Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Vận dụng thủ tục phân tích với kiểm tốn khoản mục doanh thu trong kiểm tốn báo cáo tài chính tại các khách hàng do công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam thực hiện

Luận văn tốt nghiệp
1.1.2. Phương pháp kiểm tốn báo cáo tài chính và quan hệ với thủ tục
phân tích
Kiểm tốn tài chính là một hoạt động đặc trưng trong hệ thống kiểm
tốn nói chung. Để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm
tốn tài chính cũng sử dụng các phương pháp kiểm tốn chứng từ và kiểm
tốn ngồi chứng từ.
Các phương pháp kiểm tốn chứng từ bao gồm:
• Kiểm tốn các cân đối kế tốn: phương pháp dựa trên các
phương trình kế tốn và các cân đối khác để kiểm tốn các
quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành các quan hệ cân đối
đó.
• Đối chiếu trực tiếp: đối chiếu một chỉ tiêu trên các nguồn
tài liệu khác nhau.
• Đối chiếu logic: nghiên cứu các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu
có quan hệ với nhau.
Các phương pháp kiểm tốn ngồi chứng từ bao gồm:
• Kiểm kê: kiểm tra tại chỗ các đối tượng kiểm tốn.
• Điều tra: dùng các cách khác nhau để tiếp cận và đánh giá
đối tượng kiểm tốn.
• Trắc nghiệm: tái diễn các hoạt động, nghiệp vụ để xác minh
lại kết quả của một quá trình, một sự việc đã qua.
Do mỗi loại kiểm tốn có chức năng cụ thể, đối tượng cụ thể và
khách thể kiểm tốn khác nhau nên trong kiểm tốn tài chính, cách thức
kết hợp các phương pháp cơ bản trên có những nét đặc thù.
Trước hết, xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm tốn,
kiểm tốn tài chính hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng
chứng kiểm tốn. Để có được những bằng chứng này, kiểm tốn tài chính
triển khai các phương pháp cơ bản trên theo từng tình huống cụ thể.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
Trong chuẩn mực kiểm tốn quốc tế 8500 và chuẩn mực kiểm tốn Việt
Nam số 500, những cách thức cụ thể này được gọi là phương pháp thu
thập bằng chứng kiểm tốn. Có thể triển khai các phương pháp kiểm tốn
cơ bản theo hướng kết hợp hoặc chi tiết thành các cách kiểm tốn cụ thể
tùy từng tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm tốn. Theo hướng
chi tiết, các phương pháp điều tra cơ bản vẫn có thể thực hiện thông qua
các cách thức như quan sát, trao đổi hoặc phỏng vấn, gửi thư xác nhận…
Ngược lại, theo hướng tổng hợp, các phương pháp đối chiếu logic, đối
chiếu trực tiếp, cân đối…có thể được thực hiện thông qua các thủ tục
phân tích trong quá trình kiểm tốn.
Thêm vào đó, xét về đối tượng cụ thể của kiểm tốn tài chính là các
báo cáo kế tốn và các bảng tổng hợp tài chính đặc biệt khác. Các bảng
tổng hợp này vừa chứa đựng những mối quan hệ kinh tế rộng rãi tổng
quát, vừa phản ảnh cụ thể tưng loại tài sản, nguồn vốn với những biểu
hiện về kinh tế, pháp lý và được lập ra theo những trình tự xác định với
những chuẩn mực cụ thể trong quan hệ với các nghiệp vụ phát sinh. Do
vậy, kiểm tốn tài chính thường là kiểm tốn liên kết và hình thành càc
loại thử nghiệm (tests) với việc sử dụng liên hồn các phương pháp kiểm
tốn cơ bản để đưa ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp tài chính
này.
Chi phối kĩ thuật kiểm tốn tài chính còn có mối liên hệ nội kiểm và
ngoại kiểm trên quan điểm hiệu quả. Về nguyên tắc, để bày tỏ ý kiến về
các bảng khai tài chính, trong mọi trường hợp, việc xác định mức độ tin
cậy của các số liệu và mức độ tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực phải
được thực hiện trong mọi cuộc kiểm tốn. Trình tự phổ biến để thực hiện
các cuộc kiểm tốn tài chính ngược với trình tự kế tốn. Cụ thể, các trình
tự này có thể khái quát trên bảng sau:
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
Các
bước cơ
bản
Chứng từ
kế tốn
Sổ chi
tiết và số
phụ
Sổ cái
Bảng
tổng
hợp kế
tốn
Trình
tự kế
tốn
1 2 3 4
Trình
tự kiểm
tốn
4 3 2 1
Trong thực tế, trình tự kiểm tốn rất đa dạng cho từng loại khách thể
và từng loại đối tượng kiểm tốn. Tuy nhiên, nguyên tắc chung của mọi
cuộc kiểm tốn tài chính là phải thẩm tra lại thông tin biểu hiện bằng tiền
phản ánh trên các bảng tổng hợp bằng việc kết hợp các phương pháp
kiểm tốn chứng từ và ngồi chứng từ. Cách thức xác định trong việc kết
hợp như trên trong kiểm tốn tài chính gọi là thử nghiệm.
Có hai loại thử nghiệm trong kiểm tốn tài chính:
- Thử nghiệm kiểm sốt
- Thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm kiểm sốt
Thử nghiệm kiểm sốt bao gồm các thủ tục hướng tới việc đánh giá
hiệu quả của việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm sốt nội bộ tại
doanh nghiệp khách hàng. Khi thử nghiệm kiểm sốt hướng tới vấn đề
thiết kế, kiểm tốn viên đánh giá các thủ tục kiểm sốt nội bộ đã được thiết
kế hợp lý để ngăn ngừa hoặc phát hiện những sai phạm trọng yếu chưa.
Hướng tới vấn đề đánh giá hiệu quả thực hiện các thủ tục kiểm sốt nội bộ,
kiểm tốn viên quan tâm xem trong thực tế các thủ tục kiểm sốt đang hoạt
động hiệu quả hay không. Dưới đây là các ví dụ về các thử nghiệm kiểm
sốt:
- Phỏng vấn Ban quản lý, người giám sát và nhân viên.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
- Điều tra các chứng từ, báo cáo và các file dữ liệu điện tử.
- Quan sát việc áp dụng các kiểm sốt cụ thể,
- Thử nghiệm xuyên suốt, liên quan tới lần theo một nghiệp vụ từ
lúc bắt đầu xảy ra cho tới khi kết thúc thông qua sự kết hợp các
thủ tục kiểm tốn Phỏng vấn, Quan sát và Điều tra.
Thử nghiệm cơ bản
Các thử nghiệm cơ bản phát hiện những sai phạm trọng yếu (liên
quan tới số tiền) trong một tài khoản, lớp nghiệp vụ và khoản mục trình
bày trên báo cáo tài chính. Có ba loại thử nghiệm cơ bản: thử nghiệm cơ
bản nghiệp vụ, thủ tục phân tích và thử nghiệm cơ bản số dư tài khoản. Vì
vậy, thủ tục phân tích là một loại thử nghiệm cơ bản.
Thử nghiệm cơ bản nghiệp vụ: Loại thử nghiệm cơ bản này nhằm
phát hiện sai sót hoặc gian lận trong từng lớp nghiệp vụ đơn lẻ. Việc kiểm
tra các lớp nghiệp vụ cơ bản cung cấp cho kiểm tốn viên bằng chứng về
các mục tiêu Tính hiệu lực, Tính trọn vẹn, Tính giá, Chính xác số học và
Hạch tốn đúng kì.
Thủ tục phân tích: là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế
và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp các
phương pháp: đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối… giữa các trị
số của cùng một chỉ tiêu hoặc của các chỉ tiêu có quan hệ với nhau hoặc
của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Tùy đối tượng và yêu cầu kiểm tốn,
các hướng kiểm tốn có thể khác nhau và hình thành ba loại hình phân tích
chủ yếu: đánh giá tính hợp lí, phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất
Thử nghiệm cơ bản số dư tài khoản: các thử nghiệm này tập
trung vào chi tiết các khoản mục tiền cấu thành nên số dư cuối kì của một
tài khoản. Những thử nghiệm quan trọng này xác định liệu có sai phạm
trọng yếu nào trong các tài khoản trình bày trên các báo cáo tài chính.
1.1.3. Vị trí kiểm tốn khoản mục doanh thu trong kiểm tốn tài chính
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
Doanh thu là một loại chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh –
một bộ phận rất quan trọng hợp thành báo cáo tài chính của doanh
nghiệp.
Các tài khoản doanh thu nói chung thuộc loại tài khoản quan trọng
vì:
• Tần số các nghiệp vụ chạy qua tài khoản này cao, điều này
có thể làm cho các tài khoản doanh thu chứa đựng rủi ro cao
hơn.
• Tổng doanh thu của một doanh nghiệp nói chung trọng yếu
với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp (nghĩa là, doanh
thu có thể cao hơn tổng sai sót các tài khoản chủ yếu –
tolerable error).
Ngồi ra, các chỉ tiêu về doanh thu, thu nhập có quan hệ rất chặt chẽ
với các chỉ tiêu phản ảnh trên bảng cân đối kế tốn. Cụ thể, các chỉ tiêu
doanh thu, thu nhập có liên hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu tiền mặt, tiền gửi
ngân hàng, các khoản phải thu, thuế và các khoản phải nộp nhà nước…
Thông qua việc kiểm tra các tài khoản này, kiểm tốn viên có thể phát hiện
ra các sai phạm về các chỉ tiêu phản ánh trên bảng cân đối kế tốn, và
ngược lại.
Việc quản lý doanh thu có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của
một doanh nghiệp. Thêm vào đó, các sai phạm trọng yếu do báo cáo tài
chính gian lận thường dẫn đến một sự khai khống doanh thu (ghi nhận
doanh thu ảo hoặc ghi nhận doanh thu trước kì) hoặc khai giảm doanh thu
(doanh thu được ghi nhận vào kì sau). Do đó, kiểm tốn khoản mục doanh
thu có vai trò rất quan trọng trong kiểm tốn tài chính.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
1.2. Lý luận chung về thủ tục phân tích trong kiểm tốn báo cáo tài
chính
1.2.1. Bản chất và vai trò của thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm tốn quốc tế 520 về thủ tục phân tích (ISA
520), các thủ tục phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính
với, chẳng hạn:
- Thông tin so sánh tương ứng trong các kì trước.
- Dự tốn của doanh nghiệp, chẳng hạn Dự báo, Lập ngân sách,
hoặc Ước tính của kiểm tốn viên (ước tính khấu hao).
- Dữ liệu bình quân ngành, chẳng hạn so sánh tỷ suất doanh thu
trên Phải thu của doanh nghiệp với số liệu bình quân ngành
hoặc với các doanh nghiệp khác có cùng quy mô hoạt động
trong cùng ngành nghề.
Thủ tục phân tích ngồi ra bao gồm sự xem xét các quan hệ sau:
- Quan hệ giữa các thông tin tài chính
- Quan hệ giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài
chính có liên quan, chẳng hạn giữa chi phí lương và tổng số
nhân viên.
- Các phương pháp khác nhau được sử dụng để thực hiện các thủ
tục trên. Các phương pháp đó bao gồm các so sánh đơn giản cho
tới các phân tích phức tạp sử dụng kĩ thuật thống kê tiến bộ. Các
thủ tục phân tích có thể được áp dụng đối với các báo cáo tài
chính hợp nhất, báo cáo tài chính của đơn vị thành viên (chi
nhánh, bộ phận,…) và các khoản mục riêng lẻ của thông tin tài
chính. Sự lựa chọn của kiểm tốn viên về thủ tục phân tích,
phương pháp và mức độ áp dụng tùy thuộc vào phán xét nghề
nghiệp.
Thủ tục phân tích được sử dụng nhằm các mục đích sau:
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
- Hỗ trợ kiểm tốn viên trong việc xác lập tính chất, thời gian, quy
mô của các thủ tục kiểm tốn khác.
- Là thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng các thủ tục phân tích
này hiệu quả hơn thủ tục chi tiết trong việc giảm rủi ro phát
hiện.
- Rà sốt lại tồn bộ các báo cáo tài chính trong giai đoạn sốt xét
cuối cùng của cuộc kiểm tốn.
1.2.2. Nội dung và các loại hình thủ tục phân tích
a) Nội dung của thủ tục phân tích
Một thủ tục phân tích gồm 3 yếu tố: Dự đốn, So sánh, và Đánh giá.
• Dự đốn : bao gồm các bước sau:
- Đưa ra mô hình để dự đốn:
Xác định những biến tài chính và những biến hoạt động có liên quan cũng
như quan hệ giữa hai loại biến này. Việc xác định được mối quan hệ giữa
các biến tài chính và các biến hoạt động có liên quan là rất quan trọng
trong việc xây dựng một mô hình để dự đốn.
Trong một vài trường hợp, việc xác định mối quan hệ giữa các dữ
liệu không phải đơn giản. Nó đòi hỏi một sự sáng tạo, chọn lựa và xây
dựng các giả định của người phân tích.
- Xây dựng một mô hình để kết hợp những thông tin:
Thường khi đã xác định được mối quan hệ giữa các biến, phải cố gắng
biến đổi mối quan hệ đó thành quan hệ số học (một công thức, một mô
hình).
Khi một biến chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, phải đảm bảo đưa
vào mô hình tất cả những nhân tố này hoặc tối thiểu là những ảnh hưởng
quan trọng. Nếu không, kết quả nhận được của thủ tục sẽ thiếu chính xác.
Số liệu thể hiện một sự kết hợp những ảnh hưởng và kết quả của
khá nhiều mối liên hệ và những sự kiện về hoạt động và tài chính. Thủ
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
tục này càng chi tiết thì những mối quan hệ và những sự kiện này càng ít
phức tạp, thủ tục càng có khả năng cung cấp một dự đốn chính xác.
- Dự đốn dựa vào mô hình đã xây dựng
Bổ sung vào mô hình các biến số thu thập được để tìm ra một kết quả dự
đốn theo mô hình đã xây dựng.
• So sánh : bao gồm các bước sau:
- Xác định mức sai lệch cho phép
Việc sử dụng một mô hình để dự đốn chắc chắn sẽ có sai số là do:
o Bản thân các hệ số được sử dụng trong mô hình chưa phản
ảnh đầy đủ thực sự các nhân tố ảnh hưởng.
o Thu thập số liệu thế vào các biến chưa chính xác, nghĩa là
bản thân các số liệu đóng vai trò biến số được thu thập chưa
chính xác. Do đó, trước khi so sánh số liệu dự đốn với số
liệu khách hàng cung cấp, cần xác định mức ngưỡng sai lệch
cho phép. Nếu việc so sánh cho một kết quả vượt quá mức
ngưỡng này, sự chênh lệch được xem là đáng kể và có sự bất
hợp lý trong số liệu khách hàng cung cấp.
- So sánh số liệu dự đốn với số liệu khách hàng cung cấp.
- Trình bày với khách hàng về các chênh lệch và yêu cầu giải
thích.
Qua trình bày với khách hàng về những chênh lệch, khách hàng có thể có
nhiều giải thích mà kiểm tốn viên phải thận trọng trước những lời giải
thích này và tìm ra lời giải thích phù hợp nhất. Để xác định được lời giải
thích phù hợp, kiểm tốn viên cần chứng thực những lời giải thích. Việc
này có thể thực hiện bằng cách phỏng vấn với nhiều hơn một nhân viên
và xem xét đến tính nhất quán của chúng hoặc cũng có thể bằng những
bằng chứng khác mà khách hàng cung cấp như các hợp đồng, biên bản
họp với các bên hữu quan…
• Đánh giá :
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
Bước này đòi hỏi sự linh hoạt của kiểm tốn viên. Đánh giá ở đây
không chỉ đơn thuần dựa trên những so sánh tốn học mà dựa trên những
xét đốn nghề nghiệp của kiểm tốn viên.
Với những giải thích được chấp nhận (nếu có) cho những chênh
lệch (nếu có) mà kết quả cúa sự so sánh:
- Vẫn có những bất hợp lý (những chênh lệch đáng kể), nghĩa là
kiểm tốn viên đã không thu thập được một bằng chứng kiểm tốn
và kiểm tốn viên nên cân nhắc xem liệu có nên tiến hành những
thủ tục thay thế. Trong một vài trường hợp, kiểm tốn viên nên
xem xét khả năng có cần thiết xây dựng lại mô hình dự đốn và
giảm chênh lệch. Nếu vẫn không thể giải thích được những
chênh lệch này, kiểm tốn viên sẽ đưa chênh lệch này vào Bảng
tóm tắt những chênh lệch chưa điều chỉnh.
- Đã ở mức độ hợp lý: tùy mức độ trọng yếu của khoản mục để
quyết định xem có nên:
o Chấp nhận như một bằng chứng kiểm tốn.
o Thận trọng hơn: hồn thiện mô hình dự đốn để có kết
quả so sánh chính xác hơn.
o Thận trọng hơn nữa: tiến hành các thủ tục kiểm tra
chitiết.
b) Các loại hình thủ tục phân tích
Có 3 loại thủ tục phân tích chính: phân tích xu hướng, phân tích dự
báo và phân tích tỷ suất.
• Phân tích xu hướng:
Là xem xét những thay đổi ở số dư tài khoản, một khoản mục hay
một nhân tố nhất định theo trình tự thời gian (năm hoặc tháng).
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
Luận văn tốt nghiệp
Việc đánh giá một xu hướng có bất thường hay không được đặt
trong mối quan hệ với các thông tin khác như tính chu kì, tính thời vụ,
tác nhân ảnh hưởng bất thường…
Khi phân tích xu hướng, kiểm tốn viên cần luôn nhận thức được
rằng những xu hướng trước kia có thể không liên quan đến xu hướng
hiện tại và trong thực tế chúng có thể làm kiểm tốn viên mắc sai sót.
Phân tích xu hướng chỉ được xem xét khi kiểm tốn viên đánh giá rằng
những xu hướng trước kia thực sự có liên quan tới hiện tại.
Các kĩ thuật được sử dụng trong phân tích xu hướng:
- Đồ thị: số liệu được đưa ra trên đồ thị giúp kiểm tốn viên có thể
đánh giá đúng về xu hướng diễn ra trong thời gian trước. Khi
kết hợp các thông tin hiện tại và phác họa trên đồ thị, kiểm tốn
viên có được dự đốn về chiều hướng phát triển của đối tượng
phân tích và sau đó so sánh dự đốn này với thực tế.
- Các tính tốn đơn giản: dựa vào các xu hướng trong quá khứ,
kiểm tốn viên áp dụng để dự đốn cho hiện tại. Kĩ thuật này áp
dụng cho trường hợp không có những tác động đáng kể với đối
tượng phân tích.
- Các tính tốn phức tạp: được sử dụng trong trường hợp xu hướng
biến động phức tạp. Việc đưa ra các phép tính phức tạp nhằm
loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố phụ.
• Phân tích tỷ suất
Là sự so sánh giữa các thương số cũng được tính ra trên cơ sở của
2 chỉ tiêu có liên quan. Khái niệm “tỷ suất” ở đây được hiểu theo nghĩa
rộng, bao gồm cả tỷ lệ %, hệ số (số lần), mức bình quân của một loại
nghiệp vụ so với một số dư xác định. Cụ thể, trong kiểm tốn, tỷ suất
thường được sử dụng trong những trường hợp sau đây:
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét