Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.

địa của thực dân Pháp. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi
thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đôn trại và thành phố phục vụ cho
cuộc xâm lược và binh định nước ta. Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-
1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn người và trình độ còn thấp. Qua thời kỳ
khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924-1929), số lượng công nhân chuyên nghiệp đã có
22 vạn người, chiếm 1,2% số dân. Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh
doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn,
thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước nǎm 1930 có đến hàng triệu người.
Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và các tầng
lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế
quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nông dân. Đó là cơ sở khách quan
thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát
triển trong quá trình đấu tranh cách mạng.
Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, không có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa công đoàn
và chủ nghĩa cải lương thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong, do vậy, giai cấp công nhân
Việt Nam) tuy còn trẻ, số lượng ít, trình độ vǎn hoá, kỹ thuật còn thấp, nhưng ở nước
ta đó là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất, sống tập trung, có ý thức
kỷ luật, có nǎng lực cách mạng triệt để và có tinh thần quốc tế vô sản.
Là con đẻ của một dân tộc anh hùng, lớn lên trong thời đại mới, khi mà giai cấp công
nhân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Bônsêvích đã giành được chính quyền,
Quốc tế cộng sản đã thành lập, lại được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc giác ngộ, giai cấp
công nhân Việt Nam đã từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, nhanh chóng phát
triển từ tự phát đến tự giác. Tháng 11 nǎm 1922, 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn (Nam Bộ)
đã bãi công. Từ nǎm 1920 đến nǎm 1925, có đến 25 cuộc bãi công trong cả nước. Nổi
bật nhất là cuộc bãi công của công nhân Ba Son nổ ra từ ngày 4 tháng 8 đến ngày 28
tháng 11 nǎm 1925 để "kìm chân" chiếc tàu J.Misơlê của đế quốc Pháp chuẩn bị đưa
quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Cuộc đấu tranh này có tổ chức, chỉ đạo và
biểu hiện tinh thần quốc tế cao cả. Tuy vậy, chỉ đến những nǎm 1928-1929, khi Việt
Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội chủ trương "vô sản hoá" mới tạo điều kiện
cho phong trào công nhân chóng trưởng thành, phát triển lên trình độ tự giác.
3- Cuộc khủng hoảng đường lối giải phóng dàn tộc, nhiều đảng phái xuất hiện
Lịch sử nước ta từ khi đế quốc Pháp xâm lược đến những nǎm hai mươi của thế kỷ này
đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh dũng của dân tộc ta chống đế quốc
Pháp xâm lược. Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi vì không có một
đường lối cứu nước đúng đắn.
Trước kia, chế độ phong kiến khi đang ở giai đoạn hưng thịnh, giai cấp phong kiến đã
từng lãnh đạo dân tộc đánh thắng bọn phong kiến phương bắc lớn mạnh xâm lược.
Nhưng khi chế độ phong kiến đã suy tàn và phải đối phó với một kẻ thù mới, một đế
quốc thuộc loại cường quốc thế giới, thì giai cấp phong kiến bất lực và trở thành phản
động.
Thất bại của phong trào Cần vương là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách
mạng có khả nǎng dắt dẫn dân tộc đến thắng lợi. Thất bại của phong trào này đánh dấu
sự chấm dứt thời kỳ dấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ hệ tư tưởng phong
kiến. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế dưới sự lãnh đạo của cụ Hoàng Hoa Thám
cũng chứng tỏ đó không phải là con đường giành thắng lợi.
Khi các phong trào trên chấm dứt thì cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước ở nước ta
bộc lộ sâu sắc.
Sau khi từng bước ly khai con đường giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến,
nhiều người yêu nước Việt Nam hướng ra nước ngoài, tìm đến nhưng con đường mới
để mưu sự nghiệp giải phóng dân tộc như: con đường Duy Tân của Nhật Bản (1860),
con đường Cách mạng tư sản Pháp (1789), con đường Cách mạng Tân Hợi của Trung
Quốc (1911)
Vào đâu thế kỷ này, nước Nhật từ sau cuộc vãn động Duy Tân đã trở thành nước đế
quốc chủ nghĩa, đã đánh bại Nga Hoàng trong cuôc chiến tranh Nga - Nhật (1905).
Cách mạng 1905 ở Nga nổ ra nhưng không thắng lợi. Cách mạng Tân Hợi ở Trung
Quốc (nǎm 1911) đã đánh đổ triều đình Mãn Thanh, lập ra nước Trung Hoa dân quốc.
Những sự kiện trên đây đã ảnh hưởng đến phong trào yêu nước Việt Nam.
ý thức hệ tư sản phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam. Một số sĩ phu tiến bộ tiếp
thu tràn lưu tư tưởng này, mong muốn nước mạnh, dân giàu theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Họ muốn noi theo con đường phát triển của Nhật Bản, dựa vào Nhật để
đánh Pháp. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu
sáng lập, với mục đích cổ động phong trào, tổ chức lực lượng chống Pháp theo tôn chỉ
"mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, vun trồng nhân tài". Số khác như các cụ: Lương
Vǎn Can, Nguyễn Quyền mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ
động tinh thần yêu nước, bài xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích
cải cách, chế diễu lũ phong kiến, cường hào v.v Là một nhà yêu nước nhiệt thành,
nhưng chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan
Chu Trinh tiêu biểu cho xu hướng cải cách dân chủ tư sản (1789), phản đối việc vũ
trang bạo động chống Pháp. Cụ nói: "Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại,
ngoại vọng tất vong". Đó là lời tuyên bố của cụ Phan Chu Trinh sau khi đi Nhật về
(15-8-1906). Sau này trong thư "thất trảm" gửi vua Khải Định khi y sang Pháp (1922),
cụ Phan Chu Trinh viết: "Mau mau quay đâu lại mà thoái vị đi, đem chính quyền trả
lại cho quốc dân để quốc dân được trực tiếp với chính phủ Pháp mà làm việc đặng
mưu lợi ích sau này". Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp
thuế ở Trung Kỳ là kết quả của khuynh hướng tư tưởng tư sản.
Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trước Một số tổ chức
yêu nước ra đời như hội Duy Tân (1904), trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), hội
Đông á đồng minh (1908), Việt Nam quang phục Hội (1912-1924) v.v Song, vì
đường lối chính trị của các tổ chức này không rõ ràng, nhất là không dựa vào quần
chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nên không tạo ra được sự thống nhất trong
những người đề xướng phong trào. Vì vậy, khi những người thủ lĩnh bị đế quốc Pháp
bắt thì phong trào cũng tan rã theo. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917)
đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử nhân loại. Quốc tế cộng sản, bộ tham mưu
của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới được thành lập. ở Trung
Quốc, sau phong trào Ngũ Tứ, Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời (1921). ở Pháp,
Đảng cộng sản Pháp được thành lập (1920), sự kiện lịch sử này không chỉ là thắng lợi
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, mà còn là thắng lợi của các dân tộc
thuộc địa Pháp.
Đồng thời, với những chuyển biến trên thế giới, cách mạng Việt Nam lúc này cũng bắt
đâu có những chuyển biến mới.
Đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt tổ chức những người Việt Nam yêu nước ở Pháp
đưa bản "yêu sách 8 điểm" đến Hội nghị các nước đế quốc thắng trận ở thành phố
Vécxây (6-1919); đồng chí Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng
sản tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp ở thành Tua và tham gia thành lập
Đảng cộng sản Pháp (1920).
Đồng chí Nguyễn ái Quốc được bầu vào đoàn chủ tịch Hội nông dân Quốc tế (l0-
1923), và dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản (1924). Tiếng bom Phạm Hồng Thái
mưu sát toàn quyền Méclanh (6-1924) ở Quảng Châu (Trung Quốc) v.v Tất cả như sự
báo hiệu bước chuyển biến mới về chất của phong trào cách mạng Việt Nam.
Tháng 4 nǎm 1921, trên Tạp chí Cộng sản của Đảng cộng sản Pháp, đồng chí Nguyễn
ái Quốc viết: "Người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ
bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến".
Đúng như nhận xét của đồng chí Nguyễn ái Quốc, từ những nǎm 1920 trở đi, phong
trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Bên cạnh những đảng cách
mạng theo xu hướng tư tưởng tư sản, đã xuất hiện những tổ chức yêu nước tiếp thu tư
tưởng tiến bộ mới. Đặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân ngày càng có tác động mạnh mẽ vào phong trào yêu nước và phong trào công
nhân.
ở Việt Nam, giai cấp tư sản dân tộc chưa bao giờ giương được ngọn cờ giải phóng dân
tộc. Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu (1919) về cǎn bản là một tập đoàn địa chủ "tư
sản hoá".
Nǎm 1926, họ đưa ra thuyết "Pháp Việt đề huề" thì mặt nạ làm tay sai cho đế quốc
Pháp lộ rõ. "Thuyết trực trị" của Nguyễn Vǎn Vĩnh, "Thuyết bảo hoàng lập hiến" của
Phạm Quỳnh đã bộc lộ chân tướng ôm chân đế quốc Pháp. Xu hướng quốc gia cải
lương của nhóm Huỳnh Thúc Kháng cũng ít tiếng vang.
Phong trào đấu tranh trong những nǎm 1923-1927, đòi tự do, dân chủ theo kiểu cách
mạng tư sản, nhưng động lực của nó là những người tiểu tư sản chứ không phải do
đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo. Biểu hiện của phong trào này là nhiều hội, đảng yêu
nước của thanh niên trí thức kế tiếp nhau ra đời: Tân Việt thanh niên đoàn - tức Tâm
tâm xã (1923-1925), hội Phục Việt (1925), Đảng thanh niên của Trần Huy Liệu
(1926), Thanh niên cao vọng đảng của Nguyễn An Ninh (1926-1929), Tân Việt cách
mạng đảng (1926-1930), Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội (1925-1929),
Việt Nam quốc dân đảng (1925-1930) v.v Những tổ chức yêu nước cách mạng nói
trên đã có tác dụng nhất định trong việc truyền bá tư tưởng mới, giáo dục lòng yêu
nước và tập hợp số quần chúng thanh niên trí thức, tiểu tư sản. Nhưng, họ chưa vạch ra
được một đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầu của dân tộc. Tâm tâm xã nêu cao
quyết tâm "khôi phục quyền làm người của người Việt Nam", nhưng "chưa bàn đến
chính thể". Tân Việt cách mạng đang nhận rõ mục đích giải phóng dân tộc, nhưng
chưa thấy vị trí lịch sử của giai cấp công nhân, Việt Nam quốc dân đảng chủ trương
chống đế quốc, chống phong kiến, nhưng lại sao chép rập khuôn chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Dật Tiên (Trung Quốc).
Nhìn chung, các hội và đảng yêu nước nói trên có tinh thần chống đế quốc, nhưng
chưa nhận thức được xu thế phát triển khách quan của thời đại sau Cách mạng tháng
Mười Nga, nên không thấy được giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân
dân lao động, giải phóng xã hội, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ
nghĩa quốc tế vô sản, chưa thấy độc lập dân tộc phải gắn liền với chế độ mới để đi đến
xoá bỏ mọi sự bất công và áp bức bóc lột. Những người trong các tổ chức này cũng
không thấy hết bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, không nhận thức
được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, vai trò của quần chúng nhân dân, trước
hết là nông dân trong cách mạng. Bởi những hạn chế đó, những người yêu nước trong
các tổ chức này chưa thể xác định được một đường lối cách mạng đúng đắn.
Riêng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội do đồng chí Nguyễn ái Quốc
sáng lập, là một tổ chức cách mạng, phần lớn gồm những người trí thức, tiểu tư sản,
sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, sớm có khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa. Đảng
Tân Việt, sau những nǎm 1926-1927 đã chịu ảnh hưởng về đường lối của Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí Hội.
Cuộc đấu tranh về ý thức hệ và về đường lối cứu nước giữa Việt Nam thanh niên cách
mạng đồng chí Hội và các tổ chức yêu nước nói trên đã diễn ra từ những ngày đầu
đồng chí Nguyễn ái Quốc trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc
thành lập đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, từng bước khắc phục sự khủng hoảng về
đường lối cứu nước.
II- ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
CHUẨN BỊ THÀNH LẬP ĐẢNG
l- Đồng chí Nguyễn ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà
yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ, thì đồng chí Nguyễn ái
Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới.
Gần mười nǎm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Người đến những nước thuộc
địa và những nước đế quốc như Anh, Mỹ, Pháp quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ, đã
phát hiện một chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của
mọi đau khổ của giai cấp công nhân với nhân dân lao đồng ở chính quốc cũng như ở
các nước thuộc địa
Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười, Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lênin và ảnh hưởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng công sản Pháp , chủ nghĩa
Mác - Lênin, chân lý cách mạng của thời đại đã sớm được khẳng định trong nhận thức
tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 12 nǎm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, đồng chí
Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và chủ trương thành
lập Đảng cộng sản Pháp. Giải thích việc làm đầy ý nghĩa đó, đồng chí Nguyễn ái Quốc
viết: "Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập
của họ. Còn Đệ nhị Quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy, tôi đã
bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi,
đây là tất cả những điều tôi muốn."
Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính
trị của đồng chí Nguyễn ái Quốc.
Từ đó Người xác định con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam là: giải
phóng giai cấp vô sản mới thực sự giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng
này chỉ có thể là sự nghiệp cua chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới .
Từ khi trở thành người cộng sản, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã xúc tiến mạnh mẽ việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc và phong trào vô
sản ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Cuối nǎm 1921, tại Đại hội lân thứ nhất của Đảng cộng sản Pháp, đồng chí Nguyễn ái
Quốc đã trình bày dự thảo nghị quyết về vấn đề "chủ nghĩa cộng sản và thuộc địa", và
kiến nghị thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Nǎm 1922, Ban nghiên cứu
thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp được thành lập Đồng chí Nguyễn ái Quốc được cử
làm trưởng tiểu ban nghiên cứu về Đông Dương. Với cương vị này, đồng chí đã tích
cực tuyên truyền, giáo dục và giới thiệu cho Đảng cộng sản Pháp nhiều chiến sĩ cách
mạng của các nước thuộc địa ở châu á châu Phi
Cũng nǎm 1921, nhờ sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, Người đã cùng với một số
chiến sĩ cách mạng ở các nước Angiêri, Mađagátxca, Xênêgan, Tuynidi, Marốc,
Đahômây v.v sáng lập ra Hội liên hiệp thuộc địa. ở Pari, trong đó Hội người Việt
Nam yêu nước ở Pháp làm nòng cốt. Thông qua tổ chức này và báo Người cùng khổ,
diễn đàn của các dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đến với các dân tộc
thuộc địa, đồng thời tình hình các nước thuộc địa đã đến với nhân dân Pháp. Cùng với
báo Người cùng khổ mà đồng chí Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút và
quản lý, Người còn viết nhiều bài đǎng trên các báo Nhân đạo (L'humanité), cơ quan
Trung ương của Đảng cộng sản Pháp, Đời sống thợ thuyền (La Vie Ouvrière), tiếng
nói của giai cấp công nhân, Tạp chí Cộng sản (La Revue communiste), cơ quan lý luận
của Đảng cộng sản Pháp v.v Hầu hết bài viết của Người đều tập trung lên án chủ
nghĩa thực dân.
Nǎm 1925, được sự giúp đỡ của những người cộng sản Pháp, tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp của đồng chí Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được xuất bản lần
đầu tiên ở Pari. Tư tưởng, quan điểm cơ bản của Người về chiến lược và sách lược
cách mạng thuộc địa đã bước đầu thể hiện trong tác phẩm.
Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trước nhân dân Pháp và thế giới những tội ác
của bọn thực dân không chỉ ở Việt Nam, Angiêri mà ở khắp các thuộc địa. Bằng biểu
tượng "con đỉa hai vòi", Nguyễn ái Quốc đã làm cho người đọc thấy rằng: chủ nghĩa
tư bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân lao động
bị áp bức, bị bóc lột ở các nước chính quốc và các dân tộc thuộc địa. Bản án chế độ
thực dân Pháp đã góp phần vào việc thiết lập sự liên minh giữa cách mạng vô sản ở
chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên
minh chật chẽ với nhau để chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm
cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng".
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả nǎng cách mạng to lớn. Phải làm cho các dân
tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại
để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một
trong những cái cánh của cách mạng vô sản".
Bản án chế đô thực dân. Pháp đã phê phán thái độ "cầu cạnh xin xỏ thay đổi quốc
tịch" của một số người mang tư tưởng cải lương tư sản, đồng thời đề cao tinh thần tự
lực, tự cường, tự mình giải phóng cho mình: "công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể
thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em" và hướng cách mạng thuộc địa
phát triển theo con đường cách mạng của Quốc tế cộng sản.
Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lý luận đầu tiên của cách mạng nước ta,
góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ tác phẩm đó và các bài
viết của đồng chí Nguyễn ái Quốc, nhân dân ta, trước hết là những người trí thức tiểu
tư sản yêu nước, tiến bộ đã hướng về và tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tháng 6 nǎm 1923, đồng chí Nguyễn ái Quốc rời nước Pháp đến Mátxcơva để tham
dự Hội nghị nông dân quốc tế tân thứ nhất (10-1923); đồng thời trực tiếp học tập,
nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Lênin. Ngày 17-6-
1924, đồng chí được Trung ương Đảng cộng sản Pháp uỷ nhiệm tham gia Đại hội lần
thứ V Quốc tế cộng sản. Sau đó, đồng chí còn tham gia các đại hội Quốc tế công hội
đỏ, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ Tại các Đại hội quốc tế nói
trên, đồng chí Nguyễn ái Quốc tiếp tục làm rõ những quan điểm của mình về vai trò
lịch sử của giai cấp vô sản thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào cách mạng ở
thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và nêu rõ sự cần thiết phải thủ tiêu hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trước khi xoá bỏ chế độ thối nát này trên toàn
thế giới.
2. Đồng chí Nguyễn ái Quốc trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng
Giữa tháng 12 nǎm 1924, với tư cách là uỷ viên Bộ phương Đông của Quốc tế cộng
sản, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến
Quảng Châu (Trung Quốc) để hoạt động, xây dựng phong trào và đào tạo cán bộ cách
mạng cho một số nước ở Đông Nam á. Tại đây, đồng chí đã cùng với các nhà lãnh đạo
cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, v.v sáng
lập ra Hôi liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á - Đông.
Tháng nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mang
đồng chí Hội, trong đó có tổ chức trung kiên là cộng sản đoàn làm nòng cốt để trực
tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bi điều kiện cho việc thành
lập chính đảng của giai cấp vô sản Việt Nam. Người đã trực tiếp mở nhiều lớp huấn
luyện, đào tạo được hơn 200 cán bộ cách mạng. Trong số này, nhiều người được chọn
đi học trường Đai học phương Đông ở Liên Xô (Trần Phú, Lê Hông Phong, Hà Huy
Tập, v.v ), một số được cử Vào học quân sự ở trường Hoàng Phố (Trung Quốc) như
Trương Vân Lệnh, Phùng Chí Kiên. Còn phần lớn đưa về nước hoạt động. Người cho
ra tờ báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội.
Đầu nǎm 1927, cuốn Đường cách mệnh gồm những bài giảng của Người trong các lớp
đào tạo cán bộ ở Quảng Châu, được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị
áp bức ở á - Đông xuất bản.
Trong tác phẩm quan trọng này, đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu ra những tư tưởng cơ
bản về chiến lược và sách lược của cách mang Việt Nam.
Đường cách mệnh đề cập đầu tiên đến vấn đề tư cách người cách mang, nhắc nhở cán
bộ phải vị công vong tu, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham
muốn về vật chất, hy sinh, giữ bí mật, phục tùng đoàn thể v.v
Tác phẩm nêu ra ba loai tư tưởng về cách mạng và chia ra hai thứ cách mạng là "dân
tộc cách mạng" và "thế giới cách mạng", rồi khẳng định tuy có khác nhau "nhưng 2
thứ cách mệnh ấy vẫn có quan hệ với nhau". "Tất cả dân cày, người thợ trong thế giới
bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại như anh em một nhà, để đạp đổ tất cả tư
bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ
đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh".
Tác phẩm phân tích những hạn chế của cách mạng tư sản ở Mỹ (1776), ở Pháp (1789)
và khẳng định chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để.
Đường cách mệnh chỉ rõ đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là tư bản đế
quốc chủ nghĩa, phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rõ động lực và lực lượng cách
mạng: "công nông là gốc cách mệnh còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ chỉ là
bầu bạn cách mệnh của công nông". Trong khi kêu gọi sự đồng tâm, nhất trí làm cách
mạng, giải phóng dân tộc, tác phẩm đã phê phán hành động ám sát cá nhân và những
khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa khác chỉ xúi dân bạo động mà không bày cách tổ
chức; hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cường.
Quần chúng một khi đã được giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực lượng cách
mạng vô địch: "dân khí mạnh thì quân lính nào súng ống nào cũng không chống lại".
Đường cách mệnh chỉ rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Tác phẩm còn nhấn mạnh ý thức tự lực tự cường, muốn người ta giúp cho thì mình
phải tự giúp mình trước.
Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thấy khả nǎng cách mạng thuộc địa có thể giành thắng
lợi trước, không thụ động chờ đợi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi để được giải
phóng.
Người viết: "An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp
yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ" .
Tác phẩm khẳng định: muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, trước hết phải có đảng cách
mạng. Đảng ấy phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam: "Bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh
nhất là chủ nghĩa Lênin" Tác phẩm đã giới thiệu các tổ chức chính trị quốc tế, các hình
thức làm ǎn hợp tác và hướng nhân dân ta tham gia các tổ chức đó. Đường cách mệnh
chỉ rõ: "Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam".
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và tác phẩm Đường cách mệnh đã trực
tiếp chuẩn bị về tư tưởng, lý luận chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng vô sản
kiểu mới ở Việt Nam.
3- Vai trò của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội
Những nǎm trước, các cuộc đấu tranh của công nhân đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện
đời sống, tuy đã có ý thức giai cấp nhưng vẫn nằm trong phong trào dân tộc nói chung,
Công nhân đấu tranh đòi thả nhà cách mạng Phan Bội Châu, để tang nhà chí sĩ Phan
Chu Trinh, hay đình công đòi thả Nguyễn An Ninh (1925-1926), thể hiện lập trường tư
tưởng của họ chủ yếu là yêu nước, giải phóng dân tộc. Những nǎm 1928-1929, khi
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội thực hiện chủ trương "vô sản hoá" thì
phong trào công nhân đã có những bước phát triển rõ rệt. Những cuộc đình công hay
chống đi phu đi lính vẫn nhằm vào bọn tư bản thực dân và tay sai của chúng, nhưng đã
có tổ chức, có kỷ luật hơn.
Phản ánh bước phát triển này, đồng chí Tôn Đức Thắng, một chiến sĩ cách mạng vô
sản đã từng kéo cờ phản chiến trên hạm đội của Pháp ở Hắc Hải để bảo vệ Cách mạng
tháng Mười Nga, đã viết: Từ chỗ phong trào rời rạc, nhờ ảnh hưởng của cuốn Bản án
chế độ thực dân Pháp, báo Người cùng khổ, và mấy tờ Việt Nam hồn, mà bước đâu lan
rộng, bước đâu có tổ chức, để đầu nǎm 1927 công nhân đi vào phong trào Thanh niên
cách mạng đồng chí Hội một cách sâu rộng.
Từ hình thức các hội hữu ái, tương tế, giai cấp công nhân đã tự tổ chức ra công hội. Từ
công hội nhà máy Ba Son (1925) đã ra đời các công hội nhà máy xe lửa Trường Thi
(Vinh - Nghệ An), công hội nhà máy xi mǎng Hải Phòng, công hội nhà máy dệt Nam
Định, công hội các mỏ than Mạo Khê, Hồng Gai v. v Ngày 28 tháng 4 nǎm 1929,
Tổng công hội Bắc Kỳ được thành lập. Tiếp đó, tháng 10 nǎm 1929, Tổng công hội
Nam Kỳ cũng ra đời.
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội cũng hoạt động và phát huy ảnh hưởng
mạnh mẽ trong phong trào nông dân và có vai trò quyết định trong việc làm cho phong
trào nông dân ngày càng xích lại gần phong trào công nhân.
Thực tế lịch sử Việt Nam chứng minh rằng, trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo
cách mạng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, phần quyết định là giai cấp nào
nắm được nông dân. Cương lĩnh của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã
đề ra: "Tịch ký và đem về công tất cả ruộng đất của tụi đồn điền nhà chung và quý tộc,
vua chúa. Tịch ký và đem về công tất cả ruộng đất của địa chủ trên 100 mẫu. Đất
ruộng tịch ký về phân phối cho dân cày cày cấy chung". Khẩu hiệu đấu tranh của Việt
Nam thanh niên cách mang đồng chí Hội có nói: "Miễn thuế ruộng nǎm mất mùa"
"Đất bồi, đất hoang về dân cày. Phản đối sự cưỡng chiếm những đất ấy", "Thực hành
1/4 lúa ruộng cho địa chủ, đồn điền", "miễn góp lúa ruộng nǎm mất mùa", "Đóng góp
tạp dịch bình đẳng, phản đối sự miễn sưu, miễn dịch cho quý tộc và nhà giàu" Trái lại,
tất cả các đảng và tổ chức yêu nước khác, kể cả Việt Nam quốc dân Đảng, ngoài chủ
trương giải phóng dân tộc đều không có chủ trương đấu tranh cho quyền lợi của công
nhân và nông dân.
Đánh giá sự trưởng thành của phong trào công nông trong những nǎm 1928-1929, Dự
thảo Luận cương chính trị (l0-1930) của Đảng viết: "Vô sản giai cấp Đông Dương tuy
chưa đông đúc, nhưng số thợ thuyền càng ngày càng thêm, nhứt là thợ đồn điền. Sự
đấu tranh của thợ thuyền càng ngày càng hǎng hái. Dân cày cũng đã tỉnh dậy chống đế
quốc và địa chủ rất kịch liệt. Những cuộc bãi công trong nǎm 1928-1929, những cuộc
đấu tranh rất dữ dội của thợ thuyền và dân cày trong nǎm nay (1930) đã chứng tỏ rằng,
sự đấu tranh của giai cấp ở Đông Dương ngày càng bành trướng. Điều đặc biệt và
quan trọng nhất trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự đấu tranh của quần
chúng công nông có tính chất độc lập rõ rệt, chớ không phải là chịu ảnh hưởng quốc
gia chủ nghĩa như trước nữa"
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức đại diện cho giai cấp vô sản
lúc bấy giờ đã tranh thủ được tầng lớp trí thức tiểu tư sản Việt Nam.
Vào cuối nǎm 1929, đầu nǎm 1930, những điều kiện cho sự ra đời một đảng vô sản ở
Việt Nam đã chín muồi.
4. Ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Vào đầu nǎm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí Hội không còn đủ sức lãnh đạo. Trong lúc đó, số lượng
cộng sản đoàn trong Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ngày thêm nhiều. Cần phải
thành lập một Đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào, đó là một yêu cầu khách quan và
đã có những tiền đề nhất định.
Tháng 3 nǎm 1929, những cộng sản đoàn trong Kỳ bộ Thanh niên cách mạng đồng chí
Hội Bắc Kỳ gồm các đồng chí: Trần Vǎn Cung, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh,
Ngô Gia Tự, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Vần Tuân, Dương Hạc Đính
đã họp tại số nhà 5Đ, Hàm Long, Hà Nội, quyết định thành lập chi bộ cộng sản và chủ
trương tiến tới thành lập Đảng cộng sản thay thế Việt Nam thanh niên cách mạng đồng
chí Hội để lãnh đạo cách mạng.
Ngày 1 tháng 5 nǎm 1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Việt Nam thanh niên
cách mạng đồng chí Hội, kiến nghị của đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc kỳ về việc giải tán
Hội để thành lập Đảng cộng sản không được chấp nhận. Đoàn đại biểu Bắc kỳ rút khỏi
Đại hội về nước, ra lời kêu gọi công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân ủng hộ
chủ trương thành lập Đảng cộng sản.
Ngày 17 tháng 6 nǎm 1929, những đảng viên trong chi bộ 5Đ Hàm Long đã họp tại số
nhà 316 phố Khâm Thiên, Hà Nội, tuyên bố thành lập Đông Dương cộng sản Đảng, cử
ra Ban chấp hành trung ương lâm thời gồm các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn
Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Trần Vǎn Cung, Nguyễn Phong Sắc, Trần Tư Chính, Nguyên
Vǎn Tuân; thông qua Tuyên ngôn và quyết định xuất bản báo Búa Liềm, xúc tiến việc
xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng.
Sau khi Đại hội toàn quốc của Việt Nam thanh niên cách mạng đông chí hội bế mạc, 6
uỷ viên mới được bầu vào Tổng bộ là Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Thiệu, Châu Vǎn Liêm,
Nguyễn Sĩ Sách, Lê Hồng Sơn, Phạm Vǎn Đồng đã họp bàn việc thành lập Đảng cộng
sản, cử ra ban trù bị gồm các đồng chí lãnh đạo Tổng bộ nói trên. Thực hiện chủ
trương này, những cộng sản đoàn còn lại trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng
chí Hội đã hình thành các chi bộ cộng sản. Ngoài hai chi bộ cộng sản ở Trung Kỳ và
Nam Kỳ còn có chi bộ cộng sản người Việt Nam ở Thái Lan và một chi bộ ở Hồng
Kông (Trung Quốc).
Thượng tuần tháng 8 nǎm 1929, An Nam cộng sản đảng được thành lập tại cǎn phòng
số 1, lầu 2 "Phong cảnh khách lâu", ở đường Bônác Philippin Sài Gòn (nay là góc
đường Lê Lợi - Nguyễn Trung Trực thành phố Hồ Chí Minh). Hội nghị này đã cử ra
Ban lâm thời chỉ đạo của Đảng, gồm các đồng chí Châu Vǎn Liêm (tức Việt), Nguyên
Thiệu, Trần Não, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Sĩ Sách do đồng chí Châu Vần
Liêm làm bí thư.
Sau Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản đảng, các đảng viên Tân Việt
cách mạng đảng chịu ảnh hưởng của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã
tiến hành Đại hội thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn vào ngày 1 tháng 1 nǎm
1930, gồm các đồng chí Trần Hữu Chương, Nguyễn Khoa Vǎn (tức Hải Triều, Nguyễn
Xuân Thanh, Trần Đại Quả, Ngô Đức Đề, Ngô Đình Mãn, Lê Tiềm, Lê Tốn. Đại hội
chưa kết thúc thì các đại biểu đã bị chính quyền Pháp bắt.
Do vậy, Đông Dương cộng sản liên đoàn ra đời nhưng chưa có Ban chấp hành trung
ương.
Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng sau khi ra đời đã có sự tranh
giành ảnh hưởng, tranh giành quần chúng và công kích lẫn nhau. Đây là những mâu
thuẫn trong quá trình phát triển đi lên của phong trào cộng sản Việt Nam.
Tình hình ấy phản ánh sự ấu trĩ và khuynh hướng biệt phái, tiểu tư sản trong phong
trào công nhân và phong trào yêu nước. Hai đảng đã nhiều lần trao đổi thư từ để giải
quyết những bất đồng nhưng vẫn không thống nhất được.
Những người cộng sản và những người yêu nước chân chính đều nhận thấy cần phải
sớm khắc phục hiện tượng trên, thành lập một đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo
cách mạng Việt Nam tiến lên.
III - HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - CƯƠNG LĨNH
ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét