Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Tìm hiểu về phân tích kỹ thuật và ứng dụng một số chỉ báo cơ bản với thị trường Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đồ thị biểu diễn các luồng vận động chủ yếu
*/Luồng vận động chủ yếu
Luồng vận động này là nội dung trọng tâm của Lý thuyết Dow
• Nói chung luồng vận động chủ yếu là xu hướng chính có biên độ rộng, được biết đến
với tên gọi là thị trường bò hay thị trường gấu, có thể kéo dài trong khoảng thời gian vài
năm.
• Hoạt động đầu cơ muốn thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định đúng hướng
cuả luồng vận động này. Chưa có phương pháp nào dự báo được luồng vận động chủ yếu
này của thị trường diễn ra trong bao lâu.
• Thị trường bò là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi lên có biên độ rộng, bị gián đoạn
bởi một xu hướng phụ có hướng ngược lại và trung bình thường kéo dài lâu hơn 2 năm.
Trong suốt quá trình này, giá cổ phiếu đi lên bởi nhu cầu mua của cả nhà đầu tư lẫn nhà
đầu cơ khi hoạt động kinh doanh phát triển và hoạt động đâu cơ trở nên sôi động .
• Thị trường gấu là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi xuống có biên độ rộng, bị gián
đoạn bởi xu hướng phụ đáng kể có xu hướng ngược lại. Nguyên nhân là do những điều
kiện kinh doanh khó khăn và xu hướng này sẽ kéo dài cho đến khi giá cổ phiếu giảm đến
mức thấp nhất.
5
thị trường giá lên thị trường giá xuống
thời gian
Giá trung bình
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
*/Luồng vận động phụ
biến động giá phụ
Luồng vận động phụ là một sự phản ứng phụ của thị trường, đó là một sự đi lên đáng kể
trong một thị trường giá xuống và ngược lại: một sự đi xuống đáng kể trong một thị trường
giá lên.
• Xu hướng này tồn tại khoảng từ vài tuần đến vài tháng
• Trong suốt quá trình diễn ra xu hướng phụ,nó khiến giá lệch từ 33% đến 66% so
với giá trong xu hướng chính kể từ khi kết thúc lần điều chỉnh giá cuối cùng
Những phản ứng điều chỉnh giá của thị trường hay những xu hướng phụ này khiến người
ta hiểu nhầm là xu hướng chính đã thay đổi.
6
thị trường giá lên thị trường giá xuống
Thời gian
Giá trung bình
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
*/ Dao động giá hàng ngày
Theo lý thuyết dao động hàng ngày của giá không đóng vai trò quan trọng trong việc xác
định xu hướng biến động của toàn bộ thị trường.
(*) Một vài dấu hiệu nhận biết để xác định giai đoạn đang diễn ra của thị trường:
 Chỉ số Giá trên thu nhập trung bình của thị trường
 Mức cổ tức trung bình của thị trường
 Phản ứng của thị trường đối với các tin tức
 Mức độ huy động vốn mới và mức độ phát hành lần đầu ra công chúng
 Các xu hướng của thị trường(xu hướng lên hoặc xuống)
 Mức độ tham gia của công chúng vào thị trường
 Mức độ quan tâm của các phương tiện truyền thông chính đối với thị trường-truyền
hình ,báo chí,và internet.
 Số lượng các nhân viên mô giới ,các hoạt động củng cố hoặc phá sản,và mối quan
tâm đối với các khách hàng riêng
Mức độ hoạt động ,tuyển dụng nhân lực,thua lỗ trong kinh doanh… trong nền kinh tế.
1.4.2.3. Luồng vận động chính có 3 giai đoạn phát triển.
Ba giai đoạn phát triển này chính là các phản ứng của thị trường thông qua việc nghiên
cứu các đồ thị biểu diễn các mức giá trung bình của thị trường.Nhưng không thể nào xác
định chính xác được vì thời điểm khởi đầu và kết thúc của mỗi giai đoạn phát triển luôn
giao thoa với nhau.Theo lý thuyết,ba giai đoạn phát triển của luồng vận động chủ yếu có
thể được biểu diễn dưới dạng đồ thị như sau:
7
thị trường giá lên thị trường giá xuống
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thị trường giá lên thị trường giá xuống
đầu cơ
Tăng thu
nhập
tự tin
hết hy
vọng
giảm thu nhập
buộc phải bán
Ba giai đoạn phát triển của thị trường giá lên
 Giai đoạn đầu tiên cho thấy việc người đầu tư lấy lại niềm tin vào tương lai của thị
trường;
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
 Giai đoạn thứ 2 là phản ứng của giá khi có thông tin làm ăn có lãi của các công
ty ,và:
 Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn khi hoạt động đầu cơ vượt ra khỏi vòng kiểm soát và
lạm phát xảy ra –giai đoạn giá cổ phiếu tăng vì có sự kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Ba giai đoạn phát triển cuả xu hướng thị trường giá xuống
 Giai đoạn đầu tiên cho thấy nhà đầu tư không có kỳ vọng vào thị trường do cổ
phiếu được mua với giá bị thổi phồng.
 Giai đoạn thứ 2 phản ánh hoạt động bán do có sự sụt giảm lợi nhuận trong kinh
doanh của các công ty,và;
 Giai đoạn 3 diễn ra là do người ta bán ra ồ ạt các chứng khoán làm giá sụt giảm
nhanh chóng .
1.4.2.4. Xác định xu hướng
Xu hướng thị trường lên giá diễn ra khi ta thấy trên đồ thị có một đỉnh cao hơn và một
một điểm đáy cao hơn. Xu hướng thị trường lên giá kết thúc khi ta thấy trên đồ thị có một
đỉnh thấp hơn và sau đó là 1 điểm đáy thấp hơn.
Xu hướng thị trường xuống giá diễn ra khi ta thấy trên đồ thị một điểm đỉnh thấp hơn và
sau đó là một điểm đáy thấp hơn. Xu hướng thị trường xuống giá kết thúc khi ta thấy trên
đồ thị xuất hiện một điểm đáy cao hơn và sau đó là một điểm đỉnh cao hơn.
1.4.2.5. Khối lượng giao dịch cũng là một dấu hiệu khẳng định xu hướng
Các nhà phân tích kỹ thuật xem xét sự thay đổi về khối lượng giao dịch cùng với diễn
biến giá như là một chỉ báo về thay đổi quan hệ cung-cầu đối với một số chứng khoán nào
đó hoặc các cổ phiếu nói chung. Sự thay đổi giá cổ phiếu theo hướng nào đó thể hiện các
nhân tố ảnh hưởng,nhưng chỉ riêng thay đổi vể giá thì chưa phản ánh quan hệ cung-cầu tại
thời điểm đó.Vì vậy ,các nhà phân tích kỹ thuật thường tìm kiếm một sự tăng giá kèm theo
khối lượng giao dịch tương đối lớn so với khối lượng giao dịch thông thường như là một
chỉ báo về xu hướng giá lên ,còn nếu giá giảm kèm theo khối lượng giao dịch lớn đồng
nghĩa với xu thế giá xuống.
Các nhà phân tích kỹ thuật cũng sử dụng tỷ lệ khối lượng giao dịch Giá lên/giá xuống
như là một chỉ báo ngắn hạn của thị trường nói chung. Khối lượng giao dịch của các cổ
phiếu tăng giá và khối lượng giao dịch của các cổ phiếu giảm giá được coi là một thước đo
về trạng thái tâm lý của người đầu tư và sử dụng nó để xác định quan hệ cung-cầu trên thị
trường.
Khối lượng giao dịch là một đại lượng đo mức độ của giao dịch trên TTCK.Có một số
cách để đo lường khối lượng ,dựa vào số liệu có được trên thị trửờng :
• Khối lượng giao dịch được tính bằng số lượng thực tế chứng khoán được giao dịch
trong một khoảng thời gian nào đó. Đây là đại lượng tốt nhất để đo khối lượng nếu số liệu
đó có sẵn trên thị trường
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Cách khác để xác định là dựa trên giá trị các chứng khoán được giao dịch trong 1
khoảng thời gian nhất định.Cách này được sử dụng chủ yếu cho các chỉ số thị trường,khi
mà tỷ trọng vốn hoá có thể khiến cho ngta hiểu sai về số lượng chứng khoán.
• Khi không có số liệu về số lượng hay giá trị chứng khoán được giao dịch ,số lượng
các giao dịch được thực hiện có thể được sử dụng thay thế.Một trong những bất lợi của
việc sử dụng dữ liệu này là nó không phản ánh đúng tỷ trọng của một giao dịch 10000
chứng khoán với giao dịch chỉ có 100 chứng khoán.
• Các nhà phân tích có thể sử dụng “bước nhảy về khối lượng”(tick volume)là số lần
thay đổi về giá trong suốt khoảng thời gian đó .Thay đổi về giá là một đại lượng cơ bản để
đo lường cường độ giao dịch.
Lý thuyết Dow đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc phân tích cổ phiếu, đặt nền
tảng cho việc so sánh chiến lược xác định thời điểm của thị trường với chiến lược “mua và
nắm giữ”trong đầu tư chứng khoán.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ CHỈ BÁO CƠ BẢN
VÀ ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU Ở VIỆT NAM.
Trong vài thập kỉ phát triển của phân tích kỹ thuật, người ta đã đưa ra rất nhiều dấu hiệu,
chỉ báo để phân tích và đánh giá các xu hướng dựa trên sự biến động của giá và khối
lượng. Đã có rất nhiều các chỉ báo được đưa ra và ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên có
thể chia làm hai loại dấu hiệu cơ bản : Dấu hiệu dự báo xu hướng thị trường và đà dao
động giá.
Thứ nhất, dấu hiệu dự báo xu hướng thị trường là một nhóm các dấu hiệu được sử dụng
để xác định xu hướng thị trường một các khách quan. Mục đích của việc sử dụng nhóm
này là nhằm xác định sự mở đầu và kết thúc của các xu hướng thị trường.
Thứ hai, đà dao động của giá là một nhóm các dấu hiệu thị trường được sử dụng để đo
lường tốc độ biến động của giá cả. Các dấu hiệu này được coi là các dấu hiệu dẫn đường
hoặc dấu hiệu ngẫu nhiên, chúng đựoc thiết kế nhằm phát hiện những giao động của giá
trong phạm vi một khoảng giao động giá hay trong phạm vi của một xu hướng. Mục đích
là để xác định thời điểm giao dịch khi giá thay đổi do việc định giá quá cao hay quá thấp.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bài phân tích này tập trung vào một số chỉ báo cơ bản như : đường trung bình động
(Moving Average - MA), hội tụ và phân kì của đường trung bình động ( Moving Average
Convergence Divergence - MACD), chỉ số cường độ tương đối (Relative strength Index-
RSI), dải Bollinger …
2.1. ĐƯỜNG TRUNG BÌNH ĐỘNG (Moving Average _ MA).
Phân tích kĩ thuật cổ điển tiếp cận với khái niệm về xu huớng giá thông qua điểm cận
trên (điểm giá cao) và điểm cận dưới (điểm giá thấp) trong pha thời gian ngắn hạn; cũng
như các đỉnh và đáy trong pha thời gian dài hạn. Với cách tiếp cận này, người ta sử dụng
dấu hiệu chỉ báo là đường xu hướng giá. Tuy nhiên phương thức này mang tính chủ quan
cao, do đó các nhà phân tích chuyển hướng sang nghiên cứu xu hướng giá theo phương
thức toán học. Đường trung bình động là công cụ rất quan trọng của phương thức này.
2.1.1.Khái niệm đường trung bình động
2.1.1.1. Khái niệm - Mục đích - Phân loại :
Đường trung bình động là một dấu hiệu dự báo xu hướng thị trường được xác định bằng
giá trị trung bình của mức giá đóng cửa trong một khoảng thời gian nhất định, tại các thời
điểm khác nhau.
Mục đích của đường trung bình động là giản lược dữ liệu về giá đóng cửa bằng cách xây
dựng một đường đồ thị biểu hiện xu hướng giá. Thay vì lập đồ thị giá trực tiếp cho từng kỳ
giao dịch, giá đóng cửa trung bình cho một số kỳ giao dịch nhất định được tính toán và đưa
vào đồ thị.
Có 4 loại đường trung bình động : đường trung bình động giản đơn (SMA), đường trung
bình động tuyến tính có trọng số, đường trung bình động tính theo hệ số mũ, đường trung
bình động biến đổi (VMA). Trong phần nghiên cứu này chỉ nghiên cứu về đường trung
bình động giản đơn.
2.1.1.2. Cách xây dựng đường trung bình động
Để thiết lập đường trung bình động 5 kỳ, chúng ta cần dữ liệu giá cả cho tối thiểu 5 kỳ.
Khi có đủ số liệu của 5 kỳ đầu tiên, ta sẽ xác định được điểm đầu tiên của đồ thị đường
trung bình động. Dưới đây là bảng ví dụ:
Kỳ Giá đóng
cửa
Tổng 5 kì cuối Trung bình của 5 kì
cuối
1 100 - -
2 102 - -
3 106 - -
4 104 - -
5 102 514 102,8 (= 514/5)
Để tính trung bình động của kì thứ 6, có hai cách:
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Cách 1: cộng giá đóng cửa từ kì thứ 2 đến kì thứ 6, sau đó chia cho 5.
- Cách 2: Lấy tổng của 5 kì trước, trừ đi giá trị của một kỳ, sau đó chia cho 5.
Kỳ Giá đóng
cửa
Tổng 5 kì cuối Trung bình của 5 kì
cuối
6 108 522 104,4
hoặc 106 514-100+108 = 522 104.4
Với những kì xảy ra tiếp theo, chúng ta sẽ làm tương tự như trên. VD:
Kỳ Giá đóng cửa Tổng giá của 5 kì cuối Trung bình của 5 kì cuối
1 100 - -
2 102 - -
3 106 - -
4 104 - -
5 102 514 102,8
6 108 522 104,4
7 110 530 106
8 113 537 107,4
9 119 552 110,4
10 114 564 112.8
Sau khi tính toán được các giá trị của đường trung bình động, người ta sẽ xây dựng được
đồ thị của đường trung bình động và sử dụng đồ thì này cùng với đồ thị về giá đóng cửa để
tiến hành phân tích.
2.1.2. Cách sử dụng đường trung bình động
2.1.2.1. Sử dụng một đường trung bình động
Nguyên tắc sử dụng đường trung bình động: khi có xu hướng giá lên, đường trung bình
động có xu hướng lên trễ hơn đường giá; khi đường xu hướng giá lên kết thúc và bắt đầu
xu hướng giá xuống thì giá có xu hướng chuyển xuống thấp hơn và nằm dưới đường trung
bình động trễ. Điều này có nghĩa đường trung bình động được coi như một dấu hiệu dự
báo xu hướng thị trường.
Căn cứ vào dấu hiệu này có 3 trường hợp xảy ra:
- Đường trung bình động đi lên, chúng ta đang ở xu hướng tăng giá
- Đường trung bình động đi xuống, chúng ta đang ở xu hướng giảm giá
- Đường trung bình động nằm ngang chúng ta không ở xu hướng nào cả mà nằm trong
khoảng giao động giá.
Nguyên tắc là chúng ta chỉ sử dụng đường trung bình động để giao dịch khi thị trường
có xu hướng rõ ràng , còn khi thị trường nằm ngang không theo xu hướng thì tốt nhất nên
dùng công cụ khác ( công cụ đo đà giao động giá chẳng hạn). Chính vì vậy khi sử dụng
đường trung bình động chúng ta thực hiện theo quy tắc sau:
- Chỉ thực hiện mua khi đường trung bình động di chuyển lên trên
- Chỉ thực hiện bán khi đường trung bình động di chuyển xuống dưới
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo quy tắc này thì chúng ta có thể thực hiện một kế hoạch giao dịch như sau:
- Mua tại điểm đường đồ thị giá cắt đường trung bình động theo hướng từ dưới lên trên.
Tất toán giao dịch mua khi đường giá cắt đường trung bình động từ trên xuống dưới
- Bán tại điểm đường giá cắt đường trung bình động theo hướng từ trên xuống dưới. Tất
toán giao dịch bán khi đường giá cắt đường trung bình động theo hướng từ dưới lên trên.
Kế hoạch này được minh hoạ trong hình vẽ sau
Giá
Bán
Đường giá
Đường MA
Mua
Ta thực hiện phân tích cổ phiếu của CTCP Đại lý liên hiệp vận chuyển (GMD) để thấy rõ
hơn những dự báo này trong những biến động của xu hướng giá theo chỉ báo SMA.
Hình 1 cho ta thấy biểu đồ giá của GMD trong 3 tháng trở lại đây(từ giữa tháng 10/2006
đến giữa tháng 1/2007).Ta sử dụng đường SMA 9 ngày và đường giá đóng cửa của GMD.
Nhìn vào đồ thị ta thấy trong tháng 10 đường giá của GMD không có biến động lớn,
đường SMA và đường giá dao động gần nhau, đường giá vẫn nằm trên SMA.Sang tháng
11,bắt đầu có những biến động rõ nét hơn. Đường giá bắt đầu chuyển động lên trên đường
SMA,kèm theo khối lượng tăng dần,thể hiện dấu hiệu của xu hướng tăng giá.Theo dấu
hiệu này ta nên tiến hành mua vào.Trên thực tế giá của GMD đã liên tục tăng từ mức
90.000đ/cp (đầu tháng 11/2006) lên đến mức xấp xỉ 160.000đ/cp vào giai đoạn cuối tháng
11.Khối lượng giao dịch liên tục tăng mạnh.
Sau giai đoạn giá tăng đến mức xấp xỉ 160.000đ/cp,ta thấy giá cổ phiếu bắt đầu giảm,
đường giá đi xuống và cắt đường SMA.Thể hiện xu hướng bán ra.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hình1
Nguồn:www.ssi.com.vn
2.1.2.2. Sử dụng hai đường trung bình động:
Khi sử dụng một đường trung bình động, chúng ta thường gặp phải một vấn đề là rất khó
xác định thời điểm đưòng giá cắt đường trung bình động. Để giải quyết vấn đề này, người
ta có thể sử dụng các "bộ lọc" hoặc sử dụng hai đường trung bình động. Phần này chỉ đề
cập đến phương pháp sử dụng hai đường trung bình động.
Theo phương pháp này người ta sẽ sử dụng hai đường trung bình động với hai độ dài
một kỳ phân tích là khác nhau (như ví dụ trên , ta sử dụng độ dài kỳ phân tích là 5 ngày).
Đường trung bình động có độ dài kỳ phân tích ngắn hơn được gọi là đường trung bình
nhanh, đường trung bình động có độ dài kỳ phân tích dài hơn được gọi là đường trung
bình chậm. Đường trung bình nhanh được sử dụng thay cho đường giá thô.
Quy tắc sử dụng hai đường trung bình động tương tự như quy tắc sử dụng một đường
trung bình động, trong đó đường trung bình động nhanh được sử dụng thay thế cho đường
giá:
- Khi đường trung bình động nhanh cắt đường trung bình chậm theo hướng từ dưới lên
thì thực hiện mua vào.
- Và thực hiện bán ra khi đường trung bình nhanh cắt đường trung bình chậm theo hướng
từ trên xuống.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét