàng cho Doanh nghiệp.
Hàng thừa, thiếu trong quá trình tiêu thụ
Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm khi áp dụng các phơng thức bán khác
nhau, Doanh nghiệp không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình vận
chuyển. Số lợng hàng vận chuyển đến với khách hàng thừa so với hợp đồng thì
sẽ xảy ra 2 khả năng: Thứ nhất, khách hàng chấp nhận mua số sản phẩm thừa
thì coi nh số lợng hàng đó đợc xác định là tiêu thụ và đồng thời ghi nhận doanh
thu. Thứ hai, nếu khách hàng không chấp nhận mua số sản phẩm thừa thì lợng
hàng đó vẫn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp, hàng đợc coi là gửi bán hộ
hoặc khách hàng có quyền chuyển trả số hàng thừa về cho Doanh nghiệp hoặc
khi sản phẩm đa đến khách hàng kiểm tra phát hiện bị thiếu và từ chối thanh
toán, Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu nguyên nhân để xử lý hàng thiếu. Doanh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét