a. Điều kiện tự nhiên
Với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, hàng ngàn đảo
lớn, nhỏ, cộng với một hệ thống sông ngòi chằng chịt. Việt Nam đợc đánh giá là
một trong những quốc gia có tiềm năng mặt nớc cho nuôi trồng thuỷ sản vào loại
lớn nhất thế giới với khoảng 1.700.000 ha mặt nớc có khả năng nuôi trồng, trong đó
riêng vùng triều là 660.000 ha, ruộng 580.000 ha, hồ chứa và mặt nớc lớn 340.000
ha
b. Nguồn lợi giống loài thuỷ sản
Chế độ khí hậu và các điều kiện tự nhiên đa dạng là một điều kiện tơng đối
thuận lợi để phát triển nuôi trồng thuỷ sản đa dạng, nhiều loại hình.Thống kê của
các nhà nghiên cứu biển cho thấy, Việt Nam có tới 544 loài cá nớc ngọt, 186 loài
cá nớc lợ và nớc mặn, 16 loài tôm, 90 loài rong to và nhiều loại nhuyễn thể có giá
trị kinh tế cao và có khả năng đa vào nuôi trồng nhân tạo
c. Nguồn lực lao động
Với trên 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu ngời dân sống ở đầm
phá tuyến đảo của 714 xã, phờng thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chục
triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra lực lợng lao động nuôi trồng thuỷ sản đáng
kể chiếm tỉ trọng quan trọng trong sản xuất nghề cá, cha kể 1 bộ phận khá đông ng
dân làm nghề đánh cá nhng không đủ phơng tiện để hành nghề khai thác cũng
chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản và lực lợng lao động vừa sản xuất nông nghiệp,
vừa nuôi trồng thuỷ sản, đa phần đã tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm vê thuỷ hải sản
và nghề nuôi trồng.
Bảng 1: Tình hình sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam năm 1998
Chỉ tiêu Tổng So với kế hoạch (%) Tăng so với năm trớc(%)
Tổng sản lợng(tấn) 1.668.530 105,93 5,04
Khai thác Thuỷ Sản(tấn) 1.130.660 10,72 4,82
Nuôi trồng Thuỷ Sản(tấn) 537.870 100,54 5,5
Xuất Khẩu(triệu USD) 858,6 101,01 10,58
Theo số liệu trong năm 98 của Bộ thuỷ sản, số thị trờng xuất thuỷ sản đã tăng lên
50 thị trờng. Xuất khẩu sang EU và Mỹ tăng mạnh. Mỹ tăng 115,31% , EU tăng
80,42%.
5
Với những dặc điểm trên, Việt Nam đã và đang có những thuận lợi về nhiều mặt
trong việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Chính vì vậy chúng ta có tiềm năng to
lớn trong việc sản xuất, chế biến xuất khẩu thuỷ hải sản sang thị trờng nớc ngoài.
Trong mời năm trở lại đây, XK thuỷ sản Việt Nam tăng trởng mạnh, liên tục và đạt
bình quân 15-18%/năm, là một trong ba ngành hàng mang lại nhiều ngoại tệ nhất
cho đất nớc. Nếu năm 1991 thu đợc 278.8 triệu USD thì năm 2000 lên 1,4 tỉ USD
(tăng gấp 5 lần), năm 2001 đạt 1,75 tỉ USD, tăng gấp 6,3 lần năm 1991. Hàng thuỷ
sản của Việt Nam đã có mặt trên 60 nớc, đợc FAQ xếp vị trí 18 về sản lợng thuỷ
sản. thứ 26 về XK thuỷ sản.
1.2. Đặc điểm thị trờng Nhật Bản
Là một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, với qui mô GDP hàng năm
là 6900 USD/ngời, Nhật Bản hiện là một trong những thị trờng nhập khẩu hàng hoá
hấp dẫn và lớn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, việc thâm nhập vào thị trờng này
không hề dễ dàng. Độ mở cửa của Nhật Bản thấp, chỉ số XNK/GDP xấp xỉ 20%.
Nh vậy, khả năng thâm nhập của hàng ngoại vào thị trờng Nhật Bản là tơng đối
khó. Thông qua việc cho vay và các chính sách hỗ trợ làm cơ sở cho các dự án đầu
t và hợp tác với các quốc gia khác, Nhật Bản có vị trí cao nhất về kinh tế và chính
trị trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng và vị thế cao trên trờng Quốc tế.
a. Nhật Bản thị tr ờng nhập khẩu hải sản hấp dẫn
Dù Nhật Bản là một trong những nớc sản xuất hải sản hàng đầu thế giới , song
vẫn phải lệ thuộc khoảng 33% mỗi năm vào hải sản nhập khẩu (NK). Có nhiều yếu
tố đa đến sự lệ thuộc này: sản xuất nội địa sụt giảm và không đủ cung cấp cho thị
trờng trong nớc; những u điểm của của hải sản NK so với hải sản trong nớc nh
nguồn cung ứng ổn định và phẩm chất thuần nhất; phù hợp với các dây chuyền siêu
thị và các công ty chế biến hải sản vì họ mua số lợng lớn hải sản, hải sản NK không
đắt bằng hải sản trong nớc Các nhà phân phối hàng chính của Nhật ngày càng
nhập nhiều nguyên liệu từ nớc ngoài, số nớc XK gia tăng đang tích cực đẩy mạnh
việc mua bán hải sản ở Nhật. Qui mô hàng hàng hải sản ở Nhật đợc ớc tính khoảng
3 ngàn tỉ yên. Theo báo cáo của uỷ ban dinh dỡng quốc gia, Bộ y tế và phúc lợi
6
Nhật, lợng tiêu thụ đạm trong khẩu phần ăn của ngơi Nhật duy trì sự ổn định trong
một thời gian dài. Lợng đạm tiêu thụ tính theo đầu ngời mỗi ngày dừng ở mức 79,7
g, trong đó khoảng 45% đợc cung cấp bởi hải sản (19 g). Về các loại cá , cá ngừ t-
ơi, cá hồi và cá ngừ đốm chiếm 8,9 g lợng đạm hàng ngày; mực, bạch tuộc, cua
chiếm 3,2 g. Nhu cầu về hải sản luôn đợc a chuộng vì chúng vừa không chứa các
loại mỡ có hại, vừa giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh ảnh hởng đến con ngời mai
sau. Ngoài ra, hải sản còn đợc đánh giá cao về giá trị dinh dỡng và đáp ứng đợc nhu
cầu đa dạng của ngời tiêu dùng (bao gồm sự quan tâm đến sức khoẻ, an toàn thực
phẩm và độ tơi của thực phẩm. Kết qua một cuộc khảo sát nhằm đánh giá thái độ
của ngời tiêu dùng giữa cá và thịt cho thấy cá đợc chuộng hơn thịt vì 4 lí do sau
đây: tốt cho sức khoẻ, giàu chất dinh dỡng nh DHA và EDA, mùa nào có cá đó và
đa dạng chủng loại. Đặc biệt, hải sản còn đợc chế biến theo nhiều cách khác nhau
khiến việc nấu nớng hàng ngày trở thành niềm vui. Đó là lí do tại sao hải sản luôn
giữ vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn của ngời Nhật.
Bảng 2 : Thị phần nhập khẩu tôm của Nhật Bản (đơn vị : Tấn)
Tôm 1996 1997 1998 1999 2000
SL trong nớc 31.996 30.367 28.436 28.307 28.589
Nhập khẩu 304.300 281.389 251.031 259.062 259.565
Tổng cộng 336.296 331.453 279.063 287.369 288.104
Thị phần nhập khẩu 90,5% 90,3% 89,8% 90,1% 90,1%
Nguồn: Viện ngiên cứu hải sản
Làm tròn số : trung tâm thông tin KHKT và Kinh tế thuỷ sản
b. Chữ tín đi đầu trong kinh doanh
Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia kinh tế, Nhật Bản là một thị trờng
đặc biệt khó tính, nhng khi đã gây đợc lòng tin với khách hàng thì rất thuận lợi
trong kinh doanh. Nhìn chung, ngời Nhật Bản trọng uy tín, sự trung thực và thờng
theo đuổi kế hoạch làm ăn lâu dài. DN XK cần đảm bảo thời gian giao hàng đúng
thời điểm, đồng thời duy trì chất lợng sản phẩm ổn định. Bởi, nếu DN Nhật phát
7
hiện ra đối tác nào đang lừa dối họ thì mọi sự hợp tác làm ăn sẽ chấm dứt ngay. Các
DN nên theo sát diễn biến tình hình thị trờng, thị hiếu, sức mua của ngời tiêu dùng
để kịp thời cải tiến sản phẩmcho phù hợp. Khi lô hàng có sai sóthay h hỏng bị phía
đối tác khiếu nại, nhà XK nên thành thật nhận sai sót và thậm chí chịu bồi thờng
thiệt hại để tạo sự tin cậy của khách hàng. Có nh vậy mới tạo đợc mối quan hệ làm
ăn lâu dài.
c. Hàng nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn chất lợng
Thị trờng Nhật tiêu thụ hàng hoá từ rất nhiều nguồn. Do đó tính độc đáo và chất
lợng là những yếu tố mang tính quyết định. Chính vì thế hnàg hoá XK sang Nhật
phải thể hiện đợc những đặc trng khác so với những sản phẩm cùng loại, có mẫu
mã bao bì, độc đáo, hay sử dụng những nguyên liệu mới; nếu không thì phải cạnh
tranh bằng giá cả. Tại thị trờng Nhật Bản, trớc khi mua hàng, ngời tiêu dùng thờng
muốn biết rõ những chi tiết về hàng hoá chứ không chỉ gọi tên chung chung. Thật
ra, thị trờng Nhật có nhu cầu rất lớn về sản phẩm giá rẻ chứ không đơn thuần là các
sản phẩm cao cấp, song các sản phẩm giá rẻ đó vẫn phải nằm trong chuẩn mực tiêu
chuẩn chất lợng. Có thể khẳng định, thị trờng Nhật rất chuộng các sản phẩm đạt
tiêu chuẩn chất lợng hàng hoá nhng điểm khác biệt ở đây là là phải đạt theo tiêu
chuẩn Nhật. Cũng nh Mỹ và EU, hệ thống tiêu chuẩn hàng hoá ở Nhật đòi hỏi rất
cao. Các tiêu chuẩn này đợc các cơ quan Nhật chuẩn hoá bằng những chứng nhận
chất lợng nên DN nào muốn vào thị trờng Nhật dễ dàng cần phải đáp ứng các tiêu
chuẩn trên. Cụ thể ở đây là DN cần xin dấu chứng nhận chất lợng JIS áp dụng cho
hàng nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp, dấu Ecomark áp dụng cho các tiêu
chuẩn về môi trờng Ngoài ra, ng ời Nhật rất quan tâm đến Luật trách nhiệm sản
phẩm. Luật này qui định trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thờng do liên quan đến các
sản phẩm có khuyết tật gây ra thơng tích cho ngời sử dụng hay gây thiệt hại về của
cải. Luật vệ sinh về thực phẩm thì qui định cho tất cả các đồ uống tiêu dùng trên thị
trờng Nhật, các loại hàng hoá, sản phẩm này khi đa vào tiêu dùng trên thị trờng
Nhật phải có giấy phép của Bộ y tế và phúc lợi Nhật.
d. Mạng lới phân phối phức tạp
8
Hệ thống các kênh phân phối của Nhật Bản là một hệ thống cực kì phức tạp ,
mang đậm dấu ấn văn hoá, xã hội Nhật. Hệ thống kênh phân phối này bắt đầu từ
nhà sản xuất đến nhà bán buôn chuyên nghiệp, đến nhà bán buôn cấp hai, đến nhà
bán buôn khu vực, đến nhà bán lẻ, cuối cùng đến ngời tiêu dùng. Dới những nhà
bán buôn chuyên nghiệp (speciality seller) còn có các cửa hàng tự phục vụ. Đây là
hệ thống đợc xây dựng trên nền tảng xã hội Nhật Bản thể hiện sự liên kết giữa các
thành viên trong kênh và là một chức năng xã hội quan trọng mang lại lợi ích cho
ngời Nhật. Sự phức tạp của kênh phân phối là do giữa ngời sản xuất, trung gian và
ngời tiêu dùng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong phân phối hàng hoá, ngời Nhật
luôn có tiêu chí just in time, có nghĩa là: giao đúng mặt hàng, đúng chất lợng,
đúng thời điểm. Chính vì vậy, hệ thống phân phối của Nhật Bản phục vụ rất tốt cho
khách hàng, và mặc dù phức tạp hơn hệ thống phân phối của Tây Âu nhng lại đồng
bộ hơn. Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ do hàng hoá khi đến tay ngời tiêu dùng phải
trải qua nhiều khâu lu thông và phân phối nên đã làm cho giá cả tăng lên đáng kể,
bao gồm 3 loại. Một là từ nhà NK đến nhà bán buôn, ngời bán lẻ và ngời tiêu dùng.
Giá bán lẻ thờng cao gấp 3 hay 4 lần. Thứ hai là từ ngời NK đến ngời bán lẻ và ng-
ời tiêu dùng (siêu thị, cửa hàng bách hoá ). Giá bán lẻ th ờng gấp 2-2,5 lần giá
FOB. Thứ là từ ngời Nk đến ngời tiêu dùng (đặt hàng qua th) và giá bán lẻ có thể
gấp đôi giá FOB. Vì thế DN cần cố gắng giảm giá thành sản phẩm tới mức thấp
nhất, đồng thời cần đa hàng hoá vào các mạng lới lu thông và phân phối của thị tr-
ờng Nhật mới dễ đợc tiêu thụ. Hiện nay trên thị trờng Nhật Bản, phần lớn hải sản
NK bỏ qua các chợ sỉ. Ngày càng có nhiều trờng hợp các nhà chế biến thực phẩm
buôn bán sỉ, lẻ thực phẩm và các nhà hàng nhập hàng trực tiếp nhằm rút ngắn quá
trình phân phối. Bên cạnh đó, tận dụng cuộc cách mạng công nghệ thông tin, một
số nhà bán lẻ đang cung cấp thông tin về các loại hải sản qua hệ thống máy vi tính.
Ngoài ra, các nhà bán lẻ địa phơng đang bán đặc sản của họ khắp nớc nhờ internet.
Một số nhà bán lẻ cá sống có qui mô nhỏ hơn không địch lại các siêu thị lớn về số
lợng và chủng loại thì lại chuyển qua cung cấp theo từng gu của khách hàng. Khi
có một loại hải sản một khách hàng nào đó a thích, những ngời bán lẻ này sẽ điện
thoại thông báo cho khách hàng và chuyển đến tận nơi nếu khách hàng đặt mua.
9
DN Việt Nam XK thuỷ sản sang Nhật cần lu y những thông tin này để thiết lập một
mạng lới kinh doanh, phân phối có hiệu quả cao tại Nhật.
e. Cẩn thận trong việc chọn đối tác
Về thanh toán, có hai hình thức thanh toán thông dụng ở thị trờng Nhật Bản, đó
là thanh toán bằng chuyển tiền (TTR) và thanh toán qua th tín dụng (L/C). Với hai
hình thức này, các DN Nhật Bản có thể kiểm tra kĩ lỡng số hàng đợc giao về số l-
ợng, chất lợng yêu cầu, độ đồng đều về hàng hoá trớc khi có quyết định thanh toán.
Lô hàng đầu tiên, các DN Nhật Bản thờng đặt với số lợng nhỏ để thăm dò khả năng
hợp tác, kinh doanh với đối tác. Khi soạn thảo hợp đồng, họ thờng trả giá rất chi li.
Kinh nghiệm của các DN đi trớc cho thấy, khi chào hàng, bên chào hàng chỉ nên đa
ra một vài mặt hàng chủ chốt, độc đáo, dễ nhớ, dễ gây ấn tợng nhất. Tóm lại, xây
dựng quan hệ làm ăn với Nhật Bản cần phải bài bản, kiên trì và tạo uy tín.
f. Qui dịnh nhập khẩu chặt chẽ
Cũng nh các quốc gia khác, Nhật Bản duy trì chế độ kiểm tra hải quan đối với
hàng NK. Tuy nhiên, đối với hàng thuỷ sản, trớc khi làm thủ tục hải quan, các mặt
hàng này phải đợc kiểm dịch và kiểm tra vệ sinh thực phẩm. Tuỳ thuộc vào việc
thuỷ sản XK có đạt yêu cầu về kiểm dịch và về vệ sinh thực phẩm hay không mà
DN có thể đợc làm thủ tục hải quan tiếp tục hay phải dừng lại (xuất trả lại ngời gửi,
huỷ đi, tái chế cho đến khi đạt yêu cầu ). Các mặt hàng thuỷ sản NK để tham dự
hội chợ thì tuỳ vào số lợng và chủng loại sản phẩm, cơ quan hải quan có thể yêu
cầu ngời NK chứng minh là hàng hoá ấy chỉ dùng để trng bày mà thôi (và không đ-
ợc phát miễn phí tại hội chợ). Nếu DN dự tính là sẽ phát miễn phí cho khách hàng
tham dự triển lãm thì cần phải tuân thủ qui trình NK thuỷ sản theo Luật vệ sinh
thực phẩm đã nói ở trên.
Đây chỉ là một số nét phác thảo về đặc điểm tiêu dùng và NK thuỷ sản của thị
trờng Nhật Bản. Các DN thuỷ sản Việt Nam nếu muốn thâm nhập vào thị trờng này
cần phải nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn nữa thì mới có thể thành công.
2.Thực tiễn hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị
trờng Nhật Bản.
10
2.1. Tình hình thực tiễn của thuỷ sản Việt Nam năm 2004
Đầu năm 2004, ngành thuỷ sản về cơ bản vẫn tăng trởng so với cùng kì 2003
trên các chỉ tiêu về nuôi trồng, khai thác, chế biến và XK. Tuy vậy, tốc độ tăng tr-
ởng đã chậm lại so với những năm trớc đây. Trong 6 tháng đầu năm 2004, giá trị
kim ngạch XK ớc đạt 972 triệu USD, bằng 37,38% so với cùng kì 2003. Tổng sản l-
ợng thuỷ sản ớc đạt 1.262.465 tấn, bằng 47,64% so với kế hoạch và tăng 2,27% so
với cùng kì năm 2003. Sản lợng khai thác đạt 750.280 tấn, bằng 51,74% so với kế
hoạch và nuôi trồng đạt 512.185 tấn, bằng 42,68% so với kế hoạch, tăng tơng ứng
0,45% và 5,06% so với cùng kì 2003.
a. Về khai thác bảo vệ nguồn lợi
Số lợng tàu đánh cá khai thác ở các vùng nớc xa bờ tiếp tục tăng, trong đó một
số phát huy đợc hiệu quả, đặc biệt ở các tỉnh phía nam với nghề lới kéo, nghề câu
cá ngừ đại dơng, nghề vây, nghề lới rê. Các tháng đầu năm đợc mùa nhng sản lợng
mực, bạch tuộc lại giảm đáng kể. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bức xúc trong lĩnh vực
khai thác hải sản liên quan đến an toàn đi biển và xây dựng, triển khai thực hiện các
qui định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là các vùng biển ven bờ. Hiểu biết
về nguồn lợi hải sản cha đủ cơ sở để hớng dẫn tổ chức khai thác xa bờ cho ng dân.
Giá trị XK làm ra từ sản phẩm khai thác còn quá thấp do mất mùa một số loài cá
kinh tế trong 6 tháng đầu năm và thực trạng manh mún của nghề cá ngừ đại dơng.
b. Về nuôi trồng thuỷ sản
Trong 6 tháng đầu năm, diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản đạt
35.300 ha, bằng 70,6% kế hoạch năm, đa diện tích nuôi thuỷ sản của cả nớc lên
1.050.300 ha, bằng 98,6% kế hoạch năm. Trên phạm vi cả nớc, việc giải quyết
nguồn tôm bố mẹ năm nay thuận lợi hơn 2003, về cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi tôm
giống. Tuy nhiên, việc quản lí vùng nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn yếu kém. Tình
trạng tự phát, thiếu tổ chức thực hiện qui hoạch khá phổ biến. Giải quyết thuỷ lợi
cha theo kịp với mở rộng diện tích. Tại một số vùng nuôi tập trung dịch bệnh phát
sinh lan rộng với tốc độ khá nhanh có thể do yếu tố môi trờng nớc.
c. Về chế biến thuỷ sản
11
Về nguyên liệu chế biến, tôm vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Nguồn nguyên liệu
từ 6 tháng đầu năm nuôi trồng đạt thấp. Giá tôm nguyên liệu lúc khan hiếm quá
cao, trong thời gian từ 6 tháng đầu năm đến nay, khi nguyên liệu dồi dào thì lại
giảm trầm trọng ảnh hởng tới lợi ích ngời nuôi. Việc quản lí chất lợng nguyên liệu
cha tốt, trang thiết bị kiểm nghiệm và năng lực phân tích chất lợng nguyên liệu
thiếu và yếu. Việc bơm tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản gây ra giảm sút chất lợng
và uy tín hàng thuỷ sản Việt Nam, song việc xử lí cha triệt để.
d. Về năng lực chế biến
Các DN chế biến thuỷ sản tiếp tục đầu t đổi mới công nghệ, thiết bị. Tuy nhiên,
tình trạng tiếp tục đầu t xây dựng cơ sở chế biến trong khi cha có qui hoạch hoặc có
qui hoạch song cha kĩ.
e. Về thị trờng và giá XK
Do ảnh hởng vụ kiện phá giá tôm của Mỹ, giá trị kim ngạch XK vào Mỹ quí
I/2004 giảm 16,5% so với cùng kì. Thị trờng Nhật Bản có khả quan hơn, giá trị kim
ngạch XK vào Nhật tăng 32,5%, đa tỉ trọng XK sang Nhật lên 26,2%. Tuy nhiên,
việc XK sang Nhật đang tiềm ẩn khó khăn do đòi hỏi truy xuất nguồn gốc và cạnh
tranh từ các nguồn cung cấp khác. 6 tháng đầu năm giá trị XK vào EU tăng 36,8%,
đa tỉ trọng XK vào thị trờng này đạt 7,8% (tăng 1,9% so với cùng kì). Trong khi đó,
khối lợng XK vào các thị trờng khác giảm mạnh nh Trung Quốc(-51%), Đài Loan-
(14,4%), Hàn Quốc (-11,15%). Nhìn chung, giá bình quân XK thuỷ sản các tháng
đầu năm thấp so với cùng kì năm ngoái. Vì thế, các nhà NK tìm cách ép giá tôm
của ta, chờ vào vụ để ép giá thấp hơn nữa. Thị trờng nội địa tăng lên rõ rệt trong
những tháng đầu năm với giá cả đợc cảỉ thiện nhiều.
Tuy tốc độ tăng trởng trong 6 tháng đầu năm không cao nh từ năm 2003 về trớc
nhng giá trị XK và các chỉ tiêu kinh tế xã hội cơ bản của ngành vẫn tiếp tục tăng.
Sự gia tăng giá trị kim ngạch XK thuỷ sản gắn liền với việc thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn. Để hoàn
thành các chỉ tiêu kế hoạch 2004, nhất là chỉ tiêu kim ngạch XK thuỷ sản, ngành
thuỷ sản phải tạo đợc sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lí và trong sản xuất.
12
2.2.Thực tiễn xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trờng Nhật Bản
trong những năm qua
Là một trong 7 thị trờng XK thuỷ sản chính, gồm có: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc và Hồng Kông, Asean, Đài Loan, Nhật Bản có thể coi là một
bạn hàng truyền thống của Việt Nam. Bên cạnh mặt hàng thuỷ sản, Nhật Bản còn
NK các mặt hàng khác nh dầu thô, cà fê, giày dép, đồ thủ công mỹ nghệ Tuy
nhiên, khối lợng hàng XK của ta mới chiếm một tỉ trọng rất nhỏ so với nhu cầu của
thị trờng này. Năm 2002, thị phần XK thuỷ sản Việt Nam vào thị trờng Nhật Bản
chiếm 4,15%, trong đó con tôm là mặt hàng đợc a chuộng nhất, chiếm 16,68% thị
phần, đứng thứ hai sau Indonesia.Sở dĩ hàng XK của ta vào thị trờng Nhật Bản
chiếm tỉ trọng nhỏ phần lớn là do các DN XK cha tìm kĩ thị hiếu ngời tiêu dùng
Nhật Bản, cha nắm rõ những luật lệ cũng nh các tiêu chuẩn của thị trờng, nhất là
cha đa đợc hàng hoá vào hệ thống phân phối ở thị trờng Nhật Bản. Hơn nữa, đến
nay, hai nớc còn cha đạt đợc thoả thuận về việc dành cho nhau qui chế MFN trong
buôn bán. Tuy Nhật Bản đã dành cho Việt Nam qui chế u đãi GSP nhng những mặt
hàng có lợi cho Việt Nam cha nhiều.
Mặc dù đất nớc Nhật có biển bao bọc, trữ lợng nuôi trồng, khai thác rất lớn nh-
ng hàng năm xứ sở hoa anh đào cũng phải NK khoảng 13 tỉ USD các sản phẩm
thuỷ sản mới đáp ứng đợc đủ nhu cầu tiêu dùng của hơn 125 triệu dân trong nớc.
Mỗi năm, Nhật Bản NK trên 55% thuỷ sản từ các nớc Châu á, trong đó Trung
Quốc là nớc đứng đầu về cung cấp thuỷ hải sản cho Nhật, với thị phần năm 2002 là
17,99%, tiếp đến là Thái Lan với 7,83%, Việt Nam chỉ chiếm 4,15%. Ngoài ra
Nhật Bản còn nhập 9,92% thuỷ sản từ Mỹ và các nớc SNG 6,77%.
Với quan niệm: giàu thì ăn tôm, nghèo thì ăn cá, ăn ghẹ, ngời Nhật rất thích
ăn các loại hải sản tơi sống, trong đó tôm là mặt hàng dợc tiêu thụ rất mạnh. Hàng
năm, Nhật Bản đánh bắt đợc 7.000 tấn tôm các loại, nhng vẫn còn thiếu nhiều. Vì
thế, Nhật phải NK khoảng 90% lợng tôm hùm để thoả mãn đợc nhu cầu trong nớc.
Tỷ lệ này tính trên lợng tôm bóc bỏ đầu, nếu tính số lợng số lợng nhập nguyên con
thì thị phần này có thể lên đến 98%. Tại Nhật Bản, mỗi năm tiêu thụ khoảng 300-
13
400 nghìn tấn tôm sú và tôm hùm cả khai thác trong nớc và NK. Tôm hùm đen
chiếm phần lớn trong sản lợng tôm NK. Trong số này phần lớn đợc dùng phục vụ
cho các quán ăn và tại các gia đình, số nhỏ còn lại dùng trong công nghệ chế biến
mì ăn liền. Trớc đây, 70-80% tôm các loại dùng cho các cửa hàng bán thức ăn, nh-
ng do ngày càng phát triển hình thức phân phối đến tận nhà nên tỉ lệ này hiện nay
là 50/50. Tuy nhiên, tại các nhà hàng ăn uống thờng sử dụng các loại tôm hùm to
và tôm hồng cỡ vừa, các gia đình lại hay mua tôm sú đông lạnh và tôm hồng cỡ
nhỏ. Còn đối với các nhà chế biến thực phẩm thì thích dùng các loại tôm sú nhỏ
hơn. Ngời dân địa phơng thích dùng tôm vào các dịp lễ hội nh tuần lễ vàng, lễ hội
mùa hè và mừng năm mới. Do đó vào những ngày này thị trờng tại đây thờng xảy
ra tình trạng khan hiếm và giá tôm tăng lên rất cao. Tại khu vực Osaka- tokyo ngời
dân thờng dùng tôm nh là thức ăn chính trong bữa cơm hàng ngày và dùng nhiều
tôm quanh năm hơn so với các vùng khác của Nhật. Năm 2002, Nhật Bản NK
248.900 tấn tôm. Con tôm Việt Nam đến thị trờng này ngày càng tăng. Việt Nam
đã vợt qua ấn Độ để thành nớc cung cấp tôm lớn thứ hai cho thị trờng Nhật Bản
(chỉ sau Indonesia). Ngời dân Nhật cũng thích cá không kém gì tôm. Tuy nhiên, họ
chỉ nhập một vài loại cá mà tại thị trờng nội địa không đủ để cung ứng cho ngời
tiêu dùng. Cũng do một điều khá tế nhị là ăn tôm tuy ngon nhng lại khá đắt tiền,
cho nên nhiều ngời dùng cá vừa bổ, vừa phù hợp với kinh tế của gia đình. Trong
năm 2002, Việt Nam đã XK vào thị trờng Nhật Bản 1.537 tấn cá ngừ. Các loại cá
ngừ của Việt Nam chỉ chiếm một lệ rất nhỏ trong tổng lợng cá ngừ NK của Nhật
Bản nhng vẫn còn rất nhiều khả năng để tăng XK vào Nhật trong những năm tới.
Cũng trong năm 2002, Nhật Bản đã NK từ Việt Nam tổng cộng 13.122 tấn mực và
bạch tuộc đông lạnh, với trị giá 6,55 tỉ yên, tăng 7,94% về lợng và tăng 8,32% về trị
giá so với năm 2001. Mực nang XK của Việt Nam đã giành đợc vị trí thứ hai tại thị
trờng Nhật, sau Thái Lan với tỉ trọng chiếm 15,37% trong tổng lợng NK của Nhật
Bản. Nhật cũng NK khoảng 8.000 tấn ghẹ đông lạnh mỗi năm. đến nay, tuy Việt
Nam đứng thứ hai sau Trung Quốc nhng khoảng cách còn rất lớn.
Biểu đồ 1 : Tỷ trọng thị trờng xuất khẩu thuỷ sản (theo giá trị) 1998-2001
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét