Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận
chuyển, bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập, xuất, tồn và quản lý
nguyên vật liệu nhằm cung cấp kịp thời cho sản xuất.
1.2. Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều
loại. Nhằm giúp cho việc quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ và có
hiệu quả, đồng thời hạch toán chi tiết nguyên vật liệu phục vụ cho kế toán
quản trị thì cần phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu. Mỗi doanh nghiệp,
do tính chất, đặc thù sản xuất kinh doanh của mình mà có cách phân loại
nguyên vật liệu thích hợp nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý và yêu cầu quản
trị của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu nhìn chung được phân loại theo các
cách sau:
• Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị doanh nghiệp gồm
- Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động cấu thành nên thực thể của sản
phẩm. Các doanh nghiệp khác nhau thì sử dụng nguyên vật liệu chính không
giống nhau, có thể sản phẩm của doanh nghiệp này là nguyên vật liệu chính
của doanh nghiệp khác, đó là đối với sản phẩm mua ngoài với mục đích để
tiếp tục gia công chế biến.
- Vật liệu phụ: là những nguyên vật liệu khi sử dụng chỉ có tác dụng phụ
có thể làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc là đảm bảo
cho công cụ dụng cụ hoạt động bình thường được, phục vụ cho bao gói sản
phẩm Các loại vật liệu này không cấu thành nên thực thể sản phẩm.
- Nhiên liệu: Là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng
trong quá trình sản xuất kinh doanh gồm xăng, dầu Nhiên liệu có thể tồn tại
ở thể lỏng, rắn hay khí.
- Phụ tùng thay thế: la các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay
thế, sửa chữa những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật tư được sử dụng cho công
việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị
cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để
lắp đặt cho công trình xây dựng cơ bản.
5
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
5
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các
loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như các phế liệu, vật liệu thu
hồi do thanh lý.
• Căn cứ vào nguồn hình thành
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự chế biến gia công
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
- Nguyên vật liệu nhận vốn góp, nhận lại vốn góp, được biếu tặng
• Căn cứ vào mục đích và công dụng của nguyên vật liệu
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh;
- Nguyên vật liệu dùng cho quản lý;
- Nguyên vật liệu dùng cho các mục đích khác.
1.2.2. Đánh giá nguyên vật liệu
1.2.2.1. Mục đích của việc đánh giá nguyên vật liệu
Tổng hợp nguyên vật liệu khác nhau để báo cáo tình hình nhập, xuất, tồn
kho của nguyên vật liệu.
Giúp cho kế toán viên thực hiện chức năng ghi chép bằng tiền các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh.
1.2.2.2. Các nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là biểu hiện bằng tiền của nguyên vật liệu, hàng
hoá theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu chính xác, chân thực
và thống nhất. Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thuộc tài sản lưu động của
doanh nghiệp nên phải đánh giá theo trị giá thực tế của nguyên vật liệu do
mua ngoài hay tự gia công chế biến.
• Nguyên tắc giá gốc
Các loại nguyên vật liệu thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, về
nguyên tắc đánh giá phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho. Theo
chuẩn mực 02- Hàng tồn kho – Ban hành và công bố theo quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính thì hàng
tồn kho của doanh nghiệp được đánh giá theo giá gốc (trị giá vốn thực tế) và
trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải
tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá trị thuần có thể thực hiện
được của nguyên vật liệu là giá ước tính của nguyên vật liệu trong kỳ sản xuất
6
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
6
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn chỉnh sản phẩm và chi
phí ước tính phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm.
Giá gốc nguyên vật liệu được xác định cụ thể cho từng loại nguyên vật
liệu bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí khác có liên quan
đến việc sở hữu các loại nguyên vật liệu đó.
- Chi phí mua nguyên vật liệu bao gồm giá mua, các loại thuế không
được hoàn lại, chi phí vận chuyển bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua
nguyên vật liệu trừ ra các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
mua.
- Chi phí chế biến nguyên vật liệu bao gồm các chi phí có liên quan trực
tiếp đến sản xuất chế biến ra các loại nguyên vật liệu đó. Trường hợp sản xuất
nhiều loại nguyên vật liệu trên một quy trình công nghệ trong cùng một thời
gian mà không thể tách được các chi phí chế biến thì phải phân bổ các chi phí
này theo tiêu chuẩn thích hợp.
- Trường hợp có sản phẩm phụ thì giá trị sản phẩm phụ được tính theo
giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị này được loại trừ khỏi chi phí chế
biến đã tập hợp chung cho sản phẩm chính.
- Các khoản chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và các khoản chi
phí khác phát sinh trên mức bình thường, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp không được tính vào giá gốc nguyên vật liệu.
• Nguyên tắc thận trọng: Bằng cách trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng giảm giá
hàng tồn kho. Trên báo cáo tài chính được thực hiện trên hai chỉ tiêu đó là trị
giá vốn thực tế và dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
• Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá
vật tư phải đảm bảo tính thống nhất, tức là kế toán phải áp dụng phương pháp
đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay đổi
phương pháp đã chọn nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép
trình bày thông tin kế toán trung thực và hợp lý hơn.
• Sự hình thành trị giá vốn thực tế : được phân biệt ở các thời điểm khác
nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Thời điểm mua xác định trị giá vốn thực tế hàng mua.
- Thời điểm nhập kho xác định trị giá vốn thực tế của hàng nhập.
7
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
7
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
- Thời điểm xuất kho xác định trị giá vốn thực tế của hàng xuất.
- Thời điểm tiêu thụ xác định trị giá vốn thực tế của hàng tiêu thụ.
1.2.2.3. Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho và xuất kho.
Giá vốn của nguyên vật liệu có tác dụng to lớn trong việc quản lý
nguyên vật liệu. Nó đươc dùng để hạch toán tình hình nhập, xuất, tồn kho
nguyên vật liệu, tính toán và phân bổ chính xác về vật liệu đã tiêu hao trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời phản ánh chính xác
trị giá vật liệu thực tế hiện có của doanh nghiệp.
* Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho
Nguyên vật liệu nhập kho có thể được đánh giá theo trị giá vốn thực
tế.Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu được xác định theo từng nguồn nhập
• Nhập do mua ngoài : Trị giá vốn thực tế bao gồm: giá mua ghi trên hoá
đơn (cả thuế nhập khẩu – nếu có) cộng với các chi phí mua thực tế. Chi phí
mua thực tế gồm cả chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí phân loại,
bảo hiểm, công tác phí của cán bộ mua hàng, chi phí của bộ phận mua hàng
độc lập và khoản hao hụt tự nhiên trong định mức thuộc quá trình mua
nguyên vật liệu.
+ Nếu nguyên vật liệu mua ngoài dùng cho sản xuất kinh doanh hàng
hoá dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá trị nguyên vật
liệu nhập kho được phản ánh ở tài khoản nguyên vật liệu theo giá mua chưa
có thuế GTGT, số thuế GTGT được khấu trừ phản ánh ở tài khoản thuế GTGT
được khấu trừ.
+ Nếu nguyên vật liệu mua ngoài dùng cho sản xuất kinh doanh hàng
hoá dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không chịu
thuế GTGT hoặc dùng cho hoạt động sự nghiệp, phúc lợi dự án thì giá trị
nguyên vật liệu mua vào được phản ánh trên tài khoản nguyên vật liệu theo
tổng giá thanh toán.
• Nhập do tự sản xuất, gia công chế biến: Trị giá vốn thực tế là giá thành
sản xuất của nguyên vật liệu gia công chế biến.
• Nhập do thuê ngoài gia công chế biến: Trị giá vốn thực tế bao gồm trị giá
gốc của nguyên vật liệu xuất kho thuê ngoài gia công chế biến cộng với chi
phí thuê gia công chế biến cộng với chi phí vận chuyển bốc dỡ khi đem đi và
khi mang về.
8
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
8
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
• Nhập do nhận vốn góp liên doanh, nhận lại vốn góp, biếu tặng, phát hiện
thừa : Trị giá vốn thực tế sẽ là trị giá của hợp đồng giao nhận cộng với chi phí
liên quan tới việc nhận nguyên vật liệu
• Phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất: được đánh giá theo giá trị hợp lý.
* Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho
Nguyên vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm
khác nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó khi xuất kho nguyên vật liệu
tuỳ thuộc vào đắc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện
trang bị kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn các phương pháp
thích hợp để xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho. Theo
chuẩn mực 02 – Hàng tồn kho thì trị giá vốn của nguyên vật liệu xuất kho
được thực hiện theo các phương pháp sau:
• Theo phương pháp đích danh
+ Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng cho những doanh
nghiệp có chủng loại nguyên vật liệu ít, nhận diện được từng loại nguyên vật
liệu. Phương pháp này đòi hỏi phải theo dõi nguyên vật liệu theo từng lô hàng
về cả hiện vật và giá trị.
+ Nội dung: Theo phương pháp này thì khi xuất kho nguyên vật
liệu thuộc lô nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô đó để tính trị giá vốn nguyên
vật liệu xuất kho.
+ Ưu điểm: Trị giá vật tư xuất kho được tính chính xác.
+ Nhược điểm: Phức tạp trong công tác quản lý, chỉ áp dụng đối
với những doanh nghiệp có chủng loại nguyên vật liệu ít, trị giá lớn, nhận
diện được từng lô hàng.
• Theo phương pháp bình quân gia quyền
+ Nội dung: Trị giá vốn thực tế xuất kho được tính căn cứ vào số
lượng vật tư xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền, theo công thức:
Trị giá vốn thực tế của NVL xuất kho
Đơn giá bình quân gia quyền
Số lượng NVL xuất trong kỳ
=
X
9
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
9
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
Đơn giá bình quân được xác định cho từng thứ vật tư có thể là đơn giá
bình quân cố định, đơn giá bình quân trước mỗi lần xuất kho.
Đơn giá bình quân cố định
=
Trị giá của vật liệu tồn đầu kỳ
Trị giá của vật liệu nhập trong kỳ
Số lượng vật liệu tồn đầu kỳ
+
+
Số lượng vật liệu nhập trong kỳ
- Đơn giá bình quân cố định:
+ Ưu điểm: Việc tính toán theo đơn giá bình quân cố định đơn giản
+ Nhược điểm: Trị giá vật liệu xuất kho tính theo phương pháp này không
chính xác bằng phương pháp đích danh, đơn giá tính theo phương pháp này
che đậy sự biến động về giá, cuối kỳ mới có số liệu ghi chép vật liệu xuất
kho.
- Đơn giá bình quân có thể xác định trước mỗi lần xuất kho
Đơn giá bình quân trước mỗi lần xuất kho
=
Trị giá thực tế vật tư tồn kho tại thời điểm xuất kho
Số lượng vật tư tồn kho tại thời điểm xuất kho
10
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
10
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
+ Ưu điểm: Xác định được trị giá vốn kịp thời và xác định hàng ngày
được, chỉ thay đổi khi có lô hàng mới nhập vào.
+ Nhược điểm: Công việc tính toán phức tạp, phù hợp với những doanh
nghiệp đã áp dụng phần mềm kế toán.
• Theo phương pháp nhập trước xuất trước
+ Điều kiện áp dụng: Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo
dõi được đơn giá của từng lần nhập.
+ Nội dung: Phương pháp này giả định nguyên vật liệu nào nhập trước
sẽ được xuất trước, khi xuất kho nguyên vật liệu lấy ở lô nào thì lấy đơn giá
của lô đó để tính. Trị giá của nguyên vật liệu tồn cuối kỳ được tính theo đơn
giá của những lần nhập sau cùng.
+ Ưu điểm: Phương pháp này phản ánh tương đối chính xác giá trị của
nguyên vật liệu xuất dùng và tồn kho cuối kỳ. Khi giá có xu hướng tăng thì áp
dụng phương pháp này sẽ có lãi nhiều hơn khi áp dụng các phương pháp khác
vì giá vốn hàng bán hiện tại được tạo ra từ giá trị nguyên vật liệu nhập kho từ
trước với giá thấp hơn hiện tại.
+ Nhược điểm: Doanh nghiệp phải theo dõi từng nghiệp vụ nhập
kho và doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại vì doanh thu
hiện tại được tạo ra từ chi phí trong quá khứ.
• Theo phương pháp nhập sau xuất trước
+ Điều kiện áp dụng: Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo
dõi được đơn giá của từng lần nhập.
+ Nội dung: Phương pháp này giả định nguyên vật liệu nào nhập sau sẽ
được xuất trước, khi xuất kho nguyên vật liệu thuộc lô nào thì lấy đơn giá
nhập kho của lô đó để tính.
+ Ưu điểm: Phương pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát, doanh
thu và chi phí trong hiện tai có sự phù hợp, khi giá nguyên vật liệu tăng thì giá
vốn sẽ cho cao hơn.
+ Nhược điểm: Phương pháp này bỏ qua luồng nhập, xuất nguyên vật liệu
trong thực tế, giá trị hàng tồn kho được phản ánh thấp hơn giá thực tế nếu có
xu hướng tăng lên và đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ.
• Theo giá hạch toán
11
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
11
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
Đối với các doanh nghiệp mua nguyên vật liệu thường xuyên có sự biến
động về giá cả, khối lượng và chủng loại thì có thể sử dụng giá hạch toán để
đánh giá nguyên vật liệu. Giá hạch toán là giá ổn định do doanh nghiệp tự xây
dựng phục vụ cho công tác hạch toán chi tiết nguyên vật liệu. Giá này không
có tác dụng giao dịch với bên ngoài. Sử dụng giá hạch toán, việc xuất kho
hàng ngày được thực hiện theo giá hạch toán, cuối kỳ kế toán phải tính ra giá
thực tế để ghi sổ kế toán tổng hợp. Để tính được giá thực tế, trước hết phải
tính hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của nguyên vật liệu luân chuyển
trong kỳ theo công thức:
Trị giá thực tế của vật tư nhập kho trong kỳ
Trị giá thực tế của vật tư còn tồn đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán của vật tư còn đầu kỳ
Trị giá hạch toán của vật tư nhập trong kỳ
+
H =
+
+
Sau đó tính giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ theo công thức
Giá trị thực tế của vật tư xuất kho trong kỳ
hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán trong kỳ
Trị giá hạch toán của vật tư xuất trong kỳ
=
X
12
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
12
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
1.3. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
1.3.1. Khái niệm
Là phương pháp kết hợp giữa thủ kho và phòng kế toán trên cùng cơ
sở các chứng từ nhập, xuất kho nhằm đảm bảo theo dõi chặt chẽ số hiện có và
tình hình biến động của từng loại, từng nhóm, từng thứ vật tư về số lượng và
giá trị. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán
chi tiết và vận dụng phương pháp hạch toán chi tiết phù hợp để góp phần tăng
cường quản lý nguyên vật liệu
1.3.2. Chứng từ kế toán sử dụng
+ Phiếu nhập kho – Mẫu 01-VT
+ Phiếu xuất kho – Mẫu 02 - VT
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá- Mẫu 05 - VT
+ Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ- Mẫu 03- VT
+ Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ- Mẫu 04- VT
+ Bảng kê mua hàng – Mẫu 06 -VT
1.3.3. Các phương pháp hạch toán chi tiết
• Phương pháp ghi thẻ song song
+ Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng cho doanh nghiệp
dùng giá mua thực tế để ghi chép kế toán nguyên vật liệu.
+ Ở kho: Mở thẻ kho, thẻ chi tiết cho từng loại, từng thứ vật tư để
ghi chép nghiệp vụ, phản ánh số hiện có và tình hình biến động của
nguyên vật liệu trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu. Cuối
tháng, đối chiếu số liệu hạch toán chi tiết ở phòng kế toán
+ Ở phòng kế toán: Mở thẻ chi tiết cho từng loại hay từng thứ
nguyên vật liệu và theo từng địa điểm bảo quản để ghi chép số hiện có và
sự biến động của từng loại hay từng thứ vật liệu trên cơ sở các chứng từ
nhập, xuất hàng ngày.
Cuối tháng, kế toán lập bảng kê nhập, xuất, tồn kho để đối chiếu số
liệu hạch toán chi tiết với số liệu kế toán tổng hợp trên tài khoản tổng hợp.
+ Trình tự ghi sổ:
13
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
13
Học Viện Tài Chính Chuyên Đề Cuối
Khoá
Sơ đồ 01: Trình tự ghi sổ của phưpưng pháp ghi thẻ song song
Thẻ kho
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Thẻ kế toán chi tiêt
Bảng kê nhâp- xuất- tồn
Sổ kế toán tổng hợp
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu cuối tháng
+ Ưu điểm: Ghi chép đơn giản
+ Nhược điểm: Việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán còn
trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng ghi chép còn nhiều.
• Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
+ Điều kiện áp dụng: Thích hợp với những doanh nghiệp có chủng
loại vật tư ít, không có điều kiện ghi chép, theo dõi hàng ngày về tình hình
nhập, xuất, tồn kho. Phương pháp này ít áp dụng trong thực tế.
+ Ở kho: Thủ kho ghi thẻ kho theo dõi tình hình hiện có và sự biến
động của từng thữ nguyên vật liệu theo chỉ tiêu số lượng và giá trị.
+ Ở phòng kế toán: Căn cứ vào chứng từ nhập, xuất để lập bảng kê
nhập ( xuất) hoặc tổng hợp để ghi lên sổ đối chiếu luân chuyển vào cuối kỳ
theo chỉ tiêu số lượng và giá trị.
+ Trình tự ghi sổ:
14
Sinh viên: Đào Thị Hoa Lớp K
HC
9/21.22
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét