Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu hàng may mặc ở công ty Arksun Việt Nam

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
được gọi là khu hải quan riêng cũng được gọi là hàng hóa xuất khẩu. Do đó
khái niệm xuất khẩu hàng hóa đã được mở rộng hơn, luật Thương Mại Việt Nam
năm 2005 định nghĩa : ” Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật ”(điều 28).
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa
2.1 Đối với nền kinh tế thế giới
Có thể nói, là một trong những hoạt động quan trọng nhất của ngoại
thương, xuất khẩu có tầm ảnh hưởng và chi phối đến toàn bộ nền kinh tế thế
giới.Đó là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế.Ở
những nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Trung Quốc v.v
hoạt động xuất khẩu của những nước này có thể là động lực phát triển cho rất
nhiều quốc gia khác, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội to lớn.Mỗi sự thay đổi
trong chính sách xuất khẩu của các quốc gia này đều có ảnh hưởng đến cả nền
kinh tế thế giới.
Trước hết, hoạt động xuất khẩu tạo ra sự lưu thông hàng hóa trên phạm
vi toàn thế giới.Nhu cầu của con người là vô cùng phong phú nhưng khả năng
tự đáp ứng lại luôn có hạn. Chính vì thế hoạt động trao đổi đã diễn ra ngay từ
thuở sơ khai. Trong những thế kỷ 15-16, hoạt động này đã diển ra mạnh mẽ
khi người Châu Âu đi tìm kiếm các vùng đất mới và tiến hàng hoạt động giao
thương với Trung quốc, Ấn độ, tạo ra những con đường trao đổi hàng hóa nổi
tiếng như “con đường tơ lụa” , “ con đường gốm sứ” ,v.v Ngày nay, hoạt
động xuất khẩu diễn ra vô cùng mạnh mẽ và sôi động trên tất cả các lĩnh
vực.Giá trị hàng hóa được xuất khẩu trên toàn thế giới tính trong một ngày sẽ
là một con số khổng lồ.Với những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ
chẳng hạn, kim ngạch xuất khẩu trong năm 2007 đã đạt tới 1.620 tỷ USD, lớn
hơn nhiều lần GDP của nhiều nước phát triển cộng lại.
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
5
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Xuất khẩu là sợi dây liên kết quan trọng giữa các nền kinh tế trên thế
giới.Nếu không có xuất khẩu, cũng sẽ không có nhập khẩu, mỗi quốc gia sẽ là
một nền kinh tế cô lập chắc chắn sẽ không thể phát triển. Thực tế điều này
hầu như không xảy ra và xu hướng hiện nay lại ngược lại hoàn toàn.Nhiều
quan hệ quốc tế đã được cải thiện đáng kể khi các tiềm năng xuất- nhập khẩu
được khai thác.Hiện nay, các quốc gia, khu vực cũng đang chủ động tiến hành
liên kết với một trong các mục đích chính là để xóa bỏ các rào cản, giúp hàng
hóa xuất khẩu có thể lưu thông dễ dàng hơn.
Xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy quá trình
phân công lao động quốc tế, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tài
nguyên.Mỗi quốc gia có một lợi thế riêng.Hoạt động xuất khẩu giúp quốc gia
đó đẩy mạnh hiệu quả khai thác lợi thế có được, có thể là về tài nguyên, về
nhân lực hay công nghệ, v.v nhờ đó quá trình chuyên môn hóa quốc tế được
diễn ra.Bên cạnh những ý nghĩa và lợi ích đối với quốc gia xuất khẩu, việc
xuất khẩu cũng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia nhập khẩu, đặc
biệt là các nước chậm và đang phát triển, gián tiếp giúp các quốc gia này phát
triển nền kinh tế trong nước, tiếp cận được với những công nghệ, kinh nghiệm
cao hơn.Do đó xuất khẩu cũng góp phần giảm dần khoảng cách giữa các nền
kinh tế, tạo ra sự phát triển ở toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Đối với một số mặt hàng đặc biệt như năng lượng ( điện và đặc biệt là
xăng dầu ) thì việc xuất khẩu những mặt hàng này có ảnh hưởng rất lớn đến
cả nền kinh tế thế giới.Chỉ một thay đổi nhỏ của những nước xuất khẩu mặt
hàng này ( ví dụ như hiệp hội xuất khẩu dầu lửa OPEC ) cũng có thể gây ra
những tác động to lớn đến toàn bộ thị trường.Có thể nói đây là những mặt
hàng xuất khẩu có vai trò cực kì quan trọng và vì thế luôn được quan tâm và
kiểm soát rất chặt chẽ.
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
2.2 Đối với nền kinh tế quốc gia
Xuất khẩu là một trong những nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất của
mỗi quốc gia.Đối với các nước đang phát triển như Việt nam, việc nhập khẩu
các công nghệ, tiến bộ của nước ngoài để hiện đại hóa nền kinh tế trong nước
là một điều tất yếu, nhất là khi khả năng tự nghiên cứu và ứng dụng còn hạn
chế và chủ động “đi tắt đón đầu”. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó thì
phải cần một lượng lớn ngoại tệ.Trong các nguồn cung ngoại tệ chính gồm :
kiều hối, đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán của các quỹ và nhà đầu
tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp và gián tiếp, du lịch , các nghiệp vụ tín dụng
ngân hàng và xuất khẩu, thì xuất khẩu là công cụ giúp mang lại nhiều ngoại tệ
nhất và đồng thời đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và ít nhược điểm nhất
so với các hình thức huy động ngoại tệ còn lại.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu giúp quốc gia tăng cường hiệu quả khai thác
nguồn lực, phát huy tốt hơn các lợi thế qua đó tạo ra quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong nước.Xuất khẩu là công cụ để các quốc gia thể hiện và khai
thác lợi thế so sánh trong ngoại thương.Điều này có ý nghĩa quan trọng đối
với các nước kém và đang phát triển vì những nước này có lượng vốn hạn
chế, nên càng cần phải sử dụng có hiều quả, tập trung và tránh lãng phí.
Trong kinh doanh hàng hóa cũng như dịch vụ. điều quan trọng nhất
chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nếu chỉ bó gọn thị trường trong nước
thì nền kinh tế quốc gia nói chung sẽ chỉ phát triển đến một mức nhất định mà
thôi.Bên cạnh đó, nếu thị trường quá nhỏ, sẽ dẫn đến cạnh tranh quá gay gắt
và lợi thế có thể sẽ thuộc về một hoặc một nhóm doanh nghiệp, dễ dẫn đến
độc quyền, như vậy có thể gây hại cho nền kinh tế. Tuy nhiên, xuất khẩu giúp
thị trường trong nước mở rộng ra quốc tế, đem lại vô vàn cơ hội kinh doanh
mới cho mọi ngành nghề, lĩnh vực trong nước.Không những thế, nó còn có
thể mở ra những ngành nghề mới như : vận tải quốc tế, tư vấn quốc tế , v.v
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
7
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Trong nền kinh tế thế giới, quốc gia nào có kim ngạch xuất khẩu lớn sẽ
có một vị thế quan trọng không những trong kinh tế mà cả chính trị-xã
hội.Những quốc gia lớn luôn lấy thế mạnh về xuất khẩu làm công cụ tạo ra vị
thế của mình trên trường quốc tế. Đôi khi nó có thể được sử dụng để phục vụ
cả những mục đích chính trị. Những quốc gia nhỏ , kém phát triển cũng qua
xuất khẩu để có thêm hoặc thắt chặt hơn các mối quan hệ quốc tế, qua đó dần
dần nâng cao vị thế quốc gia mình.
Thông qua xuất khẩu, các quốc gia có thể học hỏi kinh nghiệm phát
triển, tiếp thu khoa học kỹ thuật mới từ các nước nhập khẩu để áp dụng phát
triển kinh tế trong nước.Thực tế đây là điều phổ biến ở rất nhiều quốc gia trên
thế giới.Điển hình như Trung Quốc,trước đây vốn được xem là nước có trình
độ kỹ thuật lạc hậu, chất lượng sản phẩm không cao, tuy nhiên với việc trong
vài năm trở lại đây, nước này đã chú trọng đến gia công và xuất khẩu, với kim
ngạch xuất khẩu năm 2007 lên đến 1.220 tỷ USD, đứng thứ 2 thế giới và được
mệnh danh là “công xưởng của thế giới” , Trung Quốc đã tận dụng điều này
để tiếp thu và nâng cao trình độ sản xuất trong nước.Giờ đây, rất nhiều mặt
hàng công nghệ cao đã được sản xuất ở Trung Quốc mà vẫn hạ được giá
thành, và hàng hóa Trung Quốc cũng không còn mang tiếng là hàng chất
lượng kém nữa.
Xuất khẩu cũng giúp tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, tạo
động lực cho nhiều ngành kinh tế khác phát triển. Có thể lấy một ví dụ điển
hình là : nếu một quốc gia có đường bờ biển và ngành vận tải biển, nếu trong
hoạt động xuất khẩu, các hợp đồng xuất khẩu được ký kết theo phương thức
CIF thì sẽ đồng thời tạo cơ hội kinh doanh cho chính các hãng tàu trong nước
và thúc đẩy ngành vận tải biển phát triển, không những thế, hãng bảo hiểm
cũng có thêm khách hàng quốc tế và các hợp đồng bảo hiểm vận tải.Đó là
điều thường gặp ở các quốc gia đang phát triển vì các ngành, lĩnh vực của họ
có mối liên hệ khá chặt chẽ với nhau, điều mà nhiều quốc gia đang phát triển
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
8
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
chưa làm được.
Xuất khẩu có thể mở lối ra cho nhiều ngành nghề, sản phẩm mà việc tiêu
thụ trong nước có thể gặp nhiều khó khăn hoặc ít có cơ hội phát triển hơn, ví
dụ như ngành thủ công nghiệp, văn hóa-du lịch , v.v
2.3 Đối với doanh nghiệp
Trên thực tế, các doanh nghiệp chính là những người nhạy bén nắm bắt
được tầm quan trọng của xuất khẩu vì nó đem lại cho họ rất nhiều cơ hội tiếp
cận những thị trường mới, những cơ hội kinh doanh mới và các quan hệ hợp
tác làm ăn mới đầy tiềm năng.Việc thị trường được mở rộng đồng nghĩa với
việc khách hàng thực tế cũng như khách hàng tiềm năng tăng lên, không
những làm tăng doanh thu , đặc biệt là doanh thu theo ngoại tệ của doanh
nghiệp, tăng uy tín, thương hiệu mà còn đảm bảo tương lai cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, giảm thiểu các rủi ro từ thị trường.
Xuất khẩu đặt ra cho doanh nghiệp nhiều nhu cầu, đòi hỏi mới như : mở
rộng quy mô để đáp ứng được nhu cầu thị trường, tăng cường hiệu quả sản
xuất và nâng cao chất lượng để thỏa mãn nhu cầu mới, nghiên cứu sản phẩm
mới phù hợp với thị trường, có thể phải thay đổi cả quy trình sản xuất, cải tiến
kỹ thuật để vượt qua được những rào cản phi thuế quan,v.v Tính cạnh tranh
trên thị trường mới cũng luôn rất gay gắt, đặc biệt là những thị trường khó
tính hoặc có lợi thế về quy mô, do đó cũng đặt ra cho doanh nghiệp yêu cầu tự
hoàn thiện để thích nghi và tồn tại được.Như vậy xuất khẩu không những là
cơ hội mà cũng là thử thách để các doanh nghiệp vươn lên phát triển và tự
hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình.
3.Các hình thức xuất khẩu hàng hóa
3.1 Xuất khẩu tại chỗ
-Khái niệm : Xuất khẩu tại chỗ là hình thức mà hàng hóa sản xuất tại
Việt Nam bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho một doanh
nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
9
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Xuất khẩu tại chỗ có đặc điểm :
+Hợp đồng kí kết là hợp đồng ngoại thương
+Hàng hóa không xuất ra khỏi Việt Nam
+Thương nhân nước ngoài phải tiến hành thanh toán ngay tại quốc gia
xuất khẩu
+Vẫn phải thực hiện đầy đủ các thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật
Xuất khẩu tại chỗ có nhiều ưu điểm về chi phí và rủi ro thấp cũng như
các ưu đãi về thuế, tuy nhiên thủ tục lại phức tạp và sức cạnh tranh của hàng
hóa bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế trong nước, do đó thích hợp với các
doanh nghiệp có vốn FDI hoặc các doanh nghiệp Việt Nam đang tìm cách tiếp
cận thị trường mới.
3.2 Gia công xuất khẩu
-Khái niệm :Gia công xuất khẩu là phương thức xuất khẩu trong đó người
đặt gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu thành
phẩm hoặc bán thành phẩm, v.v và định mức cho trước; người nhận gia công
trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng;
toàn bộ sản phẩm được giao lại cho bên đặt gia công để thu tiền công.
Hình thức xuất khẩu này có đặc điểm :
+Sản phẩm thường được sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công.
+Toàn bộ sản phẩm sau khi hoàn thành được giao lại cho bên đặt gia công
+Bên đặt gia công có thể giúp đỡ kỹ thuật cho bên nhận gia công
+Doanh nghiệp gia công sau khi hoàn thành hợp đồng phải thanh khoản
với cơ quan hải quan.
Gia công xuất khẩu có ưu thế về chi phí và rủi ro rất thấp nhưng hiệu quả
thấp, lợi nhuận không cao, không phải hình thức kinh doanh lâu dài, do đó chỉ
phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới bắt đầu thâm nhập thị trường
quốc tế hoặc các doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực và kỹ thuật sản xuất
thì tiến hành song song gia công và xuất khẩu tự doanh.
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
3.3 Ủy thác xuất khẩu
-Khái niệm : Ủy thác xuất khẩu là hình thức kinh doanh dịch vụ thương
mại thông qua xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp và hưởng phí.
Ủy thác xuất khẩu có đặc điểm :
+Bên nhận ủy thác thực hiện hợp đồng ủy thác chứ không phải hợp đồng
ngoại thương.
+Bên nhận ủy thác không được nhận lợi nhuận từ hàng hóa xuất khẩu.
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là chi phí thấp, đòi hỏi ít vốn nhưng
lại kém chủ động và dễ phát sinh tranh chấp thương mại giữa các bên.Do đó
nó chủ yếu phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, mới tham gia vào thị trường.
3.4 Xuất khẩu tự doanh
-Khái niệm : Xuất khẩu tự doanh là việc doanh nghiệp tự tổ chức sản
xuất hoặc thu mua và tự tìm kiếm khách hàng để xuất khẩu.
Với hình thức này, doanh nghiệp hoàn toàn chủ động từ khâu tìm kiếm,
sản xuất đến tìm khách hàng và tiêu thụ sản phẩm.Hình thức này giúp doanh
nghiệp mở rộng thị trường, quy mô và năng lực cạnh tranh rất tốt, tích lũy
được kinh nghiệm kinh doanh quốc tế không qua trung gian và nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Tuy nhiên nó cũng đòi hỏi chi phí rất cao, đặc biệt là công
tác tìm hiểu thị trường và thị hiếu khách hàng, đòi hỏi doanh nghiệp có vốn
lớn và thường sản phẩm đã có thương hiệu nhất định.Rủi ro cũng cao hơn các
phương thức xuất khẩu khác. Do đó thường những doanh nghiệp lớn và muốn
mở rộng thị trường hoặc các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trong hoạt động
xuất khẩu mới sử dụng hình thức xuất khẩu tự doanh.
3.5 Tạm nhập tái xuất
-Khái niệm : Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ
nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm
thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó
ra khỏi Việt Nam ( theo Luật thương mại năm 2005).
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
11
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Hình thức tạm nhập tái xuất có đặc điểm :
+Quá trình thực hiện gồm việc tiến hành 2 hợp đồng riêng biệt : hợp
đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu trên cùng một hàng hóa.
+Hàng hóa tạm nhập được hoàn thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
+Việc thanh toán được thực hiện theo các quy định về quản lý ngoại hối
của nhà nước.
Hình thức xuất khẩu này có nhiều ưu điểm như : không phải chịu thuế
nhập khẩu, đem lại nguồn thu ngoại tệ khá lớn và nhiều kinh nghiệm kinh
doanh quốc tế; tuy nhiên hợp đồng thường có thời gian thực hiện dài, rủi ro
khá cao, thủ tục hai quan phức tạp.
*Ngoài những hình thức xuất khẩu chủ yếu trên, còn có một số hình thức
xuất khẩu khác như : chuyển khẩu, mậu dịch biên giới, tổ chức phân phối tại
nước nhập khẩu.
4.Nội dung hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa thực chất về mục đích cũng là một hoạt
động tiêu thụ hàng hóa nhưng là ở thị trường nước ngoài.Do đó về đặc điểm
và nội dung cơ bản nó cũng giống với hoạt động tiêu thụ hàng hóa trong
nước.Tuy nhiên nội dung hoạt động xuất khẩu hàng hóa lại phức tạp hơn
nhiều do nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố hơn đặc biệt là các yếu tố quốc tế
và cách thức tiến hành, thủ tục cũng phức tạp hơn. Nhìn chung, hoạt động
xuất khẩu hàng hóa được tiến hành qua các bước chính như sau :
4.1 Nghiên cứu thị trường quốc tế
Bước đầu tiên không thể thiếu đối với bất kì một mặt hàng nào muốn
có thể tiêu thụ tại một thị trường nhất định là phải phù hợp với nhu cầu và
yêu cầu của thị trường đó. Muốn biết được điều đó, doanh nghiệp xuất
khẩu phải tiến hành nghiên cứu kỹ thị trường.Việc nghiên cứu thị trường
quốc tế bao gồm :
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
+Nghiên cứu thị trường hàng hóa quốc tế : nghiên cứu các sản phẩm
cùng loại ( cạnh tranh ) , các sản phẩm thay thế , các sản phẩm hỗ trợ , v.v
hiện có trên thị trường; đặc trưng các sản phẩm này và thị hiếu, đánh giá
người tiêu dùng về các sản phẩm đã có từ các thông tin đó có thể giúp doanh
nghiệp hình dung trước vị trí sản phẩm khi đưa vào thị trường.
+Nghiên cứu dung lượng thị trường : Xem xét thị phần hiện tại của thị
trường, số lượng người tiêu dùng hiện có, số lượng khách hàng tiềm năng, các
xu hướng về thị hiếu người tiêu dùng v.v từ đó có thể bước đầu xác định thị
phần dự kiến của sản phẩm
+Lực chọn đối tác : lựa chọn đối tác thích hợp để quảng bá, phân phối và
tiêu thụ sản phẩm.
+Nghiên cứu giá cả : nghiên cứu mức giá các sản phẩm hiện có trên thị
trường, thu nhập người tiêu dùng, đánh giá của họ về giá hiện hành, từ đó có
các điều chỉnh và dự kiến giá bán.
4.2 Lập phương án kinh doanh
Trong bước này, thông thường doanh nghiệp tiến hàng 3 hoạt động :
+Đánh giá thị trường : thông qua các thông tin đã thu thập được từ bước
thứ nhất, doanh nghiệp xác định các thông số cần thiết của thị trường như:
quy mô, thị phần, dung lượng ; đánh giá xu hướng phát triển của thị trường
và những cơ hội và thách thức trên thị trường đó.
+Đánh giá doanh nghiệp : trên cơ sở các số liệu và quá trình nghiên cứu
sản phẩm, tình hình hoạt động kinh doanh doanh nghiệp tiến hành đánh giá
điểm mạnh, điểm yếu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.
+Lập kế hoạch sản xuất : doanh nghiệp xác định các chỉ tiêu cho sản
xuất sản phẩm như : số lượng, năng xuất, giá bán,v.v
4.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng
Đàm phán là việc các doanh nghiệp xuất khẩu trao đổi, thương lượng để
đi đến nhất trí với nhau về các vấn đề liên quan đến hợp đồng.Đàm phán
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
thường được thực hiện theo một số phương thức như :
+Đàm phán trực tiếp.
+Đàm phán qua thư tín.
+Đàm phán qua điện thoại.
4.4 Thực hiện hợp đồng
Sau khi kí kết hợp đồng, doanh nghiệp xuất khẩu tiến hành thực hiện hợp
đồng theo quy trình sau :
+Mở và kiểm tra L/C (nếu có)
+Xin giấy phép xuất khập khẩu (nếu có )
+Chuẩn bị hàng xuất
+Thuê tàu
+Kiểm định hàng hóa
+Mua bảo hiểm hàng hóa (nếu có)
+Làm thủ tục hải quan
+Giao hàng lên tàu
+Thanh toán
+Giải quyết tranh chấp (nếu có)
II. MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
1. Khái niệm
Thị trường xuất khẩu là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng
hóa dịch vụ quốc tế trong đó doanh nghiệp đóng vai trò là bên bán sản phẩm
của mình.
Như vậy, hiểu một các đơn giản thì mở rộng thị trường chính là việc mở
rộng không gian trao đổi buôn bán hàng hóa.Thực tế đó là việc mở rộng về
địa lý và khách hàng của chính sản phẩm ban đầu.Trong thời kỳ phát triển
hưng thịnh của ngoại thương, các quốc gia phương tây đã ồ ạt đi khai phá các
vùng đất mới, chiếm cứ là thuộc địa đồng thời biến những nơi mới tìm được
trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính quốc.
Đỗ Cường Kinh doanh Quốc tế 46B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét