Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu

Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
I. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1. Tỷ giá hối đoái
1.1. Khái niệm
Có nhiều cách khác nhau để hiểu vể tỷ giá hối đoái, tuy nhiên có hai cách định
nghĩa chính. Nếu hiểu theo nghĩa cơ bản thì “Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai
tiền tệ của hai nước với nhau
1
” tuy nhiên hiểu theo nghĩa thị trường thì “Tỷ giá hối đoái là
giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia
2
.” Hay nói
một cách khác thì tỷ giá hối đoái giữa hai loại tiền tệ là sự định giá đồng tiền này theo
đồng tiền khác. Ví dụ: khi ngân hàng niêm yết: tỷ giá đồng Việt Nam là 20.000VND/USD
có nghĩa là 1 USD trị giá bằng 20.000VND.
1.2. Xác định tỷ giá
Việc xác định tỷ giá hối đoái phải dựa trên cơ sở cung cầu hay trên thị trường ngoại
hối cụ thể cầu về ngoại tệ chính là cung về đồng nội tệ và cung về ngoại tệ là cầu nội tệ. Ta
sẽ xét cầu và cung về USD và tỷ giá của USD tính theo số VND.
Cung về USD bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế tạo ra thu nhập về USD bao gồm
ngoại tệ thu được từ hàng xuất khẩu, kiều hối người Việt Nam từ nước ngoài gửi về, các
nguồn đầu tư từ nước ngoài… Trong khi đó, cầu về ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu ngoại tệ
để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, các khoản đầu tư ra nước ngoài…
Hình 01: Mố hình xác định tỷ giá hối đoái
3
1
Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính Quốc tế trang…….
2
Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính Quốc tế trang…….
3
Cái mô hình này cop ở đâu ý Hoàng anh nhỉ
5
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
Khi không có sự can thiệp của NHNN vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái được
xác định bởi sự cân bằng giữa cung và cầu về đô la phát sinh từ các tài khoản vãng lai và
tài khoản vốn của cán cân thanh toán quốc tế, chính là điểm E0 ở đồ thị trên. Đó chính là
chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.
Khi NHNN can thiệp bằng cách thay đổi dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá ở một mức
nhất định đã được công bố trước, ta có chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Muốn cố định tỷ giá
hối đoái thấp hơn mức cân bằng thị trường (điểm E1) thì NHNN phải dùng dự trữ ngoại tệ
để bán ra thị trường, điều này làm giảm dự trữ ngoại tệ của NHNN và tăng cung ngoại tệ
trong nền kinh tế.
2. Chính sách tỷ giá hối đoái
2.1. Khái niệm
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc, công cụ biện pháp được nhà nước vận
dụng để điều chỉnh tỷ giá trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã định
trong chiến lược phát triểtn của quốc gia đó.
Với các quản lý tỷ giá hối đoái, chính phủ các nước trước hết nhằm mục tiêu ổn
định tỷ giá trong phạm vi một biên độ giao động nhất định nhằm góp phần ổn định thương
mại, đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế: chủ động với sự di chuyển của các luồng vốn.
Thêm vào đó, với việc quản lý tỷ giá hối đoái cũng nhằm góp phần vào thực hiện các
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mục tiêu của các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đảm bảo sự
ổn định dự trữ quốc gia để thực hiện các nghĩa vụ tài chính quốc tế.
2.2. Các công cụ của chính sách tỷ giá
Để quản lý và điều hành tỷ giá hối đoái ở mức có lợi nhất cho nền kinh tế, chính
phủ và ngân hàng nhà nước sử dụng một số công cụ. Có thể chia các công cụ này thành các
nhóm:
2.2.1. Các công cụ trực tiếp
NHNN thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay ảnh
hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra. Hoạt động
can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo
ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt
động can thiệp này của NHNN thì phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ
lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông.
6
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHNN tham gia
mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị trường của
NHNN làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái và ngược lại. Do đó đây là
công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHNN mua bán có chứng từ có giá. Tuy
nhiên nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực tiếp đến các biến số kinh
tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả). Nó được dùng phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại
tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường mở gây ra.
Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biện pháp
kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử
dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời gian mua
ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định.
2.2.2. Các công cụ gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất trong nhóm các biện pháp gián tiếp
can thiệp vào tỷ giá hối đoái. Cơ chế tác động đến tỷ giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi
suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó
tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc
ít nhất làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng
tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất
cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng
là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở
hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để
thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ
giảm lãi suất tái chiết khấu.
Ngoài ra NHNN có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ
bắt buộc bằng ngoại tệ với ngân hàng thương mại (gọi tắt là NHTM), quy định mức lãi
suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ. Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá,
hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
2.3. Tác động của tỷ giá, chính sách tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái là một loại giá, giống như tất cả các loại giá cả khác, cơ chế tác
động của tỷ giá đối với xuất nhập khẩu được thực hiện thông qua sự tương tác của mối
quan hệ cung - cầu về hàng hóa - dịch vụ xuất nhập khẩu với tỷ giá trên thị trường. Trước
7
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả hàng hoá -
dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước. Khi tỷ giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua
của đồng nội tệ (giá trị của đồng nội tệ giảm), thì giá cả hàng hoá - dịch vụ của nước đó sẽ
tương đối rẻ hơn so với hàng hoá - dịch vụ của nước ngoài ở cả thị trường trong nước và
thị trường quốc tế. Hàng hoá - dịch vụ nước đó có khả năng cạnh tranh tốt hơn dẫn đến cầu
về xuất khẩu hàng hoá - dịch vụ của nước đó sẽ tăng, cầu về nhập khẩu hàng hoá - dịch vụ
nước ngoài của nước đó sẽ giảm và cán cân thương mại dịch chuyển về phía thặng dư.
Kết quả sẽ ngược lại khi tỷ giá hối đoái biến đổi theo hướng làm tăng giá đồng nội
tệ. Sự tăng giá của đồng nội tệ có tác dụng làm tăng giá tương đối hàng hoá - dịch vụ của
một nước so với nước ngoài sẽ dẫn đến làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu và cán cân
thương mại chuyển dịch về phía thâm hụt.
Người ta thường thấy cán cân thương mại của một nước xấu đi ngay sau khi có sự
giảm giá của một đồng tiền và chỉ bắt đầu được cải thiện sau đó một vài tháng hoặc một
năm. Người ta cũng thấy nhiều khi lại xảy ra hiện tượng có sự thay đổi rất mạnh trong tỷ
giá hối đoái nhưng chỉ có những sự thay đổi rất ít trong cán cân thương mại. Những thực tế
này được các nhà kinh tế khái quát trong lý thuyết kinh tế học quốc tế là đường cong ''J''
hay còn được hiểu là hiện tượng ''tính giảm và tính trễ'' trong tác động của tỷ giá hối đoái
đến những thay đổi của cán cân thương mại một nước. Đồ thị đường cong J biểu hiện tác
động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại của một nước là sự mô tả đơn giản nhưng
có tính thuyết phục cao đối với đặc điểm này.
Hình02: Đồ thị hiệu ứng đường cong J
4
Cán cân thương mại.
Khảo sát thực tiễn các nước, tính trễ và tính giảm trong tác động của tỷ giá hối đoái
Trung Quốc, Guonan và McCauley đã cho rằng tỷ giá này đã dao động với biên độ 2%/
năm và mức độ thay đổi theo ngày là 0,06%
4
Hoàng anh ơi, cho chị cái nguồn của cái này với
8
Thặng dư(+)
Thời gian
0
Thâm hụt(-)
Đường cong J
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
Có thể thấy rằng, chế độ tỷ giá của Trung Quốc là một dạng của chế độ tỷ giá dựa
vào rổ tiền tệ với biên độ dao động rộng được điều chỉnh định kì. So với lý thuyết thì biên
độ dao động của tỷ giá là khá nhỏ chỉ là 2%/ năm. Mặc dù tỷ giá song phương CNY/USD
giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần. Như vậy,
Trung Quốc vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế so với các quốc gia
bạn hàng. Do đó, đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thặng dư của cán cân
thương mại của Trung Quốc
Một kinh nghiệm khác về chính sách điều chỉnh tỷ giá của Thái Lan. Trước khủng
hoảng, các nước Đông Á neo giữ tỷ giá cố định so với USD. Với Thái Lan, chính sách tỷ
giá hối đoái cố định đồng nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht trong khi
giá trị của USD với JPY và các đồng tiền khác tăng rất mạnh. Tuy tỷ giá chính thức giữa
Baht với USD có tăng lên, nhưng nếu theo học thuyết ngang giá sức mua thì đồng Baht đã
giảm giá khoảng 20% so với USD nhưng chỉ được điều chỉnh rất ít (khoảng 6%). Do đó,
việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả lại giá trị đích thực của nó.
Từ năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan giảm đáng kể, tốc độ tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu cũng giảm tương đối. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái
Lan năm 1996 lên đến 7,9%GDP.
Do tài khoản vốn được tự do và những yếu kém trong việc kiểm soát các khoản nợ
vay đã khiến ngày càng nhiều hơn các luồng vốn ồ ạt chảy vào Thái Lan. Chỉ trong 10 năm
từ 1987-1996, đã có đến 100 tỷ USD đổ vào Thái Lan, Bên cạnh đó, tỷ giá được giữ gần
như cố định ở mức 25 Baht/USD trong thời gian dài cộng với thâm hụt thương mại kéo dài
đã khiến áp lực giảm giá đồng Baht ngày càng tăng.
Dưới áp lực của những khoản nợ đến hạn và thâm hụt thương mại kéo dài, mặc dù
đã bán ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối, nhưng Thái Lan đã không
thể duy trì được mức tỷ giá hiện thời. Thái Lan đứng trước việc đồng Baht bị phá giá và
kéo theo đó là cuộc khủng hoảng với những tổn thương nghiêm trọng đến nền kinh tế. Chỉ
trong 1 ngày sau khi Chính phủ tuyên bố phá giá, đồng Baht mất hơn 20% giá trị rồi tiếp
tục giảm xuống sau đó. Tỷ giá Baht/USD tăng lên từ 25,61 đến 47,25. Tỷ giá này làm tăng
khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Thái Lan nói chung, nông thủy sản nói riêng, hạn
chế nhập khẩu. Kết quả là Thái Lan giảm nhập siêu từ 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn
4,624 tỷ USD năm 1997 và thặng dư là 11,973 tỷ USD năm 2007.
9
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
Từ cuối năm 1998 – 2004, tỷ giá Baht/USD đôi lúc giảm và sau đó tăng nhẹ nhưng
nói chung duy trì ở mức ổn định. Tỷ giá tăng nhẹ từ 39,06 năm 2004 lên 41,03 năm 2005
nhưng cho tới nay, tỷ giá giảm do USD giảm giá. Mặc dù luôn chú trọng tới xuất khẩu,
nhưng Thái Lan đã phải chấp nhận để tỷ giá của nội tệ tăng hơn 20% so với USD và duy
trì ở mức lạm phát trung bình là 3% từ năm 2006 tới nay do Chính phủ Thái Lan nhận thức
được rằng trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, nội tệ tăng giá so với USD là chính
sách có lợi hơn.
Qua nghiên cứu các bài học kinh nghiệm của Thái Lan, có thể nhận thấy, để sử
dụng công cụ tỷ giá hối đoái thành công, các nước đã sử dụng đồng bộ với các chính sách
kinh tế vĩ mô khác trong cải cách, duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với từng
giai đoạn phát triển kinh tế, lựa chọn thời điểm hợp lý để phá giá đồng nội tệ trên cơ sở
không neo giữ đồng nội tệ với ngoại tệ mạnh và giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh
tế.
II. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÌNH HÌNH XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2010
1. Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỷ giá
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và hướng nội. Đây
là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Các bạn hàng chủ yếu là các nước xã hội
chủ nghĩa (gọi tắt là XHCN) trong hội đồng tương trợ kinh tế. Hình thức trao đổi thương
mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các nước theo một tỷ giá đã được thoả thuận trong hiệp
định ký kết song phương hay đa phương.
1.1. Chính sách tỷ giá
Tỷ giá được xác định dựa trên việc so sánh sức mua giữa hai đồng tiền, sau đó được
qui định trong các hiệp định thanh toán được ký kết giữa các nước XHCN. Tỷ giá của Việt
Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955 là tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ
(CNY) và VND là 1CNY=1470VND. Sau đó, khi Việt Nam có quan hệ ngoại thương với
Liên Xô, tỷ giá giữa VND và đồng Rúp (SUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa CNY và
SUR đã có từ trước. 1 SUR = 0.5 CNY ⇒ 1 SUR = 735 VND.Tỷ giá hối đoái trong giai
đoạn này được giữ cố định trong một thời gian dài.
Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là “đa tỷ giá” tức là việc tồn tại
song song nhiều loại tỷ giá. Do nhà nước ấn định một mức tỷ giá cố định trong khi các
giao dịch chủ yếu là hàng đổi hàng nên khi hàng xuất khẩu của Việt Nam từ đầu năm tính
10
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
theo tỷ giá cố định và hàng đổi lại nhập khẩu từ nước ngoài vào cuối năm trong khi đồng
ngoại tệ lại có sự biến đổi (tăng giảm giá trị ngoại tệ và chi phí sản xuất) nên để phù hợp
với hợp đồng trao đổi hàng hóa, tỷ giá trong giao dịch nhập khẩu này được điều chỉnh cho
phù hợp và khác với tỷ giá do nhà nước ấn định. Ngoài ra, với chính sách ưu tiê xuất khẩu
và nhập khẩu một số ngành hàng nên tỷ giá khi tính giá trị xuất/nhập các mặt hàng này
cũng được điều chỉnh cho phù hợp với chính sách ưu tiên.
1.2. Tác động của tỷ giá lên hoạt động xuất nhập khẩu
Thực ra trong giai đoạn này do quan hệ thương mại đầu tư của Việt Nam và khối
SEV là quan hệ hàng đổi hàng, mang nặng tính chất viện trợ, việc di chuyển, chuyển giao
về ngoại tệ là không có nên việc quy định tỷ giá hối đoái giữa VND và các ngoại tệ khác
chỉ mang tính hạch toán.
Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam còn yếu, vị thế trên thị trường chưa có nên Việt
Nam không có lợi thế trong việc đàm phán mức tỷ giá có lợi cho mình nên đồng VND luôn
được định giá quá cao
Cán cân thương mại bị thâm hụt nặng, xuất khẩu gặp nhiều bất lợi trong khi nhập
khẩu thì có lợi và thường xuyên tăng lên. Hậu quả là hàng nội bị hàng ngoại chèn ép, sản
xuất trong nước bị đình đốn.
Nhà nước phải áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ để bù lỗ cho các đơn vị sản xuất hàng
xuất khẩu nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa đủ bù đắp chi phí sản xuất. Cán cân
thanh toán bị bội chi, dự trữ ngoại tệ bị giảm sút, phản ứng của chính phủ lúc này là tăng
cường quản lý ngoại hối, bảo hộ mậu dịch và kiểm soát hàng nhập khẩu. Nhưng từ đó nảy
sinh tình trạng khan hiếm vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu cần thiết khiến cho tốc độ tăng
trưởng chậm lại, sản xuất trong nước trì trệ, đình đốn lại càng trở nên tồi tệ, sức ép lạm
phát tăng vọt.
Trước tình hình đó, tỷ giá cũng được bước đầu điều chỉnh mặc dù chỉ số giá cả
hằng năm biến động rất lớn. Tuy nhiên , trong những năm 1988,1989 xuất khẩu chỉ bằng
1/3 nhập khẩu . Vì vậy, khi nâng tỷ giá cao đột ngột sẽ gây tác động mạnh đến mức giá
trong nước .
Ngày 20/10/1988 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng Chính phủ ) ra
quyết định số 271/CT cho phép Ngân hàng Nhà nước được phép điều chỉnh tỷ giá phù hợp
với sự biến động giá cả trong nước theo nguyên tắc thời giá trừ lùi 10% đến 30% cá biệt
đến 50%. Nghị định 53/HĐBT ra đời, qui định về việc tách hệ thống Ngân hàng Việt Nam
từ một cấp thành hai cấp, bao gồm ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô
và hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Tỷ
11
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
giá mua bán của các ngân hàng được phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do NHNN
công bố cộng trừ 5%.
Quá trình xóa bỏ chế độ tỷ giá kết toán nội bộ diễn ta cùng lúc với việc điều chỉnh
giảm giá mạnh nội tệ. Để giảm bớt chênh lệch tỷ giá nhằm tiến tới điều hành tỷ giá dựa
chủ yếu vào quan hệ cung cầu trên thị trường, nhà nước đã thông qua chính sách tỷ giá linh
hoạt hơn – điều chỉnh tỷ giá chính thức theo tỷ giá trên thị trường tự do sao cho mức chênh
lệch nhỏ hơn 20%. Kết quả là mức chênh lệch tỷ giá được thu hẹp.

Bảng 01: Tỷ giá hối đoái và xuất nhập khẩu giai đoạn 1986-1989
1986 80 100 789,1 100 2155,1 100 -1366 100 425 369,56
1987 368 460 854,2 108,25 2455,1 113,92 -1600,9 117,20 1270 298,82
1988 3000 815,21 1038,4 121,56 2756,7 112,29 -1718,3 107,33 5000 393,70
Nguồn : Tính toán dựa trên số liệu Tổng Cục Thống Kê
Có thể dễ dàng nhận thấy trước thời điểm 1989, khi Nhà nước càng cố gắng hạ giá
đồng nội tệ thì nhập siêu lại càng nặng. Nếu nhập siêu năm 1987 khoảng 1,6 tỷ USD thì
sang năm 1988, khi tỷ giá bị hạ xuống thấp hơn so với năm trước đó 8 lần thì nhập siêu lại
lên đến hơn 1,7 tỷ. Điều này cho thấy việc hạ giá đồng Việt Nam trong bối cảnh vẫn áp
dụng tỷ giá kết toán nội bộ không những không kích thích được ngoại thương mà còn đẩy
hoạt động này đến tình cảnh nhập siêu trầm trọng hơn.
Năm 1989, sau khi xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, thực hiện thống nhất tỷ giá, bộ mặt
ngoại thương lập tức có biến chuyển rõ nét. Mặc dù mức giá đồng ngoại tệ chỉ tăng 30%
( ít hơn so với giai đoạn trước đó) song nhập khẩu đã giảm xuống chỉ bằng 93% so với
năm trước, xuất khẩu được kích thích tăng trưởng nên kim ngạch đã đạt được 1,3 tỷ đô la,
thu hẹp khoảng cách nhập siêu xuống còn 1,2 tỷ đô la (so với mức 1,7 tỷ đô la năm 1988).
Thời kỳ 86-89, tổng độ co giãn xuất nhập khẩu chỉ đạt 0,003 một chỉ số quá thấp
thể hiện nền kinh tế tăng trưởng không bền vững hay đúng hơn là không tăng trưởng.
Trung bình giá đồng nội tệ giảm 1 đồng thì xuất khẩu chỉ tăng có 0,195 đồng và nhập khẩu
giảm 0,192 đồng. Nhưng do lượng hàng xuất đi luôn nhỏ hơn lượng hàng nhập về nên tình
trạng kim ngạch nhập khẩu lớn gấp hai, ba lần kim ngạch xuất khẩu diễn ra liên tục trong 3
năm 1986-1989. Lý do cơ bản giải thích cho vấn đề này chính là trong khi sản xuất hàng
xuất khẩu sụt giảm, động lực xuất khẩu bị thủ tiêu do tính cứng nhắc của tỷ giá, thì nhập
12
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
khẩu lại tăng lên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, nhu cầu mà sản xuất trong nước
chưa thể đáp ứng nổi.
2. Thời kỳ 1989-1991 : “Thả nổi” tỷ giá hối đoái
Thời kỳ này đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Quan
hệ ngoại thương với các thị trường truyền thống bị gián đoạn, khiến chúng ta phải chuyển
sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng đồng Đô-la Mỹ.
Quá trình đổi mới kinh tế thực sự diễn ra mạnh mẽ bắt đầu từ năm 1989. Chính phủ
cam kết và thực thi chiến lược ổn định hóa nền kinh tế - tài chính – tiền tệ, trong đó vấn đề
tỷ giá được coi là khâu đột phá, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải cách,
chuyển đổi cơ chế và mở cửa kinh tế.
2.1. Chính sách tỷ giá.
Đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện cải cách cơ chế điều chỉnh tỷ giá đồng Việt
Nam (VND) với Đôla Mỹ. Ngân hàng Nhà nước đề nghị với chính phủ thành lập Quỹ điều
hòa ngoại tệ tại NHNN để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá.
Chính phủ đã ủy quyền cho Thống đốc NHNN được toàn quyền điều hành quỹ một cách
linh hoạt.
Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Thành phố Hồ
Chí Minh (tháng 9/1991) và Hà Nội (tháng 11/1991). Đối tượng tham gia giao dịch trên
các trung tâm này là các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ, các tổ chức xuất nhập
khẩu kinh doanh trực tiếp với nước ngoài và NHNN. Ngoài ra, các ngân hàng được phép
tập hợp các yêu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng không trực tiếp mua bán tại trung
tâm. Trung tâm hoạt động theo nguyên tắc đấu giá từ thấp đến cao hoặc ngược lại để đạt
được cân bằng cung cầu về ngoại tệ.
Tỷ giá chính thức của Đồng Việt Nam được xác định có căn cứ vào tỷ giá đóng cửa
tại các phiên giao dịch ở các trung tâm theo nguyên tắc tỷ giá mua vào không được vượt
quá 0,5% so với tỷ giá ấn định tại phiên giao dịch trước.
2.2. Đánh giá tác động
Chính phủ đã có những bước đi mới để tỷ giá đồng VND được linh hoạt hơn theo
nhu cầu thị trường và điều này đã tạo nên những chuyển biến trong tình hình xuất nhập
khẩu của Việt Nam.
Bảng 02: Tỷ giá hối đoái và xuất nhập khẩu giai đoạn 1989-1991
13
Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu
198
9
3900 130 1320 127,12 2565,8 93,08 -1245,8 72,50 4100 82
1990 6300 161,54 2404 182,12 2752,4 107,27 -348,4 27,96 6500 158,54
1991 9767 155,03 2087,1 86,82 2338.4 84,96 -251,3 72,13 11975 184,23
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Tổng Cục Thống Kê
Bảng 4 cho thấy giá trị danh nghĩa đồng Việt Nam sụt giảm mạnh và liên tiếp trong
suốt giai đoạn 89-92. Từ mức tỷ giá 1USD = 3000VND năm 1989, đồng nội tệ đã giảm
xuống 9767 đồng/đôla năm 1991; trong vòng 3 năm, tỷ giá đã sụt giảm gần 3 lần. Sự sụt
giảm này đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương Việt Nam, đặc biệt là trên
phương diện kim ngạch xuất-nhập khẩu trong quan hệ buôn bán với các quốc gia bao gồm
cả những nước tư bản phương tây.
Do tỷ giá chính thức được điều chỉnh tiến sát với tỷ giá thị trường, hình thành theo
quy luật cung cầu nên tác động của tỷ giá đến hoạt động thương mại- xuất nhập khẩu trở
nên rõ nét hơn, chính xác hơn. Giá đồng nội tệ giảm xuống thực sự kích thích tăng trưởng
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Năm 1989 nếu tỷ giá giảm 1 đồng, xuất khẩu lập tức tăng
lên 0,97 đồng, thì bước sang năm 1990 sau khi giảm tỷ giá xuống trên 60% thì 1 đồng
giảm của tỷ giá lại khiến xuất khẩu tăng những 1,13 đồng, một mức tăng khá, thể hiện xuất
khẩu co giãn hoàn toàn với tỷ giá do đó có tác động tích cực lên hoạt động xuất khẩu.
Trong ba năm 1989-1991 yếu tố nổi bật trong tác động của tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu
là mức giảm giá đồng nội tệ càng lớn thì mức tăng nhập khẩu càng giảm. Đơn cử như năm
1989, mức giảm giá 30%, trong đó 1 đồng giảm giá kéo theo mức tăng 0,71 đồng thì bước
sang năm 1990, tỷ giá giảm đến 60% đã lập tức thu hẹp mức tăng nhập khẩu xuống còn
0,66 đồng.
Xét về tác động của tỷ giá lên cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giai đoạn 1989-
1991, cùng với sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trên cơ sở giảm giá đồng nội tệ, nền
kinh tế đã tích lũy được một số vốn sử dụng trong việc đầu tư, mở rộng sản xuất. Sản xuất
lương thực trong nước đối với một số mặt hàng nhờ có vốn đã bắt đầu đủ đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước. Số lượng gạo nhập khẩu giảm, thay vào đó là các mặt hàng thuộc
danh mục tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu. Cơ cấu xuất khẩu cũng có sự thay đổi,
danh mục các mặt hàng xuất khẩu được mở rộng. Năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu
dầu thô với sản lượng 1,5 triệu tấn, đó là chưa kể đến hàng loạt các nhà máy cũ được đổi
mới, các nhà máy mới được xây dựng nhằm phục vụ công tác xuất khẩu. Ngoại thương
được đa dạng hóa ở mức cao, tạo ra được gần 10 mặt hàng chủ lực có kim ngạch xuất khẩu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét