Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Quan hệ hai bờ dưới lăng kính an ninh truyền thống

năm 1989 thì dờng nh nó đã hình thành một thế kiềng ba chân với Khu mậu
dịch tự do Bắc Mỹ và Liên minh Châu Âu - ba thực thể kinh tế lớn nhất trên
thế giới (Xem bảng 1).
Bảng 1: Quy mô ba thực thể kinh tế lớn nhất trên thế giới.
Chỉ tiêu
Thực
GDP
(tỷ USD)
Dân số
(triệu ngời)
Diện tích đất
(triệu km2)
Mậu dịch
(tỷ USD)
Dự trữ ngoại
tệ (tỷ USD)
Tổng
kim
ngạch
%
toàn
cầu
Tổng
dân
số
%
toàn
cầu
Tổng
số
%
toàn
cầu
Tổng
kim
ngạch
%
toàn
cầu
Tổng
số
%
toàn
cầu
APEC 6.248 25,1 1.766 34,1 22,33 14,8 1.955 26,0 366,4 37,0
NAFTA 7.257 29,2 378 7,3 20,49 13,5 1.432 19,1 76,9 7,8
EU 6.697 26,9 370 7,1 3,15 2,1 2.892 38,5 308,2 31,1
Chú thích: APEC: Hội nghị Hợp tác kinh tế châu á - TBD
NAFTA: Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ
EU: Liên minh châu Âu
Nguồn: Chơng Sảnh Bình, Sở tr ờng của ba thực thể kinh tế lớn trên
thế giới , Kinh tế nhật báo, ngày 5/7/1995. Dẫn từ: Chu Húc, Tình hình
toàn cầu và ảnh hởng của nó tới quan hệ hai bờ , Tạp chí Vấn đề và nghiên
cứu, số 35, kỳ 10, 10/1996, tr.12.
Đằng sau sự phồn vinh và phát triển ở khu vực Châu á-TBD sau chiến
tranh lạnh, vẫn còn tồn tại rất nhiều những biến số ảnh hởng trực tiếp đến an
ninh của khu vực. Ngoài những tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ ra, thì theo
học giả Kent E. Calder cho rằng, chạy đua vũ trang, tranh giành năng lợng
và tăng trởng kinh tế sẽ là những nguy cơ tử vong bùng phát ở khu vực
châu á. Nhất là các vấn đề về Trung Quốc hiện đại hóa quân sự, Nhật Bản
thông qua Đạo luật hiệp lực hòa bình Liên hiệp quốc (Đạo luật PKO), bán
đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân, tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo
Hoàng Sa và Trờng Sa trong biển Đông (Nam hải), và vấn đề tranh cãi chủ
quyền giữa hai bờ eo biển Đài Loan .v.v Do vậy, khu vực này đã trở thành
khu vực mở rộng trang bị cho quân sự tích cực nhất trên toàn cầu, trong đó,
nổi bật nhất là các nớc thuộc vành đai biển Nam Trung Hoa (Xem bảng 2)
Bảng 2: Mời quốc gia và khu vực nhập khẩu vũ khí
truyền thống lớn nhất toàn cầu
Đơn vị: triệu USD
5
(Lấy giá trị tiền tệ năm 1990)
Danh sách các nớc và khu vực
1997 1996 1993 - 97
1.Taiwan 4.049 1.530 8.238
2.Saudi Arabia 2.370 1.946 9.834
3.China 1.816 1.102 5.053
4.Malaysia 1.346 199 3.153
5.Turkey 1.276 1.127 7.012
6.India 1.085 1.231 4.428
7.South Korea 1.077 1.591 5.345
8.Thailand 1.031 522 3.211
9.Egypt (Ai cập) 867 937 6.692
10.United Arab Emirates (Cộng
đồng các quốc gia ả-rập)
808 684 3.354
Nguồn: Dẫn từ Niên giám thống kê thế giới năm 1999, Đài Bắc,
Thông tấn xã Trung ơng, 1999, tr. 655.
Vậy, nguyên nhân gì dẫn đến các quốc gia và khu vực trên chi tiền cho
quốc phòng nhiều nh vậy? Theo các học giả thì chủ yếu có các nguyên nhân
sau: (1) Do tăng trởng kinh tế đã đem lại tiền bạc để tăng cờng nâng cao lực
lợng quốc phòng; (2) Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các nớc muốn tăng c-
ờng cho phòng vệ trên biển; (3) Uy hiếp cờng quyền khu vực nổi dậy; (4) Mỹ
cắt giảm quân số ở khu vực Châu á-TBD đã tạo ra cảm giác mất an toàn; (5)
Xung đột khu vực ngày càng lộ rõ; (6) Nhu cầu bảo vệ 200 hải lý vùng đặc
quyền kinh tế; (7) Các vấn đề phi quân sự nh phòng chống cớp biển, buôn
lậu, đánh bắt cá phi pháp, bảo vệ môi trờng ; (8) Nhằm nâng cao tiếng nói
của quốc gia; (9) Khoa học tiến bộ muốn thay đổi vũ khí cũ; (10) Mua vũ khí
với động cơ tham ô; (11) áp lực từ phía bán vũ khí, nớc bán vũ khí áp dụng
một số biện pháp giảm giá đẩy mạnh việc bán vũ khí khi thị trờng bị thu
nhỏ
Tóm lại, khu vực Châu á-TBD trong thập kỷ qua đã đợc đánh giá là khu
vực có nền kinh tế sôi động nhất, tuy nhiên không phải vì thế mà không có
những bất ổn tiềm tàng. Khu vực Châu á-TBD vẫn còn đang tồn tại những
vết tích từ thời chiến tranh lạnh để lại. Do đó, có ngời nói Chiến tranh lạnh
6
chỉ kết thúc ở Châu Âu, còn Châu á thì không để có thể hình dung ra khu
vực Châu á-TBD ngày nay.
Mỹ Trung Nhật là ba nớc lớn có vai trò quan trọng đối với môi tr-
ờng an ninh của khu vực Châu á-TBD, tuy nhiên để dàn xếp đợc những bất
đồng do lịch sử để lại thì không chỉ có những nớc này mới có thể giải quyết
đợc mà cần sự hợp tác chặt chẽ và tính nhân nhợng của các bên. Mỹ với vai
trò một siêu cờng về kinh tế và quân sự trên thế giới thì liệu Mỹ sẽ đợc gì khi
khu vực này đi vào ổn định không còn tranh chấp ? Do vậy, mong muốn một
khu vực hòa bình ổn định đích thực trong tơng lai gần là không hiện thực.
Nói nh vậy không có nghĩa là trong khu vực sắp xảy ra chiến tranh hoặc xung
đột vũ trang. Với trào lu quốc tế hiện nay là hòa bình hợp tác cùng phát triển
thì những vấn đề trên sẽ trở nên mờ nhạt trong xu thế đó.
III. Quan hệ hai bờ eo biển trong bối cảnh an ninh
truyền thống
1. Quan hệ chính trị giữa hai bờ.
Sau khi Quốc dân đảng từ đại lục di rời ra đảo Đài Loan năm 1949, do
những nhân tố đối lập về chính trị và quân sự, đối kháng về hệ t tởng, và bối
cảnh phức tạp của chiến tranh lạnh quốc tế, mà hai bờ lúc đó đã rơi vào cục
diện chính trị chia cắt Trung Quốc, hai bờ tự trị. Những giao lu về các ph-
ơng diện văn hóa, kinh tế, xã hội và con ngời giữa hai bờ đã ở trong trạng thái
đóng băng trong gần 40 năm. Sự phát triển của quan hệ hai bờ chỉ đợc bắt
đầu từ năm 1987, khi chính quyền Đài Loan dỡ bỏ hạn chế và mở cửa cho
dân chúng sang Trung Quốc đại lục thăm thân, lần đầu tiên đã mở cánh cửa
giao lu giữa hai bờ. Thời kỳ chiến tranh lạnh kết thúc đã càng làm ấm lên
trong sự trao đổi qua lại giữa hai bờ. Để đáp ứng với cục diện phát triển của
quốc tế và sự trao đổi sôi động giữa hai bờ, tháng 9 năm 1990, Đài Loan đã
7
thành lập Uỷ ban thống nhất quốc gia, tháng 1 năm 1991 Uỷ ban Đại lục đợc
thành lập, và thông qua Cơng lĩnh thống nhất đất nớc (). Trong
trao đổi giữa hai bờ, những vấn đề mang tính sự vụ đã nảy sinh và hai bên đã
bắt đầu thông qua 2 đoàn thể dân gian là Hiệp hội hai bờ ( ) và Quỹ
hai bờ ( ) làm trung gian tiến hành tiếp xúc và thỏa hiệp. Khi đó
Trung Quốc lập tức đa ra nguyên tắc Một Trung Quốc cần phía Đài Loan
xác định rõ trớc. Sau nhiều lần các đoàn đại biểu hai bên tiếp xúc tranh
luận, cuối cùng đến tháng 11 năm 1992 hai bên đã đạt đợc nhận thức chung
hai bên kiên trì nguyên tắc một Trung Quốc, tuy nhiên nội dung của nó
thì mỗi bên lại có cách biểu đạt riêng. Chính nhận thức chung này đã bắt
đầu mở màn cho sự giao thơng giữa hai bờ.
Tháng 4 năm 1993 cuộc Hội đàm GuWang ( ) tổ chức tại
Singapore, hai bên đã ký 4 Hiệp định chung, có thể nói đây là bớc đột phá và
có tính phát triển tích cực trong quan hệ hai bờ. Sau cuộc hội đàm này không
lâu, đến ngày 31 tháng 8 cùng năm, Trung Quốc đã cho ra mắt cuốn sách
trắng Vấn đề Đài Loan và sự thống nhất của Trung Quốc. Trong sách đặc
biệt nhấn mạnh Đài Loan là một bộ phận không thể chia cắt của Trung Quốc,
và cho rằng Trung Quốc cha thống nhất chính vì còn tồn tại vấn đề Đài Loan,
hơn nữa còn cho rằng trong thời gian dài, vấn đề Đài Loan luôn là một nhân
tố bất ổn trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng. Trong sách trắng này,
Trung Quốc đã công khai yêu cầu các nớc đã có quan hệ ngoại giao với mình
không đợc thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao với Đài Loan, đồng thời
phản đối bất kể quốc gia nào bán vũ khí cho Đài Loan.
Giới lãnh đạo thứ ba của Trung Quốc với đồng chí Giang Trạch Dân làm
hạt nhân vào tháng 1 năm 1995 đã phát biểu Giang 8 điểm, nêu ra dới
nguyên tắc Một Trung Quốc hai bên tiến hành đàm phán hòa bình, đồng
thời đa ra cách nói Ngời Trung Quốc không đánh ngời Trung Quốc. Tuy
nhiên, vào tháng 4 cùng năm Lý Đăng Huy (tổng thống) cũng phát biểu Lý
8
6 điều, nêu ra những chính sách kiến nghị cho quan hệ hai bờ, và quan hệ
hai bờ nhìn chung là phát triển trong không khí hài hòa. Vào tháng 6 năm
1995, sau khi Mỹ đồng ý cho Lý Đăng Huy sang thăm trờng Cornell
University tại nớc này thì Trung Quốc đã kịch liệt phản đối và liên tục văn
công võ kích đối với Đài Loan. Từ tháng 7 năm đó bắt đầu tiến hành hàng
loạt các hoạt động diễn tập quân sự. Đến tháng 3 năm 1996, khi Đài Loan
tiến hành cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp thì Trung Quốc lại liên tiếp phát
động ba cuộc diễn tập quân sự, tiến hành bắn thử tên lửa vào gần hai hải cảng
quốc tế lớn của Đài Loan là Cơ Long và Cao Hùng, đồng thời tiến hành diễn
tập quân sự về không quân gần những hòn đảo ngoài biển của Đài Loan với
mục đích làm ảnh hởng đến tình hình bầu cử. Tuy hai bờ eo biển Đài Loan
cha sảy ra những sung đột quân sự, nhng sự kiện này lại thể hiện rõ tính bất
ổn định và nguy cơ đối kháng quân sự tiềm tàng trong quan hệ hai bờ.
Tháng 10 năm 1998, chủ tịch hội đồng quản trị Quỹ Hai bờ Cô Chấn
Phủ dẫn đoàn sang thăm Trung Quốc, quan hệ hai bờ sau khi trải qua 3 năm
giằng co cuối cùng cũng đi đến hòa hoãn. Tuy có nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc,
đối thoại nhằm tăng cờng giao lu và tìm kiếm những nhận thức chung giữa
hai bên, nhng vẫn còn những vấn đề mang tính kết cấu giữa hai bờ vẫn cha đ-
ợc hòa giải, nhiều ý kiến bất đồng và nhiều phơng diện khác biệt cơ bản vẫn
tồn tại. (Xem bảng 3)
Bảng 3. Những chủ trơng khác nhau trong chính sách hai bờ
Chính sách Chủ trơng của Trung Quốc Chủ trơng của Đài Loan
Hàm ý Một
Trung Quốc
Nớc Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa
Trung Hoa Dân Quốc (thành
lập từ 1912 đến nay)
Định vị hai bờ
Một nớc hai chế độ (Đài Loan
là khu hành chính đặc biệt)
Một nớc lỡng thể (Hai bờ là
hai thực thể chính trị đối
đẳng)
Phơng diện quan
hệ quốc tế
Chính quyền địa phơng trong
thể chế một nớc hai chế độ
không có quyền ngoại giao,
chỉ có thể giữ quan hệ kinh tế
với nớc ngoài
Hai bờ với lập trờng đối
đẳng, cùng ngang hàng
trong xã hội quốc tế, không
tranh giành quyền đại diện
với Trung Quốc
9
Phơng diện giao
lu kinh tế mậu
dịch hai bờ
Tăng cờng tam thông Kìm nén nhẫn nại
Hiệp thơng hai
bờ
Tăng nhanh tốc độ hiệp thơng
chính trị
Không dự định thiết lập lập
trờng, chỉ cần có lợi cho cải
thiện quan hệ hai bờ.
Nguồn: Tác giả tự quy nạp chỉnh lý.
Trong phơng diện ngoại giao, Trung Quốc và Đài Loan không ngừng
cạnh tranh nhau để lôi kéo và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nớc trên
thế giới. Trung Quốc trớc sau coi Đài Loan là một chính quyền địa phơng, do
đó không những không ngừng phê phán mãnh liệt thực vụ ngoại giao của
Đài Loan, mà còn tích cực phá vỡ các mối quan hệ ngoại giao của Đài Loan
đã thiết lập. (Xem bảng 4)
Về phơng châm và mục tiêu trong chính sách Đài Loan của Trung
Quốc, thì từ năm 1979 ủy ban thờng vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc
(Quốc hội) nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã công bố Th gửi đồng bào
Đài Loan, áp dụng chính sách hòa bình thống nhất đối với Đài Loan,
dừng hẳn các trận pháo kích bắn vào Kim Môn, kết thúc trạng thái đối đầu
quân sự giữa hai bờ. Năm 1981, ủy viên trởng Đại hội đại biểu toàn quốc
Diệp Kiếm Anh (Chủ tịch Quốc hội?) đã đề ra Phơng châm chính sách
thực hiện hòa bình thống nhất Đài Loan trở về Trung Quốc,
Bảng 4. Tình hình cạnh tranh ngoại giao giữa hai bờ trong
những năm gần đây (1989-1999)
Năm
Trung Quốc Đài Loan
Tăng thêm Giảm đi Tăng thêm Giảm đi
1989 Bahamas,
Grenada,
Berisso, Liberia
Bahamas,
Grenada,
Berisso, Liberia
1990 Saudi Arabia Lesotho,
NicaraguaGu
inea Bissau
LesothoNica
raguaGuinea
Bissau
Saudi Arabia
1991 C.H Trung Phi C.H Trung Phi
1992 Hàn Quốc Niger Niger Hàn Quốc
10
1994 Lesotho Burkina Faso Lesotho
1995 Gambia
1996 Niger Senegal Niger
1997 Bahamas, Saint
Lucia
CH. Chad Sao Tome, CH.
Chad
Bahamas, Saint
Lucia
1998 Nam Phi, Trung
Phi, Guinea-
Bissau,Tonga
Nam Phi, Trung
Phi, Guinea-
Bissau,Tonga
1999 Macedonian Macedonian
Nguồn: Vơng Cao Thành, Cạnh tranh ngoại giao hai bờ trong an
ninh lỡng nan , Tạp chí Vấn đề và Nghiên cứu, số 36 kỳ 12, 12/1997, tr 27.
(hay còn gọi là Diệp 9 điều), coi Đài Loan là một Khu hành chính đặc
biệt của Trung Quốc. Năm 1983, khi bàn về hiệp nghị Trung-Anh thực hiện
chuyển giao quyền lực của Hồng Kông cho Trung Quốc, thì Bắc Kinh đã đề
ra cơng lĩnh chính sách hòa bình thống nhất, một nớc hai chế độ đối với
Đài Loan. Tháng 5 năm 1984, trong báo cáo công tác chính phủ tại Hội nghị
lần thứ hai khóa VI của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Triệu Tử Dơng
lần đầu tiên trong văn kiện chính phủ đề cập tới ý tởng một nớc hai chế độ.
Từ đó, trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc tiếp tục lấy hòa bình
thống nhất, một nớc hai chế độ làm phơng châm cơ bản và là mục tiêu cao
nhất trong chính sách của mình để giải quyết vấn đề Đài Loan.
Bảng 5. Diễn biến trong chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan.
Giai đoạn
Công tác tổ chức chủ yếu đối với
Đài Loan
1949-1978
Giai đoạn xung đột
quân sự
Dùng vũ lực để
giải phóng Đài
Loan
Lấy Quân ủy trung ơng, Bộ Điều
tra trung ơng, Bộ Thống chiến
trung ơng ( ) và Cơ
quan Kiều vụ làm chủ, năm 1972
thành lập Văn phòng công tác Đài
Loan.
1979-1987
Giai đoạn hòa bình
thống nhất
Hòa bình thống
nhất, một nớc hai
chế độ
Tổ công tác lãnh đạo trung ơng đối
với Đài Loan (cơ quan quyết sách),
Văn phòng công tác trung ơng về
Đài Loan (cơ quan chấp hành)
11
1988-1995
Giai đoạn giao lu
dân gian
Lấy hòa bình
thống nhất, một
nớc hai chế độ
làm quan điểm
Thành lập Phòng sự vụ Đài Loan
Quốc vụ viện và Hiệp hội quan
hệ hai bờ eo biển, đồng thời trong
các bộ ngành của Quốc vụ viện và
1996 đến nay
Giai đoạn chống
Đài Loan độc lập
thúc đẩy đàm phán
Chú thích:
(
*
)
Tam thông: Thông thơng, thông bu diện, thông hàng
khôn- hàng hải; Tứ lu: giao lu kinh tế, giao lu khoa học kỹ thuật, giao lu
văn hóa, giao lu thể dục thể thao.
Nguồn: tham khảo từ Khái luận hệ thống công tác tổ chức của Trung
Quốc đối với Đài Loan, Đài Bắc, Cục điều tra Bộ t pháp, 12/1996, tr 5-9.
Năm 2003, Trung Quốc đã cải tổ thành viên trong Tổ lãnh đạo công tác
Đài Loan từ 8 ngời tăng lên 9 ngời. Trong đó, 4 đồng chí Giang Trạch Dân,
Tiền Kỳ Tham, Tăng Khánh Hồng, Vơng Triệu Quốc đã rút khỏi Tổ, và bổ
sung 5 đồng chí mới bao gồm, tổ trởng Hồ Cẩm Đào Chủ tịch nớc, tổ phó
Giả Khánh Lâm Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc, th ký Đờng Gia Triền ủy
viên Quốc vụ viện, Vơng Cơng Phó chủ tịch Quân ủy trung ơng và đồng chí
Lu Đình Đông. Ngoài ra, 4 ngời cũ vẫn là Hứa Vĩnh Diệu Bộ trởng Bộ An
ninh quốc gia, Trần Vân Lâm, Uông Đạo Hàm và Hùng Quang Khải. Sau khi
cải tổ Hồ Cẩm Đào đã chính thức đa ra ý kiến 4 điểm về công tác Đài Loan
đó là: trớc sau kiên trì nguyên tắc một Trung Quốc; dốc sức thúc đẩy giao lu
kinh tế và văn hóa giữa hai bờ; quán triệt sâu sắc phơng châm hy vọng vào
nhân dân Đài Loan; đoàn kết đồng bào giữa hai bờ cùng thúc đẩy sự phục h-
ng dân tộc Trung Hoa. Đồng thời trong ý kiến về quán triệt sâu sắc phơng
châm hy vọng vào nhân dân Đài Loan đã tiến thêm một bớc đề ra ba cái có
lợi cho: những việc chỉ cần có lợi cho nhân dân Đài Loan, có lợi cho sự ổn
định quan hệ hai bờ và có lợi cho chấn hng dân tộc Trung Hoa, Trung Quốc
đều nguyện tích cực phối hợp thúc đẩy. Cơng lĩnh công tác Đài Loan của Hồ
Cẩm Đào sau khi nhậm chức vẫn không tách rời phơng châm chính sách
Hòa bình thống nhất, một nớc hai chế độ và Giang 8 điểm.
Tuy Trung Quốc luôn kiên trì vấn đề Đài Loan là vấn đề nội bộ Trung
Quốc, không cho phép quốc gia nào khác can dự vào. Nhng không thể phủ
12
nhận đợc rằng, chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan luôn chịu ảnh h-
ởng của môi trờng quốc tế tới những tiến triển trong quan hệ hai bờ, đặc biệt
là hai nhân tố Mỹ và Nhật Bản.
Trong quan hệ Mỹ - Đài Loan, Trung Quốc cho rằng quan hệ Mỹ - Đài
Loan ngày càng mật thiết, và tỏ ra rất lo lắng đối với việc Mỹ bán vũ khí cho
Đài Loan và giữa hai bên hình thành đồng minh quân sự, nhất là từ tháng 9
năm 2003 tới nay, Mỹ một mặt vẫn ủng hộ chính sách một Trung Quốc,
nhng lại có thái độ thờ ơ đối với việc Đài Loan sửa đổi hiến pháp và chng cầu
dân ý về chủ quyền Đài Loan. Liên quan đến công tác Đài Loan, Trung Quốc
đã triển khai nhiều cuộc gặp gỡ ở nhiều cấp đối với Mỹ, bao gồm hai lần hội
ngộ giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào với Tổng thống Mỹ Bust (trong hội nghị G8
vào tháng 6 và Hội nghị thợng đỉnh APEC vào tháng 8), Chủ tịch Hồ Cẩm
Đào nói Nguyện dốc hết sức lực để lấy phơng thức hòa bình thực hiện thống
nhất hai bờ, Các thế lực Đài Loan độc lập vẫn đang ra sức tiến hành các
hoạt động chia rẽ, đây là nguyên nhân căn bản khiến cho cục diện trở nên
căng thẳng và không thể cải thiện đợc quan hệ giữa hai bờ.
Về quan hệ Nhật Bản - Đài Loan, sau khi Trung Quốc và Nhật Bản thiết
lập quan hệ ngoại giao, Nhật Bản áp dụng các biện pháp nhất thời mang tính
hạn chế đối với các quan chức Đài Loan sang thăm Nhật Bản, nhng những
hạn chế này sau này bắt đầu đợc nới lỏng. Trớc sức ép của chính quyền Đài
Loan và sự thúc đẩy của cánh hữu Nhật Bản, thì chính phủ Nhật Bản không
ngừng có các hành động ngầm thân Đài Loan, mu cầu phá vỡ những hạn chế
trong Tuyên bố chung Trung Nhật, mở rộng quan hệ thực chất Nhật Bản
- Đài Loan. Do đó, các quan chức cấp cao Đài Loan đến Nhật Bản hoạt động
ngày càng nhiều, Nhật Bản cho phép các quan chức cao cấp Đài Loan sang
thăm Nhật Bản, thậm chí mời cả tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy sang
thăm Nhật. Tất nhiên, những hành động nh vậy đã làm Trung Quốc rất bất
bình.
Tại Đại hội 16 của ĐCS Trung Quốc khẳng định vẫn không từ bỏ sử
dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang Trạch Dân từng
13
nói: Chúng ta đề ra và kiên trì phơng châm cơ bản thống nhất hoà bình,
một nớc hai chế độ tức là muốn duy trì và bảo hộ ở mức cao nhất lợi ích
của đồng bào Đài Loan. Nhng chúng ta không thể từ bỏ sử dụng vũ lực.
Nếu nh thừa nhận từ bỏ sử dụng vũ lực, sẽ khiến cho thống nhất hoà bình
không trở thành hiện thực.
2
, Do vậy, mối đe dọa về an ninh quân sự hay an
ninh truyền thống vẫn tồn tại trong quan hệ hai bờ và sự chuẩn bị về mặt
quốc phòng của hai bên là khó tránh khỏi.
Về mặt chuẩn bị cho quốc phòng của Trung Quốc, tuy có sự cắt giảm
quân số nhng Trung Quốc đang trang bị hiện đại hóa quân đội. Năm 2003,
ngoài việc tiến hành thực hiện chiến lợc mới thì cắt giảm quân số cũng là một
nhiệm vụ chiến lợc quan trọng trong thế kỷ mới. Trong lễ kỷ niệm 50 năm
Đại học Khoa học kỹ thuật Quốc phòng, đồng chí Giang Trạch Dân đã chính
thức tuyên bố cắt giảm 200 nghìn quân, và đợc khởi động vào ngày 1 tháng
10 cùng năm, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2005. Trong tơng lai, tổng binh
lực Trung Quốc sẽ duy trì khoảng 2,3 triệu quân. Đợt cắt giảm quân lần này
không giống với những lần trớc, chủ yếu ở 8 hạng mục là: điều chỉnh giảm
quy mô quân đội, tối u hóa cơ cấu biên chế quân đội, cải cách thể chế lãnh
đạo chỉ huy, tăng cờng tin học hóa tập trung thống nhất lãnh đạo quản lý, mở
rộng liên kết hậu cần bảo đảm mức độ cải cách, xây dựng hệ thống Viện - Tr-
ờng theo loại hình mới, giảm số lợng cán bộ và tăng cờng xây dựng chế độ
chính sách đồng bộ. Cơ chế của nó là lấy ba giảm (giảm đơn vị, giảm Viện
- Trờng và giảm Lục quân) làm nguyên tắc, và lấy hình thái phát triển bộ đội
tác chiến chuyên nghiệp tin học hóa làm chủ đạo; lấy thu hẹp cơ cấu chỉ
huy, chuyên nghiệp hóa bộ đội tác chiến đối với Đài Loan và bộ đội
chuyên nghiệp tin học hóa, cơ giới hóa làm trọng điểm cải cách. Tăng cờng
trang bị cho hải - không quân và mở rộng bộ đội tên lửa. Thực hiện quân đội
quy mô thu nhỏ, hợp lý hóa cơ cấu, bộ đội trở thành nhất thể hóa, thể chế chỉ
huy mạng lới hóa, thông tin kịp thời, bảo đảm thể chế tổng hợp hóa, tin học
hóa làm mục tiêu cuối cùng. Trung Quốc hy vọng có thể xây dựng đợc một
2
Sách phù đạo báo cáo Đại hội 16, Nxb Nhân dân Bắc Kinh, 11/2002, tr 373.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét