ít có khả năng huy động vốn để đầu t đổi mới công nghệ giá trị cao.
ít có điều kiện để đào tạo nhân công, đầu t cho nghiên cứu, thiết kế cải
tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm.
Trong nhiều trờng hợp thờng bị động vì phụ thuộc vào hớng phát triển của
các doanh nghiệp lớn và tồn tại nh một bộ phận của doanh nghiệplớn.
1.2.1.2. Vị trí và vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trờng
- Về số lợng các DNV&N chiếm u thế tuyệt đối.
- DNV&N có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại nh một bộ
phận không thể thiếu đợc của nền kinh tế mỗi nớc.
- Sự phát triển của DNV&N góp phần quan trọng trong việc giải quyết
những mục tiêu kinh tế - xã hội
1.2.1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành và phát triển DNV&N
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
- Chính sách và cơ chế quản lý
- Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp
- Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
- Tình hình thị trờng
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển
DNV&N
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâmg cao hiệu quả sủ dụng vốn, tránh tình
trạng sử dụng vốn sai mục đích.
- Tín dụng ngân hàng góp phần bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp đ-
ợc liên tục thuận lợi.
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khẳ năng cạnh tranh của DNV&N.
- Tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro.
- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u cho DNV&N.
5
1.3 - Kinh nghiệm một số nớc trong việc hỗ trợ vốn tín dụng
cho DNV&N
1.3.1. Kinh nghiệm một số nớc
1.3.1.1- Kinh nghiệm của Đài Loan
Nền công nghiệp Đài Loan đợc đặc trng chủ yếu bởi các DNV&N. ở Đài
Loan, loại DNV&N phải có từ 5 - 10 công nhân, vốn trung bình là 1,6 triệu USD
là rất phổ biến. Chúng chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, tạo ra khoảng
40% sản lợng công nghiệp, hơn 50% giá trị xuất khẩu và chiếm hơn 70% chỗ làm
việc. Để đạt đợc thành tựu to lớn này, Đài Loan đã dành những nỗ lực trong việc
xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ các DNV&N nh chính sách hỗ trợ công
nghệ, chính sách về nghiên cứu và phát triển, chính sách quản lí, đào tạo và chính
sách hỗ trợ tài chính tín dụng.
Chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng cho DNV&N đợc cụ thể:
- Khuyến khích các ngân hàng cho DNV&N vay vốn nh điều chỉnh mức lãi
suất thấp hơn lãi suất thờng của ngân hàng, thành lập quĩ bảo lãnh tín dụng, qui
định tỉ lệ cung cấp tài chính cho DNV&N phải tăng lên hàng năm Ngân hàng
trung ơng Đài Loan yêu cầu các NHTM thành lập riêng phòng tín dụng cho
DNV&N, tạo điều kiện để cho DNV&N tiếp cận đợc với ngân hàng. NHTW cũng
sử dụng các chuyên gia t vấn cho DNV&N về cách củng cố cơ sở tài chính, tăng
khả năng nhận tài trợ của mình.
- Thành lập Quĩ phát triển cho DNV&N: các quĩ đợc thành lập nh Quĩ phát
triển, Quĩ Sino-US, Quĩ phát triển DNV&N để cung cấp vốn cho DNV&N qua hệ
thống ngân hàng, nhằm tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh các
DNV&N.
- Thành lập Quĩ bảo lãnh tín dụng
Từ việc nhận thức đợc sự khó khăn của DNV&N trong việc thế chấp tài sản
vay vốn NH, năm 1974 Đài Loan đã thành lập Quĩ bảo lãnh tín dụng. Nguyên tắc
hoạt động của quĩ này là cùng chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng. Từ đó tạo
6
lòng tin đối với TCTD khi cấp tín dụng cho DNV&N. Kể từ khi thành lập đến nay
quĩ đã bảo lãnh cho 1,5 triệu trờng hợp với tổng số tiền tơng đối lớn.
Nói chung, với sự quan tâm của Chính phủ bằng các chính sách
khuyến khích hữu hiệu, các DNV&N ở Đài Loan phát triển mạnh mẽ, ổn định làm
cho Đài Loan trở thành quốc gia của các DNV&N về mặt kinh tế.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến phát triển
các DNV&N vì đây là khu vực đem lại hiệu quả kinh tế cao và giải quyết đợc nạn
thất nghiệp. Chơng trình "hiện đại hoá" các DNV&N trở thành một nhiệm vụ và
Nhật Bản đã có hàng loạt các chính sách về nhiều mặt đợc ban hành. Chi phí cho
chơng trình "hiện đại hoá" các DNV&N chủ yếu tập trung trên 4 lĩnh vực:
. Xúc tiến hiện đại hoá DNV&N
. Hiện đại hoá các thể chế quản lý DNV&N
. Các hoạt động t vấn cho DNV&N
. Các giải pháp tài chính cho DNV&N
Trong đó dành một sự chú ý đặc biệt đối với việc hỗ trợ tài chính nhằm giúp
các DNV&N tháo gỡ những khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong quá trình sản
xuất kinh doanh nh khả năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự bảo đảm về vốn vay
Các biện pháp hỗ trợ này đã đợc thực hiện thông qua hệ thống hỗ trợ tín
dụng và các tổ chức tài chính tín dụng công cộng phục vụ DNV&N. Hệ thống hỗ
trợ tín dụng giúp các DNV&N tiếp cận đợc với nguồn vốn tín dụng, tạo điều kiện
cho họ vay vốn của các tổ chức tín dụng t nhân thông qua sự bảo lãnh của hiệp hội
bảo lãnh tín dụng trên cơ sở hợp đồng bảo lãnh.
Ngoài ra còn có ba tổ chức tài chính công cộng là Công ty Tài chính
DNV&N, Công ty tài chính nhân dân và ngân hàng Shoko Chukin do Chính phủ
đầu t thành lập toàn bộ hoặc một phần nhằm tài trợ vốn cho các DNV&N đổi mới
máy móc thiết bị và hỗ trợ vốn lu động dài hạn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
1.3.1.3- Kinh nghiệm của Đức
Đức là một quốc gia có số lợng DNV&N tơng đối lớn. Nó đóng một vai trò
quan trọng trong nền kinh tế, tạo ra gần 50% GDP, chiếm hơn 1/2 doanh thu chịu
7
thuế của các doanh nghiệp, cung cấp các loại hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu
đa dạng của nguời tiêu dùng trong và ngoài nớc. Để đạt đợc những thành tựu đó,
Chính phủ Đức đã áp dụng hàng loạt các chính sách và chơng trình thúc đẩy
DNV&N trong việc huy động vốn.
Công cụ chính để thực hiện các chính sách và chơng trình này là thông qua
các khoản tín dụng đãi, có sự bảo lãnh của Nhà nớc. Các khoản tín dụng này đợc
phân bố u tiên đặc biệt cho các dự án đầu t thành lập doanh nghiệp, đổi mới công
nghệ, đầu t vào những khu vực kém phát triển của đất nớc.
Do phần lớn các DNV&N không đủ tài sản thế chấp để có thể nhận đợc
khoản tín dụng lớn bên cạnh các khoản tín dụng u đãi nên còn phát triển khá phổ
biến tổ chức bảo lãnh tín dụng. Những tổ chức này đợc thành lập và bắt đầu hoạt
động từ những năm 50 với sự hợp tác chặt chẽ cuả các phòng Thơng mại, Hiệp hội
doanh nghiệp, Hiệp hội Ngân hàng và Chính quyền liên bang. Nguyên tắc hoạt
động cơ bản là vì khách hàng. DNV&N nhận đợc khoản vay từ ngân hàng với sự
bảo lãnh của một số tổ chức bảo lãnh tín dụng. Khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tổ
chức này có trách nhiệm trả khoản vay đó cho ngân hàng. Ngoài ra, các khoản vay
này còn có thể đợc Chinh phủ bảo lãnh.
Với các cơ chế và chính sách hỗ trợ nh vậy các DNV&N ở Đức đã khắc
phục đợc rất nhiều khó khăn trong quá trình huy động vốn, từ đó đóng góp to lớn
trong việc phát triển DNV&N ở Đức.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Từ việc phân tích các biện pháp hỗ trợ vốn tín dụng đối với các
DNV&N của một số nớc trên thế giới, trong đó có Nhật bản một nớc láng giềng
của ta đã có những chính sách khuyến khích phát triển DNV&N rất hiệu quả.
Thực tế đã chứng minh sự thành công của các chính sách hỗ trợ này. Vì vậy, đây
có thể là những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo và vận dụng.
Tuy nhiên, quy mô của nền kinh tế cũng nh của các DNV&N ở Việt Nam
còn nhỏ bé hơn nhiều so với các nớc trên. Hơn nữa, Việt Nam lấy kinh tế Nhà nớc
làm vai trò chủ đạo, các DNNN còn đợc hởng đặc quyền so với các doanh ngiệp
8
ngoài quốc doanh mà chủ yếu là DNV&N. Do đó, khi thực hiện những chính sách
hỗ trợ nói chung cũng nh chính sách hỗ trợ vốn tín dụng noi riêng đối với những
DNV&N, chúng ta cần phải thực hiện sao cho vừa có hiệu quả, vừa tạo ra sự bình
đẳng giữa các loại hinh doanh nghiệp. Chúng ta có thể tổng kết trên các nội dung
sau:
Thứ nhất: Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi tr-
ờng pháp lí ổn định, có những chính sách hỗ trợ cụ thể đối với sự phát triển của
DNV&N. Vì vậy Chính phủ cần sớm xúc tiến thành lập cục phát triển DNV&N để
tạo điều kiện đa ra các chơng trình trợ giúp, điều phối, hớng dẫn tình hình phát
triển DNV&N.
Thứ hai: Về mặt pháp lý, cần đảm bảo thật sự bình đẳng trong quan hệ tín
dụng ngân hàng giữa DNV&N ngoài quốc doanh với doanh nghiệp quốc doanh.
NHNN cần khuyến khích các ngân hàng có u đãi nhất định cho DNV&N vay vốn,
hoặc ít nhất cũng có sự bình đẳng về mặt thủ tục, thời hạn vay, lợng vốn vay các
NHTM nên thành lập những kênh tài chính riêng cho các DNV&N nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận với các hoạt động tín dụng của
ngân hàng.
Thứ ba: Cần nhanh chóng triển khai mô hình Quĩ bảo lãnh tín dụng cho các
DNV&N. Quĩ này là ngời trung gian đắc lực giữa ngân hàng và DNV&N trong
việc thẩm định dự án của doanh nghiệp để kiến nghị cho ngân hàng cho vay. Quĩ
đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay còn thiếu thế chấp và trả nợ thay cho doanh
nghiệp nếu doanh nghiệp cha có khả năng trả nợ. Nguồn vốn của các quĩ có thể do
ngân sách cấp hoặc kết hợp với sự đóng góp của các ngân hàng, các tổ chức tài
chính và cá nhân khác.
Thứ t: NHTM nên mở rộng hình thức tín dụng thuê mua. Đây là biện pháp
tài trợ vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các DNV&N
ở trong tình trạng thiếu vốn rất hiệu quả. Với hình thức tín dụng này NHTM giảm
bớt đợc rủi ro vì tránh đợc tình trạng đóng băng vốn. Tuy nhiên cần phải hoàn
thiện hệ thống văn bản phát huy qui định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên:
ngân hàng và DNV&N.
9
Thứ năm: Thành lập Quỹ hỗ trợ đầu t cho các DNV&N nhằm giúp các
doanh nghiệp này vay vốn trung và dài hạn bằng chính nguồn vốn của Nhà nớc
hoặc kết hợp với các tổ chức, cá nhân khác. Để thực hiện có hiệu quả cần có cơ
chế điều hành quĩ thật rõ ràng, minh bạch, xác định đúng đối tợng hỗ trợ và đa ra
những điều kiện cụ thể, thống nhất kèm theo. Ngoài ra, Chính phủ cần có các biện
pháp nhằm tạo điều kiện về mặt tài chính cho các DNV&N nh trợ cấp vốn không
hoàn lại cho các dự án ở vùng sâu, vùng xa, các lĩnh vực độc hại
Thông qua việc phân tích lý giải những cơ sở lý luận về DNV&N và tín dụng
ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng cũng nh thực tế chứng minh những vai trò
quan trọng của DNV&N trong nền kinh tế thị trờng ta thấy cần thiết phát triển
DNV&N để phát triển nền kinh tế xã hội. Từ những khó khoăn cũng nh những
điều kiện kinh tế - xã hội cho sự phát triển DNV&N ta thấy tầm quan trọng của
nguồn vốn cho sự hình thành phát triển bất cứ một tổ chức kinh tế xã hội nào nói
chung cũng nh DNV&N nói riêng. Để tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp có rất
nhiều nguồn vốn nh vốn tự có, vốn liên doanh liên kết, vốn do Nhà nớc cấp, vốn
cổ phần, vốn vay từ những nguồn không chính thứctrong đó có vốn vay từ các
tài chính tín dụng. Vốn tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với
sự hình thành và phát triển DNV&N ở một số nớc trên thế giới ta rút ra bài hoc
kinh nghiệm cho Việt Nam.
Xuất phát từ những lý luận đó ta soi rọi vào thực tế đầu t tín dụng cho
DNV&N ở nớc ta, để thấy đợc những gì còn tồn tại, tìm ra những nguyên nhân tồn
tại để tìm ra nguyên nhân của tồn tại để từ đó tìm biện pháp khắc phục. Vì đối t-
ợng nghiên cứ của đề tài là hoạt động tín dụng cho DNV&N ở VP Bank ta có thể
cùng nhau phân tích thực trạng của hoạt động này của VP Bank
Chơng 2
Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNV&N
tại VP Bank
10
2.1 Thực trạng DNV&N ở Việt Nam hiện nay
Nh đã nêu ra ở chơng I theo công và số 681/CP - KTN ngày 20/ 6/
1998.Chính phủ đã tạm thời quy định thống nhất việc xác định DNV&N ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dới 5 tỷ đồng
và có số lao động bình quân dới 200 ngời. Trong quá trình thực hiện, các bộ
ngành, địa phơng có thể căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể mà áp dụng
đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động, hoặc một trong hai tiêu chí này. Theo số
liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu t, tính đến cuối năm 1999, tình hình DNV&N theo
tiêu chí trên là (xem bảng 3)
Bảng 3: Tình hình DNV&N Việt Nam
Loại tiêu chí
Doanh nghiệp(số lợng)
DNNN DN quốc doanh
Tổng số
Tỷ lệ
(So với số doanh
nghiệp hiện có)
Vốn dới 5 tỷ
đồng
3670 40100 43770 91%
Lao động dới
200 ngời
5420 41590 46830 97%
Nguồn: báo cáo của bộ Kế hoạch và Đầu t
- Xét về hình thức sở hữu:
Do đờng lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nớc nên
các DNV&N cùng đa hình thức sở hữu đó là sở hữu Nhà nớc , sở hữu tập thể, sở
hữu t nhân,tập chung chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nếu xết theo
tiêu chí về vốn thì DNNN chiếm 64,42% và theo tiêu chí về lao động thì chiếm
91,7% tổng số doanh nghiệp hiện có ( 5718 DN ). Tỷ lệ tơng ứng với DNV&N
ngoài quốc doanh (doanh nghiệp t nhân, các loại công ty cổ phần, hợp tác xã) là
95,4% và 98% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện có (42.415 DN)
- Về lĩnh vực hoạt động: Hầu hết các DNV&N hoạt động trong ngành công
nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm ) thơng mại dịch vụ đòi
hỏi ít vốn, quay vòng vốn nhanh. Đến năm 1998, số lợng DNV&N trong công
nghiệp đạt 5620 DN chiếm 28% trong tổng số các DNV&N ngoài quốc doanh.
11
Các doanh nghiệp này thờng tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam chiếm đến
81% tổng số các DNV&N, các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm có 12,6% tổng số các
DNV&N đang hoạt động ở các vùng ven đô thị và nông thôn.
- Vốn tài chính:
Trong quá trình phát triển DNV&N đang trong giai đoạn khởi đầu, tích luỹ
vốn còn hạn chế và gặp khó khăn rất lớn. Sự thiếu vốn diễn ra trên bình diện rộng.
Bởi vì quy mô vốn tự có của chúng đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ sức tài trợ cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lợng và hiệu quả, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cao thiết bị công
nghệ sản phẩm. Mặt khác thị trờng vốn dài hạn, thị trờng chứng khoán cha phát
triển, điều kiện tham gia khó khăn. Đồng thời khả năng và điều kiện vốn tín dụng
còn hạn chế. Đây là khó khăn lớn nhất mà các DNV&N Việt Nam đang gặp phải
cần tháo gỡ.
- Về thiết bị công nghệ và thị trờng:
Trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc của DNV&N Việt Nam phần
lớn sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ ( có doanh nghiệp sản xuấtt công
nghiệp vẫn phải sử dụng các thiết bị đợc sản xuất từ những năm 1960). Đã hạn chế
rất lớn khả năng cạnh tranh của các DNV&N. Điều nay có nhiều nguyên nhân,
song chủ yếu là nguyên nhân khách quan. Phần lớn các DNV&N đợc thành lập
trong những năm gần đây, tuy mới thành lập nhng do thiếu vốn, thiếu kỹ năng
quản lý cần thiết nên các nhà đầu t cha thể mua sắm đợc trang thiết bị máy móc
hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất ra. Phần lớn máy móc
thiết bị cũ, đợc mua lại từ các doanh nghiệp Nhà nớc bị giải thể, thanh lý để đáp
ứng nhu cầu trớc mắt mà cha có chiến lợc đầu t trung và dài hạn. Gần đây đã có
chuyển biến nhiều doanh nghiệp đã đổi mới thiết bị công nghệ. Mặc dù vậy, công
nghệ thiết bị ở nhiều doanh nghiệp liên doanh có vốn nớc ngoài cũng không sử
dụng thiết bị hoàn toàn mới. Chính vì vậy mà sản phẩm làm ra cha đủ sức cạnh
tranh trên thị trờng quốc tế Gần đây, có một số mặt hàng nh may mặc, đồ uống,
thuỷ hải sản đã có chỗ đứng trên thị trờng quốc tế nhng số lợng còn rất nhỏ.
- Lao động của các DNV&N
12
Khu vực DNV&N vốn đợc xem nh một khu vực thu hút nhiều lao động, góp
phần quan trọng trong giải quyết việc làm, nhất là nớc đông dân sống chủ yếu
bằng nghề nông, d thừa lao động và có thu nhập thấp nh ở nớc ta. Theo thống kê
thì DNV&N thu hút khoảng 90% lực lợng lao động trong nớc. Tuy nhiên về tri
thức, trình độ tay nghề của lực lợng lao động còn hạn chế .
Đội ngũ lao động hiện nay có trong các DNV&N, phần đông có trình độ văn
hoá cấp II (40-45%) , số có trình độ văn hoá phổ thông trung học cũng chiếm một
tỷ trọng khá (20-30%) và số có trình độ tiểu học và cha biết chữ còn chiếm tỷ
trọng khá lớn (25-30%). Song, về trình độ tay nghề, kỹ thuật của ngời lao động
trong các DNV&N hiện nay rất thấp đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động có
tính chất phổ thông, có trình độ tay nghề giản đơn, cha đợc đào tạo, bình quân
chiếm khoảng (60-70%). ở một số vùng nông thôn, số đợc đào tạo nghề chính quy
chỉ chiếm khoảng 10%.
- Đội ngũ quản lý:
Nói đến đội ngũ quản lý của DNV&N là nói đến những kiến thức và năng lực
quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Thực tế đội ngũ các chủ doanh
nghiệp ở nớc ta hiện nay cho thấy, họ có nhiều bất cập với đòi hỏi của kinh doanh
trong thơng trờng hiện đại. Đại đa số các chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ kiến
thức văn hoá phổ thông cấp II (45-50%), một số không nhiều có trình độ văn hoá
phổ thông trung học, cao đẳng và đại học
( 30-35%). Còn một bộ phận đáng kể có trình độ văn hoá cấp tiểu học (10-15%),
thậm chí cá biệt có ngời cha đọc thông viết thạo. Chỉ có rất ít chủ doanh nghiệp
(2-3%) của các DNV&N đợc đào tạo kiến thức quản lý chính quy, một số ít
(20-30%) đợc tập huấn, đào tạo ngắn hạn (dới 6 tháng), còn đại bộ phận chỉ quản
lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm.
- Về nhà xởng, mặt bằng sản xuất- kinh doanh và các kết cấu hạ tầng
khác
Điều kiện mặt bằng cho sản xuất-kinh doanh của các DNV&N nhìn chung
hiện đang rất chật hẹp và gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập và mở rộng mặt
bằng, do cơ chế chính sách cha thích hợp và khả năng tài chính hạn chế của các
13
doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp phải thuê mợn lại mặt bằng của các
DNNN, hoặc phải dùng nhà ở làm nơi sản xuất, kinh doanh, giao dịch, giới thiệu,
bán hàng. Hệ thống điện nớc cung cấp cho các DNV&N nhiều nơi không đảm
bảo. Hệ thống xử lý nớc thải và rác thải của các DNV&N hầu nh không có, gây
tác hại rất lớn tới môi trờng sống.
- Về khả năng tiếp cận thông tin và hệ thống thông tin:
Khả năng tiếp cận thông tin của các DNV&N ở nớc ta hiện rất hạn chế và
gặp nhiều khó khăn do hệ thống thông tin cha đáp ứng đợc những yêu cầu của sản
xuất-kinh doanh, cha nhanh nhạy, kịp thời, chính xác và đầy đủ. Mặt khác, các
DNV&N không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin do nguồn
tài chính hạn hẹp, trình độ thu thập, xử lý thông tin của các chủ doanh nghiệp còn
rất hạn chế.
2.2. Khái quát hoạt động kinh doanh của VP Bank
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thơng mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam, tên quốc tế là Vietnam Joint-stock Commercial Bank for Private Enterprises
viết tắt là VP BANK là một ngân hàng Thơng mại Cổ phần đợc Ngân hàng Nhà n-
ớc cấp giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP có hiệu lực từ ngày 12 tháng 08 năm
1993 trong thời hạn 99 năm. Ngày 04 tháng 09 năm 1993 ngân hàng chính thức đi
vào hoạt động.
Những năm từ 1994 đến 1996 là giai đoạn phát triển năng động của VP
Bank. Trong giai đoạn này VP Bank đã đạt đợc những kết quả khả quan. Tỷ suất
lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt 36% năm trong năm 1995 và 1996; chất lợng tín
dụng đảm bảo và các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, VP
Bank đã gặp phải một số khó khăn nhất định, một phần do hậu quả của cuộc
khủng hoảng kinh tế châu á, tình hình cạnh tranh với các ngân hàng trên cùng
một địa bàn ngày càng gay gắt, một phần do những sai lầm chủ quan từ phía Ngân
hàng. Vì thế thời gian tiếp theo từ 1997 đến 2001 là giai đoạn củng cố và tạo tiền
đề phát triển cho giai đoạn mới. Trong giai đoạn này VP Bank đã nhận đợc sự hỗ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét