− Doanh nghiệp có vốn lưu động do nhà nước giao tự bổ sung bằng
tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tối thiểu tương đương với
500.000USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị .
Do đó, doanh nghiệp cần phải xin đăng ký kinh doanh nhập khẩu
thiết bị toàn bộ với Bộ Thương mại bằng cách gửi bộ hồ sơ đăng ký kinh
doanh, bao gồm :
• Đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị .
• Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu .
• Hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lưu động (bao gồm vốn Nhà nước giao và
vốn tự bổ sung ).
• Bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng (Biểu tổng hợp ).
• Sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh và cán bộ cần thiết để đảm bảo đủ
năng lực kinh doanh thiết bị .
Tuy nhiên, sau này theo nội dung của nghị định 33/CP ngày
19/4/1994 về
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu và tiếp đó
là Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định chi tiết thi hành
Luật Thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công, đại lý mua bán
hàng hóa với nước ngoài; để được phép kinh doanh xuất nhập khẩu (kể cả
hàng hóa thiết bị toàn bộ), doanh nghiệp phải được thành lập theo qui định
pháp luật, được phép xuất nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề đã đăng ký
kinh doanh, đã đăng ký mã số kinh doanh với Cục Hải Quan tỉnh, thành và
hàng hóa đó không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu .Với cơ
chế mới, để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể trực tiếp nhập khẩu
thiết bị toàn bộ thông qua đấu thầu; hoặc doanh nghiệp có thể uỷ thác cho
doanh nghiệp khác được phép kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị .Tuy
nhiên, điều đáng lưu ý ở đây là đối với một doanh nghiệp muốn được phép
kinh doanh xuất nhập khẩu mặt hàng này thì trong những văn bản ban hành
sau thông tư 04/TM-ĐT như đã kể trên lại chưa được quy định cụ thể, trong
5
các danh mục ngành hàng mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập
khẩu lại không có tên của ngành hàng “thiết bị toàn bộ”.Do vậy, trong thực
tế, hiện nay các doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị
toàn bộ vẫn áp dụng các quy định của thông tư 04/TM-ĐT .Bản thân giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng công ty xây dựng và phát triển
hạ tầng cũng được cấp dựa theo giấy phép cũ mà Bộ Thương mại đã cấp
cho tiền thân là Liên hiệp các xí nghiệp thi công cơ giới trước đó, chứ còn
nếu áp dụng theo các quy định của Nghị định 33/CP hay Nghị định
57/1998/NĐ-CP thì khó có thể cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
đối với hàng thiết bị toàn bộ cho Tổng công ty
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cả nước trong
những năm gần đây.
Qua bảng dưới cho ta thấy tổng kim ngạch XNK, nhập khẩu tăng dần
qua các năm 1999, 2000 đặc biệt là năm 2000: tổng kim ngạch XNK của
năm 2000 so với năm 1999 tăng là 27,42% tương đương với 6349 triệu
USD, tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2000 so với năm 1999 là 30,63%
tương ứng với 3564 triệu USD, điều này cũng dễ hiểu bởi lý do trong giai
đoạn này nền kinh tế khu vực đã tạm ổn định và có chiều hướng tăng
trưởng nhanh cộng thêm việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của
nhà nước ta. Mặt khác từ số liệu trên cho ta thấy kim ngạch nhập khẩu của
nước ta luôn chiếm trên 50% tổng kim ngạch XNK, từ đó có thể nói rằng
đây là một thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực kinh doanh XNK.
B
BẢNG1: TỶ TRỌNG KIM NGẠCH CỦA CẢ NƯỚC QUA CÁC NĂM
6
2.3 Thị trường kinh doanh XNK
Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt nam đang
tích cực mở rộng thị trường xuất nhập khẩu sang các nước Châu Âu(EU),
một số nước châu Phi, từng bước khôi phục lại thị trường SNG và Đông
Âu, thúc đẩy quan hệ thương mại với các nước Châu Mỹ và tập trung chủ
yếu vào các nước Châu á.
2.4 Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
Nước ta đã và đang tích cực khai thác nguồn nội địa để phục vụ xuất
nhập khẩu thông qua các hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu, liên
doanh liên kết với các doanh nghiệp trong nước để đầu tư nuôi trồng, khai
thác, gia công chế biến mặt hàng nông sản xuất khẩu hoặc xuất khẩu các
sản phẩm của các dây truyền công nghệ nhập khẩu như cao su và các chế
phẩm từ cao su, nông sản thực phẩm, than đá, hàng công nghiệp, các sản
phẩm khác,
Chỉ tiêu
97 98 98/97
%
99 99/98
%
00 00/99
%
Th1-8/01
Tổng kim
ngạch XNK
(trUSD)
20777,3 2074
6
-0,15 23159 11,63 2950
8
27,42 20208
Tổng kim
ngạchNK
(trUSD)
11592,3 11390 -1,74 11636 2,16 1520
0
30,63 10802
Tỷ
trọngNK(%)
55,8 54,9 -0,9 50,2 -4,7 51,51 1,31 53,45
Tổng kim
ngạch XK
(tr USD)
9185 9356 1,86 11523 23,16 1430
8
24,17 94046
Tỷ trọng
XK(%)
44,2 45,1 0,9 49,8 4,7 48,49 -1,31 46,55
7
Về mặt hàng nhập khẩu, ta đặc biệt trú trọng đến nhập khẩu thiết bị
toàn bộ có công nghệ tiên tiến, hiện đại và phù hợp với trình độ công nghệ
mà ta đã đề ra và vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, một số hàng
công nghiệp tiêu dùng thiết yếu cho đời sống của nhân dân.
II. Các văn bản pháp lý liên quan tới hoạt động nhập khẩu thiết bị
toàn bộ
Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một công tác phức tạp, nó
không chỉ đòi hỏi sự hiểu biết về chuyên môn sâu sắc mà còn đòi hỏi sự am
hiểu pháp luật có liên quan ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới hiệu quả
nhập khẩu thiết bị, đòi hỏi phải có hệ thống văn bản pháp quy tạo điều kiện
cho việc thực hiện phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, các cấp có liên
quan trong các giai đoạn nhập khẩu công trình, đặc biệt đối với các công
trình được nhập khẩu bằng nguồn vốn vay của nước ngoài.
1.Quyết định 91/TTg ngày 13/11/1992 của Thủ tướng chính phủ
Quyết định này ban hành quy định về quản lý nhập khẩu máy móc
thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, trong đó nêu định nghĩa và
xác định rõ phạm vi hàng hóa thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ không chỉ bao
gồm phần hàng hóa hữu hình ( máy móc, thiết bị, vật liệu, ) mà còn bao
gồm cả phần hàng hóa vô hình ( thiết kế, giám sát, đào tạo, chuyển giao
công nghệ, ).
Theo quyết định này thì Bộ thương mại giữ vai trò chính thay nhà
nước quản lý việc nhập khẩu, cụ thể trong các mặt sau:
- Quyết định cụ thể doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu.
- Cùng các ngành quản lý hữu quan và chủ đầu tư xử lý cụ thể khi
phải nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng.
- Quy định cụ thể trình tự và phương thức nhập khẩu máy móc thiết
bị.
- Phê duyệt hợp đồng nhập khẩu có giá trị nhỏ hơn 5 triệu USD, là
Chủ tịch hội đồng thẩm định nhà nước phê duyệt dự án có vốn đầu tư từ 5-
8
10 triệu USD, hoặc đề nghị Thủ tướng chính phủ phê duyệt đối với các hợp
đồng nhập khẩu lớn hơn.
- Cấp giấy phép nhập khẩu cho từng chuyến giao hàng.
2. Nghị định 52/1992/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ.
Nghị định ban hành Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng, được ra
đời thay thế cho nghị định 42/CP ngày 16/7/1996 và nghị định 92/CP ngày
23/8/1997, với mục đích khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản
xuất, kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã
hội của đất nước trong từng thời kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, sử dụng hiệu quả các
nguồn vốn huy động được do nhà nước quản lý, đồng thời đảm bảo quy
hoạch xây dựng, áp dụng hiệu quả công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế
giới.
Quy chế đã quy định việc phân loại dự án đầu tư theo 3 nhóm A,B,C
cùng với phân cấp trách nhiệm quản lý đầu tư, quản lý vốn, thẩm định dự
án đầ tư,phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán của dự án đầu tư, phê
duyệt quyết toán vốn đầu tư của các Bộ ngành liên quan tương ứng với
từng nhóm.
Nhằm đảm bảo tính thống nhất của công tác quản lý đầu tư và xây
dựng, Quy chế đã quy định trách nhiệm quyền hạn của chủ đâù tư, tổ chức
tư vấn đầu tư, nhà thầu xây dựng, trình tự lập dự án đầu tư, nội dung chủ
yếu của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi, nội
dung công tác thẩm định dự án đầu tư và thực hiện đầu tư, nguyên tắc quản
lý đấu thầu và chỉ định thầu trong xây dựng, tư vấn mua sắm thiết bị và xây
lắp.
3.Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 4/9/1999 của Chính Phủ
Nghị định ban hành Quy chế đấu thầu ,thay thế cho Quy chế đã ban
hành kèm Nghị định 43/CP ngày 16/7/1996 và Nghị định 93/CP ngày
9
23/8/1997 của Chính Phủ ,nhằm mục đích thống nhất quản lý các hoạt
động đấu thầu tuyển chọn tư vấn ,mua sắm hàng hóa ,xây lắp và lựa chọn
đối tác để thực hiện dự án hoặc từng phần dự án trên lãnh thổ Việt Nam
.Quy chế đấu thầu đã đưa ra định nghĩa cho các chuyên dùng trong đấu
thầu như “đấu thầu”, “đấu thầu trong nước” , “đấu thầu quốc tế”, “xét
thầu”, “dự án”, “bên mời thầu”, “người có thẩm quyền”, “nhà thầu”, “cấp
có thẩm quyền”, “tư vấn”, “xây lắp”
Những nội dung cơ bản của công tác đấu thầu và tổ chức đấu thầu đã
được bổ sung thêm ,đưa ra những quy định cụ thể hơn,hệ thống hơn ,đặc
biệt là công tác quản lý nhà nước về đấu thầu trong việc :
- Soạn thảo ,ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy định pháp
luật về đấu thầu ;
- Tổ chức hướng dẫn thực hiện ;
- Tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu của dự án thẩm định kết quả
đấu thầu;
- Phê duyệt kế hoạch đấu thầu của dự án và kết quả đấu thầu ;
- Tổ chức kiểm tra công tác đấu thầu ;
- Tổng kết,đánh giá ,báo cáo tình hình đấu thầu và thực hiện Quy chế
đấu thầu;
- Giải quyết các vướng mắc ,khiếu nại về đấu thầu .
4.Thông tư 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương Mại
Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về quản lý nhập khẩu máy
móc thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước .Đồng thời với việc đưa
ra các định nghĩa về “Thiết bị”, “Chủ đàu tư”, “Doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu thiết bị”, “Cơ quan chủ quản”, Thông tư đã quy định rõ các
tiêu chuẩn của doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ ,thiết bị
lẻ và quyền cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị của Bộ
Thương Mại .
10
Trong Thông tư đã quy định cụ thể về trình tự nhập khẩu thiết bị
toàn bộ,nêu rõ vai trò và quyền hạn của Bộ Thương Mại trong công tác
quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ ,cụ thể như:Bộ
Thương Mại có quyền chỉ định doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị ;Bộ
Thương Mại quy định hình thức nhập khẩu thiết bị qua đấu thầu hoặc mua
sắm trực tiếp
Thông tư đã nêu rõ việc chuyển giao công nghệ là một phần của Hợp
đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ ,đồng thời đưa ra điều khoản phê duyệt
Hợp đồng nhập khẩu thiết bị của các cơ quan có thẩm quyền ; quy định
trình tự và văn bản cần thiết để phê duyệt Hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn
bộ .
5.Một số văn bản pháp luật của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường
Hệ thống những văn bản của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
đã ra đơì nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị máy móc thiết bị như
thông tư 28/TT-QLKH của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ngày
22/1/1994 hướng dẫn chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam,
thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính Phủ quy định
chi tiết về chuyển giao công nghệ ,Quyết định số 2578/QĐ-TĐC ngày
28/10/1996 cuả Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành quy định
kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ,Quyết định
1091/1999/QĐ-BKHCNMT.
6.Một số văn bản pháp luật về thuế ,tài chính và hải quan:
Hệ thống văn bản quản lý về thuế và thủ tục hải quan cũnglần lượt
ra đời,thay đổi theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể ,đã góp phần không nhỏ
vào việc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo quản lý của
Nhà nước ,thông qua các văn bản chính thức như:
11
−Thông tư số 132/1998/TT-BTC ngày 1/10/1998 quy định và hướng dẫn
việc áp
dụng thuế nhập khẩu thiết bị đồng bộ của dây chuyền sản xuất .
−Thông tư số 37/1999/TT-BTC ngày 7/4/1999 hướng dẫn cách phân
loại hàng
hóa theo Danh mục biểu thức nhập khẩu năm 1999.
−Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 ban hành quy định về thủ
tục hải
quan, giám hải quan và lệ phí hải quan.
−Thông tư 01/1999/TT-TCHQ ngày 10/5/1999 hướng dẫn về thủ tục hải
quan
quy định tại Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính
Phủ
−Quyết định 197/1999/QĐ-TCHQ ngày 3/6/1999 ban hành Quy chế
quản lý
hải quan đối với địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu và hàng
hóa
xuất nhập khẩu chuyển tiếp
III. Đánh giá kết quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ và những nhân tố ảnh
hưởng
đến hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở việt nam.
1. Đánh giá kết quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ .
Dựa vào hiệu quả tổng hợp của một doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu, chỉ tiêu hiệu quả nhập khẩu (tỷ xuất ngọại tệ đối với hàng hóa
nhập khẩu, số vòng quay và mức doanh lợi của vốn lưu động). Ta thấy hoạt
động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Việt nam nói chung là có hiệu quả phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng đất nước, bởi vì Việt nam
xuất phát từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu và còn hạn chế về
trình độ khoa học kỹ thuật.
12
2.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Trên thực tế ,việc xác định được chính xác và đầy đủ tất cả các nhân
tố ảnh hưởng đến hoạt động nào đó trong nền kinh tế sẽ tạo ra những thuận
lợi nhất định trong việc đem lại hiệu quả cho hoạt động đó .Tuy nhiên ,việc
xác định này phức tạp và chỉ thực hiện được bằng cách chọn lọc ra những
nhân tố cơ bản để nghiên cứu.Trong phạm vi thu hoạch thực tập này ,tôi
cũng chỉ đưa ra một số những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động
nhập khẩu thiết bị toàn bộ như sau:
2.1.Trình độ khoa học -công nghệ của Việt Nam .
Việt Nam hiện nay đang cố gắng khắc phục một số tình trạng là rất
nhiều các công trình thiết bị toàn bộ nhập khẩu về chỉ đạt từ 30-35%công
suất ,một số công trình không sử dụng được ,nhiều kiên doanh đã bị biến
thành một nơi tiêu thụ hàng hóa tồn kho ứ đọng của các máy móc thiết bị
cũ đã qua sử dụng hoặc đã lạc hậu của phía nước ngoài .Hàm lượng công
nghệ của nhiều nhà máy thể hiện trong giá trị gia tăng của sản phẩm chế
biến còn thấp khoảng 20%,ngược lại chi phí vật tư nguyên liệu nhập ngoại
còn cao hơn 70%.Đó là trong khi xây dựng nhà máy ,nhiều nhà đầu tư do
trình độ kém ,không hiểu biết và quan tâm tới lợi ích xã hội nên đã cố tình
cắt giảm nhiều hạng mục sử lý chất thải ,máy móc thiết bị bảo vệ người lao
động và môi trường .Các yếu tố có hại trong môi trường lao động không
chỉ gây ô nhiễm tại nơi làm việc mà còn ảnh hưởng xấu đến cả môi trường
sống của dân cư xung quanh .Theo thống kê chưa đầy đủ ,hiện có 1,69%
tổng số người lao động phải làm việc với máy móc thiết bị có yêu cầu
nghiêm ngặt về an toàn ,vệ sinh lao động nhưng chưa được cấp giấy phép
hoặc giấy phép đã hết sử dụng cần phải được đăng kiểm lại ;7,33%tổng số
người lao động phải làm việc với máy móc thiết bị mà bộ phận che chắn
các yếu tố nguy hiểm không có hoặc không đảm bảo ;2,35% máy móc thiết
bị đang ở trong tình trạng cũ ,hỏng,rò rỉ các chất độc hại ra môi trường .
13
Rõ ràng là hiệu quả của những công trình thiết bị toàn bộ ở Việt
Nam đã không đạt được như ý muốn ,chưa phát huy được hết vai trò to lớn
của mình trong nền kinh tế quốc dân.Một trong những nguyên nhân quan
trọng của tình trạng yếu kém về phát triển kinh tế ,với những nhà máy
,công trình thiết bị toàn bộ nhập khẩu về chất lượng không cao lắm ,chất
lượng sản phẩm chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới ,hiệu
quả kinh tế xã hội thấp chính là do chất lượng “Tài nguyên sức người”
của Việt Nam không cao .Tài nguyên sức người là một khái niệm hoàn
chỉnh ,bao gồm người lao động trí óc,người lao động chân tay ,là tổng hòa
toàn bộ nhân viên các ngành ,các nghề ,các tầng lớp ,các loại hình trong xã
hội .Việc nhập khẩu một công trình thiết bị toàn bộ không chỉ do một
doanh nghiệp,một nhóm người nào đó đứng ra quyết định mà đòi hỏi có sự
phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền cuả Chính Phủ ,những cơ quan
này ,thường không có đủ cán bộ chuyên môn để thẩm định một dự án đầu
tư ,một dự án xin vay vốn,thẩm định công nghệ của một công trình cũng
như tính toán đầy đủ hiệu quả kinh tế -xã hội mà công trình đó có khả năng
mang lại Theo như “Báo cáo đánh giá Chính sách công nghệ và đổi mới
của Việt Nam”của nhóm chuyên gia quốc tế IDRC thì cơ sở hạ tầng công
nghệ của Việt Nam còn thiếu hiệu qủa ,tuy rằng con người Việt Nam vốn
cần cù chịu khó và ham học hỏi ,nhưng hệ thống nghiên cứu và triển khai
(Research and Deverlopment-R&D) của Việt Nam còn chưa phù hợp ,nêú
không phát huy được thế mạnh về tri thức khoa học .
2.2 Tỷ giá hối đoái:
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm đồng nội tệ bị mất giá so với
đồng ngoại tệ, hàng hóa nhập khẩu trở lên đắt hơn vì người nhập khẩu phải
dùng nhiều đơn vị đồng tiền nội tệ hơn để mua cùng một số lượng hàng
nhập khẩu. Điều này, kích thích sự tăng giá cả trong nước, làm hạn chế
nhập khẩu hàng hóa hoặc kích thích sự phát triển sản xuất các hàng hóa
thay thế nhập khẩu ở trong nước. Tỷ giá hối đoái giảm tác động trực tiếp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét