những công cụ biến đổi "thế giới khách quan". Tuy nhiên XHH t bản mà trớc hết là
XHH Mỹ, đợc trang bị khía cạnh thực dụng, thực tế hẹp nhất của đặc điểm này của KH
hiện đại.
Thực tế công việc cụ thể đã nhanh chóng chỉ ra chủ nghĩa khách quan và chức
năng quản lý xã hội đợc biểu lệ trong những nghiên cứu thực nghiệm nh thế nào. Thứ
nhất, rõ ràng, rằng nhuwgnx mặt xấu của XH t bản XHH mới đợc xem xét tách rời
khỏi hệ thống tổng thể, coi đó là những sai lệch, riêng rẽ. Mặt khác, mục đích của các
nghiên cứu cụ thể là việc làm rõ, và theo khả năng, làm bình thờng tất cả những hành
vi sai lệch, để giữ gìn những nền tảng, chuẩn mực của XH hiện hành, tức là hình thành
tính chất cải cách của XHH thực nghiệm.
Các giai đoạn phát triển chính của XHH thực nghiệm:
* Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới đợc đặc trng bởi sự tích luỹ mạnh
các số liệu cụ thể ở những lĩnh vực khác nhau của XHH.
Lần đầu tiên trong phạm vi rộng lớn KHXH, sử dụng các phơng pháp thống kê
với những bằng chứng trong tay, xem xét những hiện tợng khác nhau của đời sống XH.
Nhiều chuyên luận theo những vấn đề riêng biết đợc viết ra. Những chuyên luận nổi
tiếng nhất, nh các nghiên cứu "Nông dân Ba Lan ở Châu Âu và Mỹ" của Thomas và
Znaniecki. "Thành phố miền trung" của vợ chồng Lind, đã làm nảy sinh một loại
nghiên cứu mới. Một số trung tâm và chuyên gia khoa học dã cống hiến sức mạnh cho
việc tích luỹ kinh nghiệm trong lĩnh vực này sẽ giúp sự hoàn thiện mức độ KH của quá
trình tiến hành điều tra cụ thể.
Tính cụ thể không đặc thù cho triết học truyền thống, của các tác phẩm thực
nghiệm về XHH, tính trực quan của những kết quả nghiên cứu đã tạo ra những kết quả
nghiên cứu đã tạo ra những tín đồ của XHH mới và đã quy định sự tách biệt hoàn toàn
của chúng với những học thuyết về XHH đại cơng. từ đó trở đi XHH Mỹ ngời ta gọi
hoàn toàn không phải các cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu vấn đề này hay khác
hoặc lâpj luận hoạt động nghiên cứu, mà gọi tổ hợp các phơng tiện và phơng pháp kỹ
thuật cho phép tiến hành các điều tra cụ thể là phơng pháp luận. Đối tợng của các cuộc
nghiên cứu cụ thể này là những mặt, khía cạnh riêng biệt của cuộc sống XH. Lý thuyết
của XHH thực nghiệm, khác với thực tế, đợc hình thành đầu tiên ở Châu Âu. Nh vậy,
tính tất yếu của bớc chuyển đổi XHH từ mức độ lý thuyết sang mức độ thực nghiệm đ-
ợc nhà bác học Đức V.Diltei lập luận chứng minh. Những nguyên tắc phơng pháp luận
của những nghiên cứu thực nghiệm đợc trình bày cụ thể trong các tác phẩm của "nhóm
viên", và ví dụ, ở trong cuốn sách của Neurath O " XHH thực nghiệm" tại dó tác giả dã
kêu gọi không sử dụng những phạm trù mà không đánh giá bằng thực nghiệm đợc. Các
5
thuyết tâm lý học, ví dụ, của nhà XHH Pháp G.Tarde và của các nhà tâm thần học ngời
áo S Freud có ảnh hởng to lớn nhất đến các điều tra, nghiên cứu cụ thể của những thập
niên đầu thế kỷ XX, trớc hết là tại Mỹ.
Nh vậy, giai đoạn đầu của sự phát triển đã có kết quả đối với XHH thực nghiệm
dới quan điểm không chỉ thu thập kinh nghiệm tiến hành điều tra cụ thể và việc tạo ra
những phơng pháp, mà còn trong sự tích luỹ không lớn những con số liệu thực tế và kết
quả nghiên cứu những vấn đề riêng biệt.
Tuy nhiên ngay vào đầu những năm 40, ngời ta đã bắt đầu ý thức đợc rằng
những nguyên tắc của XHH thực nghiệm, không cho phép nó vơn lên mức độ tổng
hợp, nhìn nhận tổng quan về XH tổng thể, ngăn cản sự phát triển tiếp theo của KH và
trên thực tế dẫn đến việc chỉ tạo ra những chỉ báo hẹp, riêng rẽ, điều không thể đáp ứng
nhu cầu bây giờ của chính những nhà nghiên cứu nghiêm túc. Những quan trọng lớn
hơn nó cũng không đáp ứng đợc nhu cầu của giới lãnh đạo, mà họ huy vọng rằng sẽ
thấy trong XHH một ngời giúp việc trong thành trong điều hành XH. Kết quả là trong
những năm này đã nảy sinh thái độ phê phán với tình trạng của XHH thực nghiệm.
Trong giới các nhà bác học đã dấy lên sự chống đối việc tuyệt đối hoá các phơng pháp
định lợng của điều tra và bắt đầu tìm lối thoát ra khỏi tình trạng ngõ cụt.
Cuối những năm 40 đầu những năm 50: Giai doạn này đợc đặc trng bởi motoj
làn sóng chú ý mới đến các vấn đề lý thuyết và phơng pháp luận. Trên diễn đàn KH
xuất hiện hệ mới đợc coi là "thế hệ hậu kinh điển" của các nhà XHH t bản. Một làn nữa
các t tởng của các nhà kinh điển thuộc trờng phái Châu Âu thế kỷ XIX nh E
Durkheim,M Weber,F Tonnies lại đợc lấy ra một cách thích thú, và dới dạng đã đợc
soạn thảo lại.
Về khách quan nhu cầu trong việc tìm kiếm các lý thuyết ( các thế hệ XHH sau
chiến tranh đã tiến đến điều này đợc giải thích bằng một loạt các nguyên nhân - Tính
không có triển vọng của việc tích luỹ các số liệu thực tế thiếu sự t duy lý thuyết về
chungs, sự phức tạp hoá hoàn cảnh xã hội trong lòng các nớc t bản đòi hỏi một phơng
pháp rộng lớn hơn để giải quyết nhuững vấn đề cấu trúc xã hội, sự cần thiết tiến hành
cuộc đấu tranh chống lại hệ thống chủ nghĩa Marx. Về chủ quan đó nh là sự phản đối
lại xu hớng tâm lý mà đã không khẳng định đợc trong những nghiên cứu sau chiến
tranh và dẫn đến việc hớng tới chủ nghĩa tự nhiên và cơ học. Bắt đầu xuất hiện mong
muốn hớng XHH đến các nghiên cứu vĩ mô, xem xét những cấu trúc xã hội lớn hơn và
phức tạp hơn, ngợc lại với "các điều tra vi mô" chỉ nghiên cứu các vấn đề riêng rẽ.
Trong thời gian này chủ nghĩa cơ cấu chức năng có một sự phổ biến đặc biệt.
Phơng pháp mới này đợc một số nhà bác học khởi xớng, trong số đó cần phải kể đến
T.Parsons và R.Merton. Họ đã đề nghị xem xét XH giống nh một thể thống nhất, ở đó
6
những hoạt động bình thờng của các phần bảo đảm tính ổn định hoạt động sống của
toàn thể cơ thể. "Hệ thống", "cáu trúc", "cân bằng" - những thuật ngữ này thu đợc
những tiếng vang đặc biệt nhờ những thành công của các ngành điều khiển và tin học
đang phát triển trong những năm đó. Những môn đồ của xu hớng mới tìm những mối
liên hệ trực tiếp giữa XH và sinh học, so sánh cơ thể XH trớc hết với cơ thể sinh học.
Việc hớng tới thực tế nghiên cứu cụ thể rất quan trọng đối với sự phân tích cấu
trúc, lòng mong muốn đa ra cho chúng một cơ sở lý thuyết, gắn hai mặt của khoa học,
lý thuyết và thực tế với nhau. Chính XHH thực nghiệm lúc đầu đã tách biệt hai mặt này
ra. Trong chuyên luận nổi tiếng "Lý thuyết XH và Cấu trúc XH" R. Merton đã trình
bày những quan điểm của mình về sự cần thiết phải tạo ra các thuyết "trung bình", bởi
vì XHH còn rất trẻ, cha thể đủ sức giải quyết ngay những vấn đề hoạt động của toàn bộ
cơ thể XH, hơn nữa các thuyết trung bình thờng ở gần các điều tra cụ thể và có thể làm
cơ sở cho chúng và ddồng thời kiểm tra, chỉnh lý lại những lý thuyết đối với chúng.
Các thuyết trung bình này dờng nh liên kết các nhà lý luận, mà coi các thuyết của mình
có giá trị và không thể phủ định và các nhà thực tiễn, mà có những kiến thức thực tế về
các hiện tợng xã hội nhng họ không thể giải thích đợc. Trong quyển sách này Merton
viết "thuật ngữ thuyết XHH đợc coi nh là các quan điểm đợc gắn với nhau một cách
lozic, những lý thuyết này thờng bị hạn chế và nhỏ bé theo phạm vi của mình hơn là
rộng lớn và bao trùm. Tôi thử tập trung sự chú ý đến điều mà có thể gọi là "các thuyết
trung bình". Các thuyết trung gian giữa những giả thuyết không lớn lắm chứa đầy trong
các nghiên cứu hàng ngày, với những thuyết đầy đủ, mà bao gồm cả sơ đồ lý luận, từ
đó nảy sinh ra vô số những quy luật mà theo dõi đợc bằng thực nghiệm, của hành vi xã
hội [Merton R. Social theory and Socral Structure N.X 1965 P5].
Tuy nhiên không phải sự đầy rẫy các số liệu thực nghiệm mà hay đợc chú ý,
cũng không phải những sự tìm tòi các lý thuyết bao trùm hay hẹp có thể giúp đỡ các
nhà XHH Mỹ và những ngời tiếp nối họ ở các nớc khác tạo ra cơ sở phơng pháp luận.
Mà trên đó XHH hiện đại có thể đứng vững. XHH Phơng tây không thể ra khỏi vòng
luẩn quẩn, khi họ đối địch với học thuyết Mác về XH ngay từ đầu. Việc thiếu một ph-
ơng pháp luận chung làm giảm giá trị những thành công riêng lẻ, nó không đa ra khả
năng so sánh các kết quả riêng biệt và chính vì vậy nó làm mất triển vọng cuả các
nghiên cứu thực nghiệm. Mặt khác, việc không thể có những vị trí hiện thực trong sự
đánh giá quy luật phát triển của lịch sử không cho phép các nhà XHH t bản đi đến việc
tạo ra một học thuyết chung thuyết phục.
Chính các nhà XHH Mỹ cũng phê phán "chủ nghĩa thực dụng quá mức" trong
các điều tra của họ. Các nhà XHH Tây Đức cũng có thái độ phê phán hiện trạng của
XHH Mỹ, tuy rằng học vẫn vay mợn sau chiến tranh những phơng pháp và kỹ thuật
7
điều tra của các đồng nghiệp bên kia đại dơng. Nhng những năm gần đây họ trở nên
chú ý hơn đến các di sản lý luận lý thuyết của triết học Đức, và tạo ra những hớng
nghiên cứu XHH độc lập ví dụ nh trờng phái Franphurt, hội nghị toàn thế giới của các
nhà XHH lần thứ IV họp tại Milan và Trest năm 1959, đã diễn ra dới các khẩu hiệu kêu
gọi gắn liền lý thuyết và thuyết thực tiễn của các điều tra XHH. Tại đại hội này nhà
XHH nổi tiếng của Mỹ P. Lazarsfeld đã chỉ trích XHH thực nghiệm rằng trong lúc các
sự kiện XH diễn ra sôi động, có nhiều vấn đề nan giải, "các tạp chí XHH Mỹ đầy rẫy
những điều tra nhỏ và không đáng kể về những điều nh sinh viên nữ và nam của các tr-
ờng họ hẹn nhau nh thế nào, hoặc là sự phổ biến của các chơng trình radio
"[Transactions of the fourth world congress of Sociology. Vol 11. L 1959, P 227].
Những năm 60: Đánh dấu sự lụi bại của trờng phái chức năng và sự quay trở lại
với những trào lu duy tâm chủ quan. Một mặt chủ nghĩa chức năng đã không thể trở
thành nền tảng để tổng hợp và giải thích các số liệu thực nghiệm. mặt khác các sự kiện
chính trị XH sôi nổi của những năm đó đã chứng minh tính thiếu cơ sở của học thuyết
đợc xây dựng trên nguyên tắc hoạt động hài hoà của XH đơng thời tại Mỹ.
Còn tính cần thiết của lý thuyết đợc chế định không những chỉ những nhu cầu
của KH "cần ghi nhận rằng - M. X. Ma-ca-rốp viết, những năm 60 hơn bao giờ hết vai
trò của KHXH trong đó có XHH tăng lên mạnh mẽ. Chỉ cần nói rằng, trong mời năm
đó ngân sách liên bang trực tiếp cho các KHXH tăng lên gần gấp ba lần. Các nhà XHH
bây giờ làm việc không phải nh những yếu tố vố vấn hay t vấn ở các tổ chức nhà nớc
hay các hãng t nhân, họ càng ngày càng đợc lôi kéo vào việc soạn thảo các đờng lối
chính phủ". Hiển nhiên rằng trong tình trạng nh vậy những số liệu thực nghiệm phân
tán mà khó có thể so sánh với nhau, không đa ra đợc một bức tranh tổng thể và triển
vọng, do vậy không thể sử dụng đợc trong lĩnh vực chính trị. Tức là ngay cả trong xu h-
ớng tạo ra các thuyết XHH t bản vẫn trung thành với nguyên tắc điều hành và nguyên
tắc nghề nghiệp xã hội của mình.
Trong những năm này cũng nảy sinh một hớng mới đợc gọi là "sự xây dựng lý
thuyết"consstruction] nó không đồng nhất về thành phần nó đặt cho minh mục đích
soạn thảo những cơ sở cấu tạo của học thuyết XHH và nó hoàn toàn mang tính lý luận,
tức là mặt nội dung của các thuyết đợc soạn thảo đợc quan tâm ít nhất. ở đây, một lần
nữa rõ ràng rằng một mặt "tính trung lập về t tởng của XHH thực nghiệm Mỹ mà đợc
tuyên bố ngay từ đầu ( mà che giấu một xu hớng giai cấp nhất định ). Mặt khác việc
thực tế công nhận tính vĩnh hằng và bất biến của cơ cấu XH hiện tại đợc dùng làm cơ
sở để xây dựng lý thuyết .
* Giai đoạn hiện nay: Sự phát hiện của XHH đợc đặc trng bằng sự tồn tại của hai
khuynh hớng đối kháng. Môn đồ của một khuynh hớng thì cho rằng việc sử dụng ph-
8
ơng pháp phân tích các dữ kiện điều tra mới nhất, là con đờng duy nhất để phát triển
khoa học về XHH và chính điều đó dẫn đến chỗ các máy tính điện tử "nhiều khi làm
việc phan tích lý thuyết thay cho việc trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự hoàn
thiện của nó ( Coser L. Two methodss in search of a substance. in: "the uses of
controversy". N. Y. L 1976, P 332 ).
Đồng minh của môn phái khác - phơng pháp luận dân tộc học khởi nguồn từ
chỗ những nghiên cứu khách quan và việc giải thích khoa học về xã hội, lịch sử không
thể có đợc, và cần phải tập trung nghiên cứu xem những khái niệm, ý niệm này hay
khác hình thành nh thế nào trong cảm nhận chủ quan của con ngời. Bất chấp sự đối
kháng rõ nét cả hai khuynh hớng này rõ ràng có cả điểm chung. Những môn đồ của
chúng trớc tiên quan tâm đến việc nghiên cứu nh thế nào, tức là chú ý đến phơng pháp
mà quên đi noioj dung lý thuyết mà họ soạn thảo.
Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy rằng, chính những nhà nghiên cứu cũng
thấy rõ diều đó. Nhà XHH Mỹ Leon Borsei viết " XHH hiện đại trình bày một sự khác
biệt dang tăng lên về chính trị, đạo dức, lý luận. Sự đa dạng của lý thuyết biểu lộ ở việc
phổ biến số lợng lớn các học thuyết lớn, cũng nh nhỏ. Tuy vậy, về căn bản sự chiếm u
thế của các học thuyết và quan niệm nhỏ của chủ nghĩa thực nghiệm vẫn là đặc trng.
Điều thứ nhất đợc chế định bởi việc phần lớn các nhà XHH đều hớng đến sự giải quyết
các vấn đề XH cụ thể, điều thứ hai - bởi việc phần lớn các điều tra XHH với t cách là
hệ thống tính toán s rụng không phải là lý thuyết , mà những khái niệm riêng rẽ. Nhng
học thuyết lớn đợc tách rời khỏi hoạt động XHH cơ bản, mà có trớc hết ở những
nghiên cứu thực nghiệm hớng tới những thuyết nhỏ, dẫn đến những liên kết và những
sự khái quát mức độ thấp. Năm 1972 nhà XHH Javetch đã trng cầu ý kiến 152 nhà
XHH Mỹ lớn nhất từ 21 trờng ĐHTH để làm rõ các hớng lý thuyết căn bản mà các nhà
XHH đang nghiên cứu. Trong số đó thờng hay nhở đến thuyết cơ cấu chức năng, hành
vi xã hội, chủ nghĩa tơng tác biểu trng, thuyết chiết trung có chơng trình, sinh thái, mô
hình hoá toán học, các thuyết về trao đổi xã hội.
2. XHH thông tin đại chúng
Lần đầu tiên khái niệm " XHH báo chí" đợc nhà XHH của Đức M.Weber dùng
năm 1910, trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ nhất của hội XHH Đức, tạo đó một chơng
trình lý thuyết chung rộng lớn về việc nghiên cứu hoạt động của báo chí, các ấn bản
bằng việc sử dụng các phơng pháp thống kê đã đợc hình thành. Weber nêu ra toàn bộ
tổ hợp tác các vấn đề, mà cần phải nghiên cứu ở đây, bắt đầu những vấn đề kinh tế đảm
bảo sự tồn tại của báo chí, các đặc điểm của su luận XH kết thúc các nguồn tin tức và
thái độ với thông tin bao gồm cả những suy tởng về sự cần thiết của việc phân tích định
9
lợng các t liệu báo chí, điều mà chỉ đợc thực hiện sau 30 năm. Tuy nhiên chơng trình
của Weber không tiến đợc một bớc cụ thể nào.
Ngời ta cho rằng XHH TTĐC đợc tách ra từ XHH d luận xã hội, hay đúng hơn
là từ những cuộc trng cầu ý kiến mà đã xuất hiện tại Mỹ từ thế kỷ trớc, khi có những
cuộc vận động bầu cử. Ngay từ đầu, chúng đã năn chặt với báo chí. Ví dụ những cuộc
trng cầu ý kiến "Solomen" đợc chính giới báo chí tiến hành. Năm 1883 nhà biên tập
báo "Boston Globe" đã sử dụng hệ thống kê phiếu trong ngày bầu cử để dự đoán về kết
quả bỏ phiếu. Trng cầu ý kiến kiểu "Solomen" đợc định nghĩa nh là sự thống kê chính
thức của cử tri nhằm mục đích làm rõ sự khác nhau trong quan điểm của d luận XH về
những vấn đề xã hội quan trọng và thái đọ của d luận xã hội đối với những ứng cử viên
vào các chức vụ của chính phủ. [Encyclopedia of social science, Vol XIV. P 417].
Đến những năm 20 trng cầu ý kiến kiểu "Solomen" không còn là trờng hợp ngẫu
nhiên của hoạt động báo chí nữa - tất cả những báo chí đàn anh đều tiến hành chúng
cùng nhau hoặc đối lập nhau, và phạm vi các cuộc trng cầu ý kiến càng lớn rộng. Tóm
lại, mối quan hệ của báo chí với hình thức quan trọng này của nghiên cứu thực nghiệm,
cũng giống nh việc trng cầu ý kiến, đợc hình thành trong lịch sử từ trớc khi XHH
TTĐC thành môn khoa học.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng trong trờng hợp này báo viết, radio, vô tuyến
truyền hình (VTTH) là ngời sử dụng các thông tin XHH, mà đợc trực tiếp đa vào các
văn bản của TTĐC và phục vụ cho việc làm quen của các nhà báo, nhà xuất bản về tình
trạng của ý thức quần chúng. Mối liên hệ của TTĐC với các cuộc trng cầu ý kiến d
luận xã hội rất chặt chẽ cho đến ngày nay. Báo chí, đài phát thanh, VTTH là một trong
những khách hàng chính của các viện, trung tâm và các hãng mà tiến hành các điều tra
d luận xã hội. Tuy nhiên đây không phải là bản thân XHH TTĐC, mà theo định nghĩa
của nhà bác học Xô Viết P.X. Gurevich "Nghiên cứu các quá trình thông tin - đại
chúng trong xã hội, cấu trúc của chúng, các đặc điểm hoạt động, các quy luật và vị trí
trong tổ chức xã hội", mà các phơng tiện TTĐC làm đối tợng nghiên cứu cho nó.
Những tiền đề kinh tế : của sự hình thành lĩnh vực này của XHH thực nghiệm đ-
ợc gắn liền với sự phát triển sôi động trong quảng cáo báo chí, mà đã trở thành đại
chúng trong thời gian này, sẵn sàng dành cho quảng cáo những trang báo của mình, bù
lại chứng nhận đợc các phơng tiện để tồn tại. Chính các cơ quan quảng cáo, liên đoàn
các nhà quảng cáo lần đầu tiên chú ý đến việc nghiên cứu công chúng của TTĐB bằng
các phơng pháp XHH.
Tuy nhiên việc phân tích các điều tra những phơng tiện thông tin thành một lĩnh
vực độc lập của XHH thực nghiệm có cả những tiền dề t tởng. Nh đã nêu ở trên, yếu tố
quan trọng của sự sáng tạo ra XHH thực nghiệm có cả những tiền đề t tởng. Nh đã nêu
10
lên ở trên, yếu tố quan trọng của sự sáng tạo ra XHH thực nghiệm là sự cần thiết đối
với giai cấp lãnh đạo sử dụng KH này nh một vũ khí điều hành XH và lãnh xã hội,
điều mà sẽ giúp bảo tồn những mối quan hệ đơng thời bằng con đờng hiệu chỉnh những
sai sót riêng rẽ để giữ nguyên vẹn cái chính. Những nguyên tắc tồn tại của XH t bản.
Hiển nhiên, là một hệ thống tác động đến ý thức quần chúng hùng mạnh nh thế là báo
chí (sau này đài phát thanh và VTTH) không thể không đợc các nhà chính trị gia và t t-
ởng chú ý đến. XHH không chỉ đa ra những phơng tiện để kiểm tra và lãnh đạo toàn bộ
hệ thống TTĐC, mà còn sáng tạo ra ở đó vẻ ngoài của tính khách quan tính khoa học
và tính vô t của các phơng tiện thông tin đối với các lĩnh vực t tởng.
Khi làm nhiệm vụ cho UNESCO tóm tắt nội dung các nghiên cứu trong lĩnh vực
TTĐC Lee J. ghi nhận thực tế mà mọi ngời đều công nhận là bản chất thơng mại của
những nghiên cứu trong lĩnh vực này ở phơng tây, và ông giải thích, xác nhận quan
điểm xã hội của nó, khi ông chỉ ra rằng: "các nghiên cứu về TTĐC xuất phát từ tính ổn
định của cấu trúc xã hội hiện hành nói chung và cấu trúc bộ máy tạo ra và truyền đi các
thông tin nói riêng. Chúng tập chung chú ý đến mức độ hiệu quả của bộ máy này đã và
đang tác động đến công chúng TTĐC bằng các thông tin, mà các cơ quan quyền lực
trong xã hội cho rằng cần thiết phải phổ biến".
Vào những năm 20, 30 tại Mỹ có thể phân biệt hai hớng trong nghiên cứu
TTĐC. Hớng thứ nhất duy trì con đờng lịch xử của xã hội truyền thống. Nghiên cứu về
lịch sử xuất hiện và phát triển của báo chí, thảo luận về vai trò của nó trong xã hội các
nguyên tắc tổ chức. Nhng dần dần nó phải lùi bớc trớc hớng thứ hai mà ngay lập tức nó
đã xác định hớng rõ ràng đối với các nghiên cứu cụ thể, thực nghiệm, thí nghiệm giống
nh là cơ sở của xã hội mới về hoạt động của các phơng tiện TTĐC trong xã hội.
Những thành công của quảng cáo và phân tích về tuyên truyền của đồng minh
trong chiến tranh thế giới lần I tạo ra ảo tởng về sự toàn năng của báo chí. Một trong
những nhà sáng lập ra nền XHH Mỹ G. Lasswell trong cuốn "Tuyên truyền của đồng
minh trong chiến tranh thế giới lần I" đã trình bày những khả năng của các phơng tiện
TTĐC trong việc thay đổi ý kiến của ngời Mỹ. ở đây bao trùm một quan điểm coi công
chống TTĐC là một đám đông thụ động, mà không thể chống lại đợc cảnh hởng mãnh
liệt của ngời tuyên truyền.
Nhà báo và là nhà XHH nổi tiếng của Mỹ W. Lippman đã xuất bản vào năm
1992 cuốn sách "D luận xã hội" mà đã trở thành phơng hớng hành động của nhiều thế
hệ các nhà báo và XHH Mỹ và cho đến bây giờ đợc đa vào các chơng trình của nhiều
trờng ĐHTH ở Mỹ. Ông ta khẳng định rằng con ngời hiện đại và không có khả năng
một mình thâu tóm tất cả những đa dạng của cuộc sống nên cần thiết sử dụng không
11
phải là sự kiện thực tế mà những cái thay thế chúng "những định kiến" mà TTĐC tạo ra
cho anh ta và anh chịu sự chi phối điều khiển của TTĐC.
Schramm W. một trong những nhà nghiên cứu TTĐC lớn nhất của Mỹ đã gọi
những luận điểm loại đó là "học thuyết của các viên đạn", theo đó những t tởng cảm
xúc, suy nghĩ có thể đợc tự động chuyển đến công chúng TTĐC nh là đến những mục
tiêu thụ động, cố định. Tuy nhiên các nghiên cứu cụ thể và thí nghiệm bắt đầu những
năm 1940. Trớc hết là các nghiên cứu mang tính tâm lý - xã hội đã phá tan lòng tin vào
tính toàn năng của bộ máy quảng cáo tuyên truyền.
Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ II các nhà XHH Mỹ tập trung sự chú
ý chính của mình vào những nhu cầu của chiến tranh tuyên truyền. Kinh nghiệm tuyên
truyền của chủ nghĩa phát xít đã đợc nghiên cứu các biện pháp phán tuyên truyền cũng
đợc soạn thảo, các hớng và biện pháp nâng cao hiệu quả tác động của các phơng tiện
thông tin nhằm tạo ra những quan điểm và tâm trạng cần thiết cho chính phủ cũng đợc
nghiên cứu. Một trong những nhà nghiên cứu lớn của Mỹ Hovland bắt đầu các điều tra
của mình trong lĩnh vực tâm lý giao tiếp tại trung tâm nghiên cứu đặc biệt của bộ phận
thông tin và huấn luyện quân đội đợc xây dựng trong thơì gian chiến tranh ở bộ chiến
tranh Mỹ. Ông tiến hành các thí nghiệm trên binh lính. Các bản tổng kết đợc công bố
sau chiến tranh về những công việc mà đợc tiến hành dới sự chỉ đạo của Hovland đã
định nền tảng cho trờng phái Yale rất phổ biến tại Mỹ và các nớc phơng tây khác - một
xu hớng tâm lý học xã hội trong XHH.
Các môn đồ của xu hớng này khi tổng kết kinh nghiệm 25 năm làm việc trong 6
công trình của Yale là những ngời đầu tiên đề cập về tính gián tiếp của các tác động
giao tiếp đến con ngời bằng một tập hợp điều kiện. Thiếu sót chính là trờng phái này
chính Hovland sau đó đã thú là nhận tính thử nghiệm, không thực tế của các điều tra.
Sự phát triển tiếp tục của xu hớng tâm lý - xã hội nhận đợc trong các thuyết "Mâu
thuận nhận thức của Festinger L và thuyết "tơng ứng" của Osgood Ch. Và những ngời
khác, mà theo đó con ngời khi lựa chọn trong hàng loạt thông tin đang có họ thờng
chọn các tin mà không trái với quan điểm về thế giới của anh ta, trốn tránh những mâu
thuẫn mà có thể phá vỡ trạng thái cân bằng trong ý thức của anh ta.
Ngời ta coi sự hình thành phơng pháp số lợng phân tích nội dung hay Content-
analyse bắt đầu t giai đoạn chiến tranh TG II. Khác với các điều tra trớc đó về nội dung
các bài báo cáo đợc tiến hành Content - analyse, thứ nhất đã sử dụng phơng pháp
thống kê tính toán tần số lặp lại của một biểu hiện này hay khác, mà đã đợc chọn trong
một đơn vị để tính toán. Thứ hai là nó sử dụng thủ tục theo dõi hình thức và điều cuối
cùng, mục đích của các nghiên cứu loại này là phân tích bằng XHH các văn bản.
12
Lasswell G. ngời ta đã đa ra cơ sở lý thuyết và tiến hành cùng với các đồng
nghiệp của mình hàng loạt các nghiên cứu phân tích nội dung, đợc coi là cha đẻ ngời
sáng lập ra trờng phái phân tích số lợng nội dung. Vào đầu những năm 40 trong bộ
phận nghiên cứu về chiến tranh tuyên truyền tại th viện Quốc hội Mỹ đã tiến hành phân
tích tất cả các báo lớn nhất trên thế giới bằng phơng pháp mới, cuối cùng đã công bố
đợc "Tóm tắt nội dung sự chú ý của thế giới" có trờng hợp trở nên nổi tiếng nh những t
liệu của Content - analyse đợc dùng làm cơ sở để đa ra quyết định của toà án Lasswell
G và Laites N đã tiến hành nghiên cứu báo có lợi cho Hít le (nh "Chính phủ Mỹ chứa
đầy sự tham nhũng" "Nớc Đức - hùng mạnh"" nớc Mỹ và đồng minh của họ nằm dới
sự kiểm soát của cộng sản" "và những ý kiến ngợc lại"). Hoá ra, những tuyên bố thân
Hit le nhiều hơn 11 lần tần số các ý kiến thân Mỹ và toà án đã dựa trên cơ sở đó đa ra
bản án quyết định đóng cửa tờ báo "Ngời Mỹ đích thực", coi đó là tờ báo thân phát xít.
Tuy vậy, sự ứng dụng rộng rãi phơng pháp Content analyse dần dần làm rõ
không chỉ những u điểm mà cả những kiến khuyết mà đợc gắn liền trớc hết với sự thiếu
căn cứ trong những tiền đề lý thuyết khởi điểm của các môn đồ trờng phái Laswell
(Berelson B; De sona Pun; Lerner D ). Các tiền đề này bị ảnh hởng của xu thế Freud
trong XHH. Những thất bại mà hàng loạt các nhà nghiên cứu đã gặp khi sử dụng
nguyên tắc tính "các biểu tợng" đợc Lasswell đề nghị, đã dẫn đến điều là vào những
năm 50 bắt đầu sự tìm kiếm các nguyên lý khác tiến hành phân tích nội dung. ở đây có
thể chia ra làm hai hớng - hớng tâm - ngôn đợc dựa trên việc sử dụng các liên tởng, h-
ớng này do giám đốc Viện nghiên cứu các vấn đề tuyên truyền của trờng ĐHTH
Illinoit Charle Osgood và hớng vị lợi thực dụng hay là hớng "công cụ". Hình mẫu của
các nghiên cứu loại này là tác phẩm phân tich sự tuyên truyền ( Giorge A. 1959 ) trogn
đó ông ta tổng kết kinh nghiệm làm việc của bộ phận đặc biệt phân tích các hoạt động
tình báo. Về sự nghiên cứu các nội dung các chơng trình phát thanh nớc ngoài phơng
pháp đợc thống nhất gọi là phơng pháp phân tích định tính. Nó thờng đợc dùng để xác
định các xu hớng chính trị cơ bản của ngời đa tin thông qua nội dung các văn bản của
TTĐC.
Tuy nhiên không thể coi rằng sự phân tích nội dung TTĐC chỉ mang toàn tính
thực dụng, thân chính phủ. Ví dụ nổi tiếng của xu hớng phê phán của các nghiên cứu
nội dung TTĐC là tác phẩm của nhà XHH Mỹ lớn Lowentan "các tiền sử trong những
tạp chí phổ biến". Hoá ra số tiểu sử mọi ngời khác nhau trong các ấn phẩm này đã tăng
từ 27 năm 1901 - 1902 đến 57 năm 1940 - 1941, ngoài ra nếu nh đều thế kỷ đại đại đa
số các nhân vật là đại diện của giới kinh doanh và chính trị, không một ngời nào thuộc
giới thể thao hoặc các hoạt động giải trí đại chúng, thì những năm 40 chỉ có 25 nhân
vật thuộc khu vực sản xuất nhng tới 735 là đại diện của giới công nghiệp giải trí và 285
các chính trị gia. Sự phát triển của xu thế đó đợc ghi nhận trong một nghiên cứu tơng
13
tự, đợc các cộng tác viên trờng ĐHTH havard tiến hành trên t liệu tạp chí cho giới
trung lu về giai đoạn từ 1940 đến 1963.
Vào những năm 40 - 50: việc không thoả mãn về sự tràn ngập các số liệu thực
nghiệm, không hệ thống trong XHH TTĐC, cũng nh trong XHH thực nghiệm nói
chung, đã thúc đẩy các nhà XHH lớn kêu gọi tạo ra học thuyết mức độ chung bình, mà
có thể giúp thu hập vào hệ thống các lý thuyết phân tán về hoạt động của các phơng
tiện TTĐC. ở đây cần phải kể đến tác phẩm của G.Lasswell "Cấu trúc và chức năng
trong xã hội", xuất bản năm 1948, trong đó tác giả xây dựng toàn bộ quá trình TTĐC
theo sơ đồ: "Ai nói - Nói cái gì - Bằng phơng tiện gì - Cho ai - Với hiệu quả thế nào".
Theo công thức này ( mà sau đó rất phổ biến ) nhiều năm, và cho đến ngày nay diễn ra
việc nghiên cứu quá trình TTĐC. Nó dùng làm cơ sở cho sự hình thành những lĩnh vực
nghiên cứu riêng biệt, nh là nghiên cứu về ngời truyền tin, phân tích nội dung, nghiên
cứu kênh, đối tợng và hiệu quả tuyên truyền.
Thuyết cơ cấu chức năng rất phổ biến thời gian đó ứng dụng vào lĩnh vực này bị
chuyển thành khái niệm về TTĐC cần thực hiện trong xã hội chủ yếu các chức năng
bảo thủ duy trì vị thế của xã hội, còn ở mức độ cá nhân - củng cố các quan điểm hiện
có. Tại đây thông tin đợc dành cho một chức năng gần nh thống soái trong sự bảo đảm
việc hoạt động bình thờng của cơ thể xã hội nhờ vào sự tạo ra mối quan hệ giữa các
phần riêng rẽ của nó.
Trong XHH TTĐC cũng tiến hành thử nghiệm tạo ra các thuyết trung bình. Từ
năm 1940 P.Lazarsfeld B. Berenson và E.Gode đã nghiên cứu hành vi của dân chúng
một trong các cộng đồng tại bang Ohio vào thời gian bầu cử tổng thống. Họ tìm ra
rằng, thứ nhất - TTĐC hoàn toàn không phải là nguồn nhận thông tin chính và thứ hai
một số ngời dờng nh là ngời phát ra du luận xã hội và chính họ là ngời tiêu dùng chăm
chỉ TTĐC. Trên cơ sở này đã xuất hiện thuyết "lãnh tụ ý kiến", mà TTĐC cần thiết
phải dựa vào họ. Tiếp tục con đờng đó và lập luận trên sự phân tích kết quả các cuộc
bầu cử, sự phổ biến mốt, mối quan hệ của thầy thuốc với các tân dợc, E. Katz vào năm
1957 lần đầu tiên công bố về "dòng giao tiếp 2 bậc", mà sau đó đợc W schramm mở
rộng và đợc gọi là "dòng thông tin giao tiếp nhiều bậc.
Thời kỳ hiện nay của sự phát triển thuyết học TTĐC cũng nh XHH t bản nói
chung, đợc đặt trng bằng sự tồn tại của nhiều học thuyết, phơng pháp luận điểm. Thời
gian gần đây các nghiên cứu gắn với vai trò tích cực của cá nhân dới tác động đến nó
của các dùng TTĐC đã đợc phổ biến rộng rãi. Những yếu tố trong các cá nhan và giữa
cá nhân, mà có ảnh hởng đến quá trình tơng tác của ý thức cá thể và thông tin hớng tới
nó đều đợc nghiên cứu vấn đề hậu quả xã hội của hoạt động các phơng tiện TTĐC trở
thành đối tợng nghiên cứu thờng xuyên. Nhng thờng xuyên hơn cả nó đợc giải quyết
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét