Gồm các tỉnh, thành phố từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi. Huế và Đà
Nẵng là trung tâm của vùng và địa bàn động lực tăng trởng du lịch Quảng Trị
Huế - Đà Nẵng Quảng Nam.
- Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ:
Gồm các tỉnh, thành phố từ Kon Tum đến Cà Mau với hai vùng du lịch
Nam Trung Bộ và Nam Bộ. trung tâm của vùng là thành phố Hồ Chí Minh và
địa bàn động lực tăng trởng du lịch là TP. Hồ Chí Minh- Nha Trang - Đà Lạt,
TP. Hồ Chí Minh Cần Thơ - Hà Tiên Phú Quốc, Tp. Hồ Chí Minh
Vũng Tàu Phan Thiết.
Phát triển du lịch ở các vùng, các địa bàn trọng điểm du lịch, cần phải
xuất phát từ điều kiện, đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa ph-
ơng và lợi thế về du lịch của từng nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng của cả n-
ớc để phát triển du lịch.
c. Các biện pháp thực hiện
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành du lịch; tổ chức
tốt việc thực hiện Pháp lệnh du lịch, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết
để xây dựng Luật du lịch tạo môi trờng pháp lý cho việc quản lý hoạt động du
lịch, thu hút mọi nguồn lực trong và ngoài nớc cho đầu t phát triển du lịch phù
hợp với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế của cả nớc.
Đầu t để phát triển kết cấu hạ tầng tại các địa bàn trọng điểm du lịch,
các khu du lịch quốc gia, các điểm du lịch có tiềm năng phát triển du lịch ở
miền núi, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở khai thác các tiềm năng và thế mạnh
của từng vùng, từng lĩnh vực, từng địa phơng; kết hợp có hiệu quả việc sử
dụng các nguồn lực của Nhà nớc và các nguồn lực từ các thành phần kinh tế
khác vào đầu t phát triển du lịch theo chủ trơng xã hội hoá hoạt động du lịch.
Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động trong lĩnh vực du lịch,
thựchiện chủ trơng cổ phần hoá, cho thuê, bán khoán doanh nghiệp nhà n ớc.
Cải cách hành chính, phân cấp và đơn giản hoá các thủ tục liên quan
đến khách du lịch và doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
66
Kết hợp linh hoạt các hình thức tuyên truyền, đồng thời tranh thủ các
nguồn lực từ bên ngoài và hỗ trợ quốc tế để phục vụ công tác xúc tiến quảng
bá du lịch đạt hiệu quả.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Nâng cao chất lợng đào tạo chuyên ngành du lịch với cơ cấu nhân lực phù
hợp Coi trọng và tăng c ờng hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực du
lịch.
Có chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút nhân tài, chuyên gia, nghệ
nhân tham gia vào việc phát triển du lịch của đất nớc.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát
triển du lịch; chú trọng đúng mức việc dùng và phát triển công nghệ thông tin
du lịch tiếp cận với những thành tựu mới, tiên tiến về khoa học công nghệ
du lịch quốc tế để áp dụng cho du lịch Việt Nam.
Tăng cờng vai trò và hiệu lực quản lý Nhà nớc về quản lý môi trờng, tài
nguyên, đảm bảo phát triển bền vững của du lịch Việt Nam.
Chủ động tham gia hợp tác song phơng, đa phơng, khai thác tốt quyền
lợi hội viên và thực hiện các nghĩa vụ của mình. Chuẩn bị các điều kiện để hội
nhập du lịch ở mức cao, trớc hết là chuẩn bị các điều kiện để khai thác những
yếu tố về du lịch trong việc thực thi Hiệp định thơng mại Việt Mỹ và cũng
nh khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới (WTO).
Khuyến khích và tạo điều kiện để hỗ trợ doanh nghiệp du lịch Việt
Nam đầu t ra nớc ngoài. Thực hiện đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ du lịch
với các nớc để vừa tranh thủ vốn đầu t, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản
lý vừa tiếp tục tạo lập và nâng cao hình ảnh và vị thế du lịch Việt Nam trên
khu vực và thế giới.
Nội dung Quyết định cũng nhấn mạnh việc tổ chức thực hiện. Căn cứ
vào các mục tiêu, nội dung chủ yếu của Chiến lợc này, tổng cục du lịch phối
hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND tỉnh
thành phố trực thuộc Trung ơng tổ chức triển khai thực hiện Chiến lợc phát
triển du lịch Việt Nam 2001 2010, đề xuất và kiến nghị các cơ quan Nhà
67
nớc có thẩm quyền thực hiện những giải pháp cần thiết triển khai thực hiện
Chiến lợc này.
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hoạt động kinh doanh du
lịch lữ hành Việt Nam.
a. Về việc tổ chức quản lý mạng lới kinh doanh du lịch lữ hành Việt
Nam.
Tạo môi trờng kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động lữ hành
Để tạo môi trờng kinh doanh lữ hành lành mạnh và bình đẳng, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp lữ hành phát triển đúng hớng, chính phủ cần có
chính sách toàn diện hơn về hoạt động lữ hành, cụ thể hoá hơn nữa các kế
hoạch, chơng trình thực hiện và triển khai một cách đồng bộ nhằm thống nhất
nhận thức, tạo động lực mới cho phát triển du lịch.
Bộ công an, Hải quan, Biên phòng cần tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp lữ hành đón khách tạo các cửa khẩu đợc nhanh chóng, tránh gây
phiền hà và các thủ tục không cần thiết cho khách. Các thủ tục xuất nhập cảnh
phải đơn giản hoá hơn nữa, đặc biệt là đối với các chơng trình xuyên Đông D-
ơng, Thái Lào Việt và các chơng trình du lịch hợp tác với một số các n-
ớc khác trong khu vực. Đối với những khách du lịch nớc ngoài đến từ các tỉnh
giáp biên giới nớc ta, nên ban hành loại giấy thông hành du lịch cho phép du
khách đi lại trong phạm vi nhất định thay cho thủ tục cấp hộ chiếu rắc rối. Tại
các cửa khẩu, sân bay quốc tế, cần bố trí những quầy hỗ trợ thông tin hoặc
làm dịch vụ xuất nhập cảnh miễn phí để giảm thời gian chờ đợi làm thủ tục
hải quan. Lệ phí và thời gian cấp visa xuất nhập cảnh cũng cần nhanh chóng
điều chỉnh giảm xuống cho phù hợp với thông lệ trong khu vực và tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho khách du lịch quốc tế và cả ngời Việt Nam du lịch ra n-
ớc ngoài.
Chính phủ cần có các biện pháp điều chỉnh giá cả một số loại hàng hoá,
dịch vụ phục vụ cho du lịch. Hiện nay, giá vé máy bay, viễn thông, Internet
còn khá cao so với nhiều nớc trong khu vực. Để giải quyết triệt để thực trạng
68
này, nên phá dần thế độc quyền của các doanh nghiệp nhà nớc nh Vietnam
airlines và Tổng công ty bu chính viễn thông, mở đờng cho các thành phần
kinh tế khác tham gia. Điều này góp phần lành mạnh hoá các mối quan hệ thị
trờng, giảm giá cả và tăng cờng chất lợng dịch vụ. Không những thế, đó còn là
hành động cấp thiết để đối đầu với thách thức ngày càng lớn hơn khi hiện nay,
Hiệp định thơng mại Việt Mỹ và đang đợc thực thi và Khu vực thơng mại
tự do ASEAN (AFTA) có hiệu lực đầu năm 2003 đòi hỏi chúng ta phải từng b-
ớc mở cửa thị trờng viễn thông và hàng không cho các tập đoàn n ớc ngoài
hùng mạnh. Tình trạng hai giá, phân biệt đối xử với ngời nớc ngoài dang tồn
tại ở một số địa phơng phải đợc triệt để xoá bỏ, tiến tới giá cả thống nhất cho
các hàng hoá, dịch vụ du lịch.
Ngành hàng không nên có chính sách u đãi đối với các doanh nghiệp lữ
hành quốc tế, giảm giá vé cho các cán bộ quản lý du lịch có nhu cầu ra nớc
ngoài tiếp thị tại các hội chợ du lịch quốc tế, tăng thêm các chuyến bay nội
địa cho các đờng bay hiện nay và phát triển thêm các đờng bay mới đến những
vùng sâu, vùng xa. Để phá thế độc quyền và thúc đẩy Hàng không phát triển,
bên cạnh Vietnam airlines, Pacific airlines (trong đó Vietnam airlines chiếm
đa số cổ phần), Nhà nớc cần cho thành lập thêm ít nhất một hãng hàng không
trong nớc hoạt động độc lập, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, khắc
phục đợc tình trạng chậm chuyến, huỷ chuyến nh hiện nay, góp phần nâng
cao chất lợng phục vụ và đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng gia tăng của nhân
dân và du khách.
Trên tầm vĩ mô, Nhà nớc cần quan tâm hơn nữa đến đầu t cải tạo cơ sở
hạ tầng, mở rộng mạng lới giao thông đờng bộ - đờng thuỷ - đờng không,
nâng cấp hệ thống cửa khẩu quốc tế để đón nhận lợng khách du lịch ngày
càng gia tăng. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có các biện pháp khuyến khích các
doanh nghiệp vận tải thuộc mọi thành phần kinh tế nâng cao năng lực và chất
lợng các dịch vụ vận chuyển hành khách tạo điều kiện ngày càng thuận lợi
hơn cho du khách trong nớc cũng nh quốc tế đến với các vùng du lịch đã, đang
và sẽ đợc khai thác.
69
Bộ văn hoá nên dành nguồn ngân sách thoả đáng cho việc duy tu tôn
tạo các danh lam thắng cảnh, di tích cũng nh bảo vệ và phát triển vốn văn
hoá, nghệ thuật dân tộc. Bộ cũng cần ban hành quyết định bãi bỏ việc thu phí
camera, máy ảnh tại các điểm tham quan du lịch, hiện đang gây tác động xấu
về mặt tâm lý cho khách du lịch.
Chính quyền địa phơng cần thắt chặt các biện pháp hành chính để chấm
dứt các hiện tợng đeo bám, quấy nhiễu khách của ngời bán hàng rong, ăn xin,
xe ôm , củng cố an ninh, trật tự xã hội, tạo môi tr ờng lành mạnh tại các điểm
du lịch. Vấn đề an ninh cho du khách phải đợc quan tâm nhiều hơn, cơ quan
Công an tại những khu du lịch trọng điểm có thể thành lập một bộ phận riêng
để bảo vệ du khách để họ cảm thấy thoải mái trong thời gian lu tại Việt Nam.
Cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nớc đối với doanh nghiệp du lịch lữ
hành
Nhà nớc cần hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch lữ hành nâng cao sức cạnh
tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng bá và đầu t du lịch, cung cấp
thông tin định hớng thị trờng cho kinh doanh du lịch. Các tổ chức xúc tiến th-
ơng mại của chính phủ cần tích cực hơn nữa trong công tác giúp đỡ các doanh
nghiệp lữ hành tham gia các hội chợ du lịch quốc tế tìm đối tác, thâm nhập thị
trờng nớc ngoài cũng nh tìm kiếm nguồn kinh phí, tổ chức cho doanh nghiệp
cùng tham gia quảng bá, tập trung vào các thị trờng có thế mạnh, hớng luồng
khách đến Việt Nam. Nhà nớc còn có thể hỗ trợ hoạt động kinh doanh du lịch
lữ hành bằng cách cụ thể hoá và phổ biến Quy hoạch và Chiến lợc phát triển
du lịch đến năm 2010 đã đợc phê duyệt tới các cơ quan quản lý nhà nớc về
du lịch cũng nh các doanh nghiệp du lịch, làm cơ sở cho doanh nghiệp xây
dựng kế hoạch kinh doanh riêng của mình.
Theo kinh nghiệm từ các nớc có ngành du lịch phát triển trong khu vực
và trên thế giới nh Malaysia, Thái Lan, các doanh nghiệp du lịch lữ hành cần
đợc hởng sự quan tâm, u đãi về một số hàng hoá dịch vụ mà Nhà nớc vẫn còn
70
quản lý giá nh điện nớc, đất đai để giảm chi phí đầu vào và dảm bảo khả
năng kinh doanh có lãi.
Ngành du lịch, theo thông lệ quốc tế, đợc thu phí phục vụ do khách
hàng chấp nhận. Do đó Nhà nớc không nên đánh thuế thu nhập vào khoản này
vì đây là nguồn thu chính đáng từ sức lao động của cán bộ công nhân viên chứ
không thể coi đây là lợi nhuận doanh nghiệp. Mặt khác, việc đánh thuế nh vậy
sẽ cản trở ý chí và động lực kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp, tạo tâm
lý ỷ lại trong các doanh nghiệp có sở hữu nhà nớc. Nhà nớc nên áp dụng chính
sách cho phép các doanh nghiệp chỉ phải nộp thuế trên hoa hồng đợc hởng, đ-
ợc tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp đối với hoạt động kinh doanh lữ
hành.
Tăng cờng công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra của nhà nớc đối với các
doanh nghiệp lữ hành
Nhà nớc cần đổi mới cơ chế để nâng cao hiệu lực quản lý trên lĩnh vực
du lịch lữ hành nhng vẫn đảm bảo môi trờng thông thoáng cho các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch lữ hành. Có thể nêu ra dới đây một số biện pháp cụ
thể nh:
Kiện toàn các vụ chức năng, nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác của
Tổng cục Du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành. Tiếp tục hoàn thiện cơ
chế làm việc của Tổng cục Du lịch với các Sở Du lịch và Sở Thơng mại Du
lịch, trong đó phải phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm các đơn vị có liên
quan.
Việc quản lý, kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp du lịch cần giao hẳn
cho các cơ quan quản lý du lịch địa phơng vì họ là những ngời trực tiếp nắm
đợc và có khả năng giải quyết nhanh chóng những khó khăn nhất thời của
doanh nghiệp. Tổng cục Du lịch chỉ nên là cơ quan có chức năng hoạch định
chiến lợc vĩ mô về du lịch đồng thời đảm bảo hoạt động của các cơ quan quản
lý du lịch địa phơng đúng chức năng và chính sách đề ra.
71
Xây dựng quy chế hoạt động, xác định rõ vai trò, hiệu lực quản lý của
Ban chỉ đạo Nhà nớc về du lịch nhằm thay mặt chính phủ điều phối sự hợp tác
liên ngành để nhanh chóng tháo gỡ khó khăn cho ngành Du lịch.
Kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá và hớng
dẫn thực hiện Pháp lệnh du lịch song song với công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục về Pháp lệnh du lịch. Trong đó, phải thiết lập đợc quy chế cho
hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm cùng với các chế tài xử phạt
thật nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp lợi dụng chính sách thông thoáng
của nhà nớc để làm ăn trái phép, trốn lậu thuế trong hoạt động kinh doanh du
lịch, nhất là du lịch lữ hành, nhằm tạo dựng môi trờng cạnh tranh lành mạnh,
không phân biệt đối xử, xoá bỏ bao cấp và giảm dần hàng rào bảo hộ đối với
ngành Du lịch, vừa khuyến khích vừa gây sức ép buộc các doanh nghiệp du
lịch phải năng động hơn và chủ động đổi mới công nghệ và quản lý.
b. Công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp du lịch lữ hành
Để hạn chế tình hình kinh doanh lộn xộn, cạnh tranh không lành mạnh
giữa các doanh nghiệp du lịch lữ hành hiện nay thì những cố gắng về phía
chính phủ trong công tác quản lý nhà nớc vẫn cha đủ. Bản thân các doanh
nghiệp cũng cần có những chuyển biến về nhận thức và hành động trong công
tác quản lý kinh doanh của mình. Dới đây là một mô hình về hợp tác trong
kinh doanh du lịch lữ hành, và cũng có thể coi là một đề xuất hữu ích cho các
doanh nghiệp lữ hành Việt Nam.
ở các nớc có nền du lịch phát triển, các doanh nghiệp lữ hành không
hoạt động riêng lẻ, tự phát mà thờng tụ họp trong những hiệp hội. Các hiệp hội
này đợc thành lập theo từng vùng du lịch trọng điểm hoặc thậm chí có quy mô
toàn quốc. Hình thức tổ chức hiệp hội du lịch đem lại rất nhiều lợi ích cho các
thành viên. Trên tinh thần tham gia tự nguyện và bình đẳng, các doanh nghiệp
lữ hành thành viên có thể dễ dàng trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
72
cũng nh nắm bắt đợc những xu hớng mới trong kinh doanh du lịch lữ hành
trên thế giới. Hiệp hội cũng là nơi để các doanh nghiệp gặp gỡ, tìm kiếm các
đối tác phù hợp để liên doanh liên kết thực hiện các dự án đầu t lớn vào cơ sở
hạ tầng du lịch (nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí ), những dự án đòi
hỏi vốn lớn mà một doanh nghiệp khó có thể đáp ứng đợc. Cũng bằng cách
thức này, các doanh nghiệp lữ hành có thể hợp tác tổ chức thiết kế những ch-
ơng trình quảng bá, giới thiệu du lịch có quy mô lớn vơn ra thị trờng thế giới,
vợt qua những hạn chế về vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật và nhân lực của mỗi
thành viên hiệp hội. Mỗi hiệp hội xây dựng quy chế hoạt động riêng cho
mình, tạo cơ sở để ràng buộc các thành viên làm ăn bình đẳng, tự do nhng
không phơng hại đến lợi ích chung. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp lữ
hành nhỏ có cơ hội tồn tại và phát triển, tránh tình trạng cạnh tranh không
lành mạnh, cá lớn nuốt cá bé. Cuối cùng, hiệp hội còn là diễn đàn để các
doanh nghiệp lữ hành góp tiếng nói chung tới các chủ trơng chính sách của
nhà nớc về du lịch nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của mình. Với uy tín và
sức mạnh tập thể, hiệp hội là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp lữ hành
phát triển hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh khả năng hợp tác, liên doanh, liên kết, các doanh nghiệp lữ
hành Việt Nam cần điều chỉnh chiến lợc kinh doanh theo hớng:
- Tập trung vào những thị trờng quốc tế trọng điểm:
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc; Pháp, Anh, Đức; Bắc Mỹ; ASEAN;
Australia và New Zealand. Đây là những thị trờng khách du lịch chính đối với
Việt Nam trong nhiều năm qua. Cảnh quan thiên nhiên và con ngời đất nớc ta
đã gây dựng đợc hình ảnh nhất định đối với du khách từ những quốc gia này.
Các doanh nghiệp lữ hành cần phát huy những lợi thế sẵn có những hiểu biết
về thị hiếu, nhu cầu du lịch để không những thu hút thêm lợng khách mới mà
còn biến Việt Nam thành điểm đến du lịch thờng xuyên và quen thuộc với
những du khách cũ.
73
- Đẩy mạnh khai thác khách du lịch nội địa:
Đây là một thị trờng khách du lịch quan trọng mà nhiều doanh nghiệp
lữ hành, đặc biệt là các công ty lữ hành quốc tế còn bỏ ngỏ. Trong thời gian
vừa qua, lợng khách quốc tế có nhiều thăng trầm, chịu ảnh hởng của những
biến động từ tình hình kinh tế chính trị xã hội trong khu vực và trên thế
giới nhng lợng khách du lịch trong nớc vẫn tăng trởng đều đặn với tốc độ cao.
Thời gian tới, khi tình hình kinh tế ngày càng khả quan, chắc chắn nhu cầu du
lịch của ngời dân sẽ còn tăng hơn nữa. Các doanh nghiệp lữ hành cần nắm bắt
lấy cơ hội này vì du khách nội địa thờng đi với số lợng lớn, khá dễ tính, nhu
cầu đa dạng còn việc tìm hiểu thị hiếu và thói quen du lịch của họ dễ dàng hơn
nhiều so với khách nớc ngoài. Ngoài việc tổ chức các tour trong nớc, các
chuyến du lịch ra nớc ngoài, chủ yếu là các nớc láng giềng ASEAN và Trung
Quốc, với mục dích tham quan ngắm cảnh hay công việc hoặc cổ động cho
các cuộc thi đấu thể thao có Việt Nam tham gia cũng là những hoạt động có
triển vọng.
- Lấy cạnh tranh chất lợng dịch vụ là chính:
Hiện nay các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam chỉ chủ yếu cạnh tranh
với nhau về giá cả là chính. Điều này gây những tác hại lâu dài không chỉ cho
doanh nghiệp mà cả khách du lịch. Giá tour thấp khiến doanh nghiệp phải
chịu thua thiệt về doanh thu, thậm chí lỗ trong khi du khách không đợc hởng
những dịch vụ có chất lợng tơng xứng với nhu cầu của mình.
Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp lữ hành là làm sao phải nâng cao
sức cạnh tranh trên thị trờng du lịch mà vẫn đảm bảo làm ăn có lãi. Một trong
những biện pháp cấp bách hàng đầu là nâng cao chất lợng tour du lịch và các
dịch vụ đi kèm. Khi đời sống ngời dân ngày càng nâng cao thì họ quan tâm
đến việc tour du lịch thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của họ nh
thế nào chứ không chú trọng đến giá cả đắt rẻ. Tâm lý này càng thể hiện rõ
với những du khách từ các nớc phát triển đến Việt Nam để khám phá những
74
điều mới lạ về thiên nhiên, con ngời ở đây và họ sẵn sàng trả nhiều tiền cho
những tour nh vậy miễn là chất lợng dịch vụ đáp ứng đợc yêu cầu.
Yếu tố quyết định triển vọng của một doanh nghiệp lữ hành không phải
giá cả mà là uy tín và chất lợng dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách
hàng. Tục ngữ có câu tiếng lành đồn xa, tiếng xấu đồn xa, các dịch vụ của
doanh nghiệp lữ hành có chất lợng cao và ổn định sẽ thu đợc những lời nhận
xét tôt đẹp từ du khách đã sử dụng những dịch vụ đó. Nhờ vậy, không chỉ
những du khách cũ tiếp tục tín nhiệm tour du lịch do doanh nghiệp tổ chức mà
cả những du khách mới cũng dần đến với doanh nghiệp. Ngợc lại, nếu doanh
nghiệp chỉ chú trọng giảm giá để câu khách mà bỏ bê khâu chất lợng, các dịch
vụ du lịch sẽ mất dần sức hấp dẫn và tiếp theo là sự tín nhiệm, tin tởng của du
khách và khi đó rất khó khôi phục lại đợc hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp
trong con mắt khách hàng. Hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp
nh vậy mang tính chộp giật, không có hy vọng phát triển trong tơng lai.
- Tích cực đầu t cho nghiên cứu thị trờng, phát triển sản phẩm du lịch
mới (Research and Development):
Để đảm bảo năng lực cạnh tranh trên thị trờng du lịch, doanh nghiệp lữ
hành không thể dựa mãi vào việc khai thác sản phẩm du lịch đã có. Những sản
phẩm này nhanh chóng trở nên nhàm chán, mất dần sức hấp dân đối với du
khách, thậm chí có thể bị những doanh nghiệp lữ hành khác bắt chớc khiến
doanh nghiệp mất đi lợi thế ban đầu. Vì vậy, công tác nghiên cứu thị trờng
phải đợc đầu t thích đáng để doanh nghiệp luôn bắt kịp với xu hớng biến động
của thị trờng, theo sát đợc thị hiếu và sở thích du lịch của du khách. Từ đó,
doanh nghiệp có thể đề ra những cải tiến hợp lý để sản phẩm du lịch sẵn có
của mình trở nên mới hơn hấp dẫn hơn hay nói cách khác là kéo dài thêm
vòng đời sản phẩm. Mặt khác, doanh nghiệp cũng có thể thiết kế những tour
du lịch hoàn toàn mới so với các sản phẩm hiện có của các doanh nghiệp lữ
hành khác. Điều này đảm bảo cho doanh nghiệp luôn giữ đợc sức hấp dẫn
riêng cho mình đối với khách du lịch và duy trì đợc lợi thế độc quyền tạm thời
75
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét