Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
giá chung rất đơn giản, nó có thể là vỏ sò vỏ hến hay con bò, miếng đồng Do
yêu cầu thuận tiện trong trao đổi ngời ta thấy rằng cần phải có vật ngang giá
chung thế nào đó dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, không hao mòn và có thể tích trữ
dùng cho sau này. Con ngời đã chọn vàng.
Sản suất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá đa vào lu thông càng
nhiều, đòi hỏi phải có thêm lợng tiền đa vào thêm đáp ứng nhu cầu của hàng hoá
đa vào lu thông. Hơn nữa ngời ta thấy rằng trong mua bán chịu, tờ giấy ghi nợ
cũng có giá trị nh tiền vậy. Tiền giấy ra đời và nó đã giúp cho việc trao đổi hàng
hoá diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều.
Nhng sản xuất không ngừng phát triển, khối lợng tiền đa vào lu thông ngay
một lớn, đặc biệt là khi có lạm phát. Tiền giấy bộc lộ những hạn chế nhất định
nh : Chi phí in ấn, bảo quản, tiền giả, kiểm đếm Hơn nữa trong nền kinh tế phát
triển nh ngày nay khối lợng tiền trong một giao dịch là rất lớn, nếu thanh toán
bằng tiền mặt thì rõ ràng là bất tiện. Nh vậy đòi hỏi phải có phơng thức thanh
toán mới u việt hơn khắc phục đợc những hạn chế trên, phù hợp với một giai
đoạn phát triển kinh tế mới.Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện nh một tất
yếu, thể hiện bớc phát triển và hoàn thiện ở đỉnh cao của lịch sử phát triển của
tiền tệ.
1.2.2 Sự cần thiết phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán là cầu nối giữa sản xuất, phân phối, lu thông và tiêu dùng. Đồng
thời nó cũng là khâu mở đầu và là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội.
Tổ chức tốt công tác thanh toán nói chung sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất
kinh doanh đợc tiến hành một cách trôi chảy nhịp nhàng. Ngợc lại việc thanh
toán bị trục trặc, ách tắc thì quá trình sản xuất kinh daonh sẽ lâm vào trì trệ.
Hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đã phát triển sang một giai đoạn mới,
lúc này ngân hàng phải phát huy đầy đủ các chức năng của mình đó là trung tâm
thanh toán trong nền kinh tế.
ở đây ta hiểu thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động của tiền tệ
với chức năng là phong tiện thanh toán giữa các tổ chức cá nhân trong xã hội
bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian thanh toán của ngân
hàng hay các tổ chức tín dụng khác.
Đối với nền kinh tế thị trờng thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò rất
lớn.
+ Đối với nền kinh tế nói chung :
- Thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ phục vụ cho các hoạt động của
các tổ chức, cá nhân mà nó còn góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế khác
trong nền kinh tế quốc dân.
- Thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hoá , vật t, tăng nhanh tốc độ lu
chuyển vốn trong nền kinh tế.
+ Đối với ngân hàng :
- Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng tập chung đợc các
nguồn vốn trong dân c.
- Giúp cho ngân hàng có đợc khoản thu từ phí cung cấp dịch vụ thanh toán ổn
định và an toàn.
- Tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nớc kiểm soát và điều tiết lợng tiền đi vào
lu thông, từ đó có các chính sách phù hợp tác động vào nền kinh tế.
-Với vai trò là các trung gian tài chính việc thanh toán qua ngân hàng giúp
cho việc thu thập các nguồn thông tin về doanh nghiệp và sự chuyển dịch vốn
trong nền kinh tế. Tạo điều kiện cho việc thẩm định các dự án đầu t đợc tố hơn.
+ Đối với xã hội :
- Tạo môi trờng thanh toán văn minh, lịch sự, thuận tiện và nhanh chóng.
- Giúp ngời dân có thói quen thanh toán qua ngân hàng và sử dụng các dịch
vụ ngân hàng.
- Hạn chế nạn tiền giả, rửa tiền, thành lập các quỹ đen
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
1.3 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo quyết định 22/NH 21/01/1994 do Thống đốc Ngân hàng nhà nớc ban
hành, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đợc áp dụng trong hệ thống
ngân hàng bao gồm : Séc, Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Th tín dụng, Ngân phiếu
thanh toán, Thẻ thanh toán.
Quyt nh 22/Q-NH1 ngy 21/12/1994 ca Thng c Ngõn hng Nh
nc Vit Nam l vn bn hng dn y nht v TTKDTM. Tuy nhiờn,
bn thõn ni dung vn bn ny cũn nhiu bt cp. iu 7 Quyt nh a ra cỏc
hỡnh thc TTKDTM: sộc, y nhim chi - chuyn tin, y nhim thu, th tớn
dng, ngõn phiu thanh toỏn, th thanh toỏn. Mt s chuyờn gia cho rng ngõn
phiu thanh toỏn khụng phi l TTKDTM m chng qua l mt loi tin mnh
giỏ ln. Cũn nu coi y nhim chi - chuyn tin l mt th thc TTKDTM thỡ
l sai v khỏi nim, vỡ y nhim chi l mt th thc thanh toỏn, nhng chuyn
tin li l phng thc thanh toỏn
Gần đây nhất theo quyết định số 235/2002/QĐ-NHNN ngày 27/03/2002
của thống đốc NHNN về việc chấm dứt việc phát hành trái phiếu thanh toán.
Theo đó kể từ ngày 1/4/2002 NHNN sẽ không phát hành ngân phiếu thanh toán
nữa. Vậy nên với nội dung chính của đề tài là các hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt hiện nay tại Việt Nam nên em xin không đề cập đến hình thức
thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán, Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiệm chi.
1.3.1 Thanh toán bằng Séc.
Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng của ngân
hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của
mình mở tại ngân hàng để trả cho ngời cầm Séc hoặc cho ngời đợc chỉ định
trên tờ Séc ( tổ chức kinh tế hay cá nhân ).
Séc là một mệnh lệnh, chứ không phải là một yêu cầu, do đó khi nhận đợc
Séc Ngân hàng chấp nhận vô điều kiện, trừ trờng hợp tài khoản của ngời phát
hành không đủ hoặc không có tiền trả.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt của nớc ta quy định về xử phạt
những tờ Séc phát hành quá số d tiền gửi hoặc tiền lu ký nh sau :
+ Ngời phát hành Séc phải chịu phạt bằng 30% số tiền phát hành quá số d.
+ Ngời phát hành Séc phỉa chịu phạt về chậm trả ( kể từ ngày tờ Séc quay về
ngân hàng phục vụ ngời phát hành Séc đến ngày có đủ tiền thanh toán).
Ngoài ra nếu ngời chủ tài khoản vi phạm phát hành Séc đến tờ thứ hai,
Ngân hàng nhà nớc trung ơng sẽ thông báo đến tất cả các ngân hàng, khách hàng
phát hành Séc quá số d sẽ bị đình chỉ việc sử dụng loại Séc đó, thời gian đình chỉ
tối thiểu là 3 tháng. Trờng hợp việc vi phạm nguyên tắc phát hành Séc dẫn tới
hậu quả nghiêm trọng thì Ngời phát hành Séc sẽ bị truy tố theo quy định của
pháp luật.
Các loại Séc bao gồm :
- Séc chuyển khoản.
Séc chuyển khoản Séc thông thờng là loại Séc đợc sử dụng rộng
rãi, nó có giá trị thanh toán nh tiền tệ, do đó trên tờ séc phải có đầy đủ những yếu
tố bắt buộc theo luật định. Thông thờng séc đợc in sẵn, ngời phát hành chỉ việc
điền vào chỗ quy định bằng loại mực không phai.
Viẹc ghi trên tờ séc phải bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp đối với việc sử
dụng Séc. Séc chuyển khoản cũng nh các loại séc khác chỉ có hiệu lực trong
phạm vi thời hạn nhất định. Bởi vậy trong thời hạn hiệu lực của tờ Séc ngân hàng
phải thanh toán ngay khi ngời thụ hởng Séc nộp Séc vào ngân hàng. Cơ chế sử
dụng Séc chuyển khoản hiện nay quy định : Thời hạn hiệu lực của Séc là 10 ngày
và séc chuyển khoản chỉ đợc áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có tài
khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng có tham gia
thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày.
- Séc bảo chi và Séc định mức.
Séc bảo chi và Séc định mức là loại Séc xác nhận đợc ngân hàng bảo đảm
khả năng thanh toán và chống lại việc phát hành khống.
- Séc chuyển tiền.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Séc chuyển tiền hay Séc chuyển tiền cầm tay là một loại chuyển tiền đợc sử
dụng theo yêu cầu của khách hàng. Việc chuyển tiền mặt giữa các tỉnh thành phố
qua ngân hàng đợc các ngân hàng thực hiện bằng phơng thức chuyển tiền nhanh
bằng điện đến địa chỉ ngời lĩnh tiền, hoặc cấp séc chuyển tiền cho khách hàng.
- Séc cá nhân.
Séc cá nhân đợc áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi đứng tên
cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh
toán khác.
Hiện nay theo quy định của ngân hàng Séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu
phải làm thủ tục bảo chi Séc, ngời thụ hởng phải yêu cầu ngời phát Séc xuất trình
CMND để kiểm tra và chỉ nhận Séc do đích thân ngời có tên trên và sau tờ Séc và
phải ký tên tại chỗ.
Thời hạn hiệu lực của Séc cá nhân là 10 ngày và chỉ đợc áp dụng thanh toán
giữa các khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi
nhánh ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp
hàng ngày.
1.3.2 Thanh toán bằng hình thức thẻ thanh toán.
Thẻ thanh toán là một phơng tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật
tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và
bán cho khách hàng của mình ( các doanh nghiệp, cá nhân ) để thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ, thanh toán nợ và lĩnh tiền mặt. ở một số nớc các hãng, các
công ty lớn cũng phát hành thẻ thanh toán để thu tiền bán hàng của hãng mình.
Thẻ thanh toán bao gồm thẻ từ và thẻ điện tử. Thẻ từ là loại thẻ dùng kỹ
thuật băng từ để ghi và đọc thông tin trên thẻ. Thẻ điện tử là loại thẻ có gắn bộ
nhớ vi điện tử trên thẻ, ghi và đọc thông tin qua bộ nhớ vi điện tử.
Có 3 loại thẻ thanh toán đợc áp dụng :
- Thẻ thanh toán không phải ký quỹ.
Ngời sử dụng thẻ không phải lu ký tiền vào tài khoản để đảm bảo thanh
toán. Căn cứ để thanh toán là số d tài khoản tiền gửi của ngời chủ sở hữu thẻ mở
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
tại ngân hàng với hạn mức tối đa do ngân hàng quy định. Hạn mức đợc ghi vào
bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử, vào giải băng từ nếu là thẻ điện tử.
ở nớc ta quy định thẻ thanh toán không phải ký quỹ là loại thẻ A. nó đợc áp
dụng cho những khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán tốt và thờng xuyên,
có tín nhiệm với ngân hàng.
- Thẻ thanh toán phải ký quỹ trớc tại ngân hàng .
Ngời sử dụng thẻ phải lu ký một số tiền nhất định vào tài khoản để đảm bảo
thanh toán. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và đợc ghi vào bộ nhớ của thẻ.
Loại thẻ này đợc quy định là loại thẻ B, nó đợc áp dụng với mọi loại khách
hàng.
- Thẻ tín dụng.
Thẻ tín dụng là loại thẻ không phải ký quỹ và đợc quy định là loại thẻ C. Nó đợc
áp dụng đối với những khách hàng đợc vay vốn ngân hàng. Mức tiền cho vay là
hạn mức tín dụng và đợc ghi vào bộ nhớ của thẻ.
Chơng 2
Thực trạng về các hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt
tại Việt Nam hiện nay.
2.1 Những quy định mang tính nguyên tắc trong thanh toán không dùng
tiền mặt .
Thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng,
nghiệp vụ này có liên quan chặt chẽ đến quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ
của tất cả các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế. Để hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt diễn ra thuận lợi, an toàn, bảo đảm quyền lợi của các bên tham
gia, cần phải thống nhất công tác tổ chức và có những quy định cụ thể. Ngân
hàng nhà nớc đã có quy định nh sau :
2.1.1 Quy định chung.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Các doanh nghiệp, cơ quan nhà nớc, đoàn thể, cá nhân đợc quyền lựa chọn
ngân hàng để mở tài khoảngiao dịch và thực hiện thanh toán.
Việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, kho bạc nhà nớc thì thực hiện
qua tài khoản đợc ghi bằng đồng Việt Nam. Trờng hợp ghi bằng ngoại tệ phải
thực hiệntheo quy chế quản lý ngoại hối của chính phủ Việt Nam ban hành.
2.1.2 Quy định đối với ngân hàng.
Thực hiện uỷ thác thanh toán của chủ tài khoản, bảo đảm chính xác, an
toàn, thuận tiện. Các ngân hàng và kho bạc có trách nhiệm chi trả bằng tiền
mặthoặc chuyển khoản trong phạm vi số d tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài
khoản.
Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trớc khi thực hiện thanh
toán và đợc uỷ quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền, đồng 1thời
không chịu trách nhiệm về những nội dung liên đới của bên khách hàng.
Nừu thiếu sót trong quá trình thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng thì
ngân hàng và kho bạc phải có trách nhiệm bồi thờng thiệt hại và tuỳ theo mức độ
thiệt hại mà có thể bị xử lý theo pháp luật.
Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng ngân hàng đợc thu phí
theo quy định của thống đốc Ngân hàng nhà nớc.
2.1.3 Quy định đối với khách hàng.
Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ tài khoản phải có
đủ tiền trên tài khoản, mọi trờng hợp thanh toán quá số d là phạm pháp và phải
xử lý theo quy định của pháp luật.
Chủ tài khoản phải lập chứng từ theo mẫu in sẵn do ngân hàng ấn hành và
các chứng từ phải đầy đủ các yếu tố quy định về mẫu, chữ ký dăng ký tại ngân
hàng.
2.2 Thực trạng về các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Đã có một thời, việc kiểm soát tiền mặt tồn quỹ đợc thực hiện ráo riết, tỷ
trọng thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) tăng cao, thanh toán bằng
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
tiền mặt giảm mạnh. Nhng biện pháp hành chính đó không phù hợp với cơ chế
thị trờng. Đến nay, nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng thanh toán không dùng
tiền mặt ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 30% tổng doanh số thanh toán
trong nền kinh tế. Nhiều nghìn tỷ đồng tiền mặt đang rải rác trong từng cá nhân,
gia đình, quỹ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để thanh toán trực tiếp khi mua
hàng, kể cả mua bất động sản trị giá hàng tỷ đồng. Sử dụng tiền mặt phổ biến
trong thanh toán vừa gây nhiều lãng phí, vừa là kẽ hở lớn cho nạn tham nhũng,
buôn lậu, trốn thuế luồn lách, lẩn trốn sự kiểm soát của Nhà nớc và xã hội.
(thêm vao trong ổ đia ,hihhihihi)
Trong thời kỳ tập trung bao cấp, Nhà nớc ta cũng rất quan tâm đề ra những
chủ trơng lớn về việc sử dụng phơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong
nền kinh tế. Tuy nhiên, do ảnh hởng của cơ chế mệnh lệnh hành chính quan liêu
cùng với hệ thống ngân hàng một cấp, việc mở rộng thanh toán chuyển khoản chỉ
phát huy hiệu lực trong bộ phận kinh tế nhà nớc. Lợi ích chính đáng và hợp pháp
của chủ thể thanh toán không đợc tôn trọng đúng mức chính là lý do làm cho
những chủ trơng nói trên trở nên kém thực thi, thậm chí còn bị biến dạng trở
thành phơng tiện thể hiện quyền lực nhằm mục đích gây sách nhiễu, phiền hà.
Trớc năm 1985, thanh toán không dùng tiền mặt chiếm 80%, nhng trong cuộc
lạm phát phi mã 1985 1988, thanh toán không dùng tiền mặt sút giảm ghê
gớm vì tiền mặt khan hiếm đến mức các ngân hàng quốc doanh khi đó, với thế
độc quyền, đã khất chi tiền mặt. Một cái séc chuyển khoản nộp vào ngân hàng
phải 15 ngày sau mới tính ra bằng tiền mặt đợc.
Thực tế trên đã ảnh hởng rất lớn tới hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt hiện nay, nhất là khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trờng. Mọi việc
lại trở nên quá đà khi xã hội không chấp nhận rộng rãi các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt. Hệ thống thanh toán thông qua định chế tài chính
ngân hàng mặc dù có bớc phát triển vợt bậc so với trớc đây, nhng nhìn chung còn
bất cập trong xu thế hội nhập quốc tế, cha đi vào cuộc sống, thậm chí còn rất xa
lạ với đại đa số dân c.
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Thực trạng xã hội nớc ta vẫn là một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt
nh nhận xét của nhiều khách nớc ngoài. Thực trạng đó theo Phó Thủ Tớng
Nguyễn Tấn Dũng : làm cho việc điều hoà l u thông tiền tệ và quản lý kho quỹ
rất khó khăn, phân tán, tốn kém, ảnh hởng rất lớn đến việc hiện đại hoá công
nghệ ngân hàng và cấu trúc lại hệ thống .
2.2.1 Thanh toán bằng Séc.
Ngày 9/5/1996, chính phủ đã ban hành nghị định 30 về phát hành và sử
dụng Séc. Ngày 27/12/1996 Ngân hàng nhà nớc đã ban hành thông t 07 hớng
dẫn việc thi hành nghị định trên của chính phủ. Những văn bản pháp quy về
phát hành và sử dụng Séc có hiệu lực hơn 5 năm nay. Nhng, Séc vẫn cha đi
vào cuộc sống. Nh vậy, những văn bản pháp quy trên, nhất là thông t 07 của
Ngân hàng nhà nớc có những điểm cha phù hợp, nên Séc cha đi vào cuộc
sống. Ta có thể thấy rõ điều này qua các con số thống kê về thanh toán không
dùng tiền mặt tại TP. Hồ Chí Minh.
TP.HCM là một thành phố lớn có tốc độ phát triển và thu nhập bình quân
đầu ngời cao nhất cả nớc. Nhng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
cũng phát triển rất ì ạch.Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đợc a chuộng nhất
trong khâu thanh toán do thủ tục đơn giản, hiện đang chiếm vị trí tuyệt đối trong
khâu thanh toán giữa các thể nhân và pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế.
Tính hết 6 tháng đầu năm nay, thể thức này chiếm tỷ trọng 90,97% tổng doanh
số thanh toán không dùng tiền mặt. Trong khi đó, tỷ trọng thanh toán bằng séc
qua ngân hàng còn rất khiêm tốn, tỷ trọng này chỉ là 0,31% trong tổng doanh số
thanh toán không dùng tiền mặt tại Tp.HCM tính đến 6 tháng đầu năm nay. Còn
uỷ nhiệm thu, tỷ trọng thanh toán cũng rất thấp, chỉ bằng 2,07% tổng doanh số
thanh toán không dùng tiền mặt. Vậy vì sao các công cụ thanh toán không dùng
tiền mặt ở một đô thị lớn nh Tp.HCM lại phát triển chậm và lệch lạc nh vậy?
dẫu rằng không phải chúng không thấy đợc tác dụng tích cực của nó.
Đây là một ví dụ, dẫn chứng thực tế :
Va qua, cỏc doanh nghip (DN) lp rỏp xe gn mỏy hai bỏnh ó mua linh
kin ca cỏc DN sn xut trong nc, thc hin ni a hoỏ, vi s tin hn t
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
ng, thanh toỏn mt ln bng tin mt trn thu. Xy ra hin tng ny
mt phn l do dch v thanh toỏn khụng dựng tin mt ca ngõn hng (NH)
cha phỏt trin, Chớnh ph cha ban hnh c ch; phm vi v s tin ti a
c thanh toỏn bng tin mt.
- Mặc dù có nhiều công cụ thanh toán hiện đại xuất hiện, nhng séc vẫn là
một công cụ thanh toán phổ biến trên thế giới. Phần lớn ở các nớc đều có Luật
séc riêng, hoặc séc sẽ đợc quy định trong luật Thơng Mại, hoặc nếu không sẽ sử
dụng ngay Luật Thống nhất về séc, nên khi sử dụng séc tính pháp lý rất cao,
quyền lợi của ngời sử dụng séc đợc đảm bảo. Còn ở Việt Nam cha có luật Séc,
trong Luật Thơng mại cũng không quy định mà mới chỉ đợc ban hành dới dạng
Nghị định của Chính phủ. Song thực tế Nghị định này và Thông t hớng dẫn của
NHNN để thực hiện Nghị định về séc còn nhiều điểm cha phù hợp, do vậy tính
khả thi không cao, tính pháp lý cha đảm bảo vững chắc, quyền lợi và nghĩa vụ
của những ngời tham gia sử dụng séc không rõ ràng.
Nguyên nhân.
- Một là, vấn đề mở tài khoản :
Trong thông t của Ngân hàng nhà nớc hớng dẫn thi hành Nghị định 30 về
phát hành và sử dụng séc cha phù hợp với thông lệ quốc tế và văn bản pháp quy
của Ngân hàng nhà nớc. Trong thông t 07 dùng ngôn từ tài khoản thanh toán
trong khi đó hệ thông kế toán của ngân hàng thơng mại do Ngân hàng nhà nớc
ban hành chỉ có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Trên thế giới, doanh nghiệp, cá nhân cùng một lúc mở hai tài khoản tiền gửi tại
ngân hàng và chỉ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mới có quyền rút tiền mặt hoặc
thanh toán không dùng tiền mặt.
- Hai là, Hình thức tờ Séc do Ngân hàng nhà nớc thiết kế không phù
hợp với thực tế.
Theo mẫu Séc kèm theo thông t 07 của Ngân hàng nhà nớc, ngời phát hành
Séc ngoài việc ghi họ tên ngời thụ hởng còn phải gi số ngày cấp và nơi cấp
CMND ; số hiệu tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và địa chỉ ngời thụ hởng. Điều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét